Tổng quan nghiên cứu
Quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa nông nghiệp đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tại khu vực nông thôn. Theo số liệu thống kê năm 2009, tỉnh Ninh Bình có quy mô dân số đạt 901.686 người, trong đó dân số khu vực nông thôn chiếm tỷ trọng áp đảo với 731.834 người, tương đương hơn 81% tổng dân số toàn tỉnh. Lực lượng trong độ tuổi lao động tăng nhanh từ 502.863 người năm 2001 lên 562.110 người năm 2010, mở ra thời kỳ cơ cấu dân số vàng với nguồn nhân lực trẻ dồi dào. Tuy nhiên, thực trạng đào tạo nghề tại địa phương còn bộc lộ nhiều điểm nghẽn lớn: tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề chỉ đạt 28%, mạng lưới cơ sở dạy nghề phân bố không đồng đều và chất lượng đào tạo chưa đáp ứng sát nhu cầu thị trường.
Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là làm rõ cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng và xác định vai trò quản lý nhà nước đối với hoạt động dạy nghề cho lao động nông thôn tại tỉnh Ninh Bình. Mục tiêu cụ thể bao gồm việc hệ thống hóa các luận cứ khoa học về giáo dục nghề nghiệp nông thôn, khảo sát toàn diện mạng lưới cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên, chương trình đào tạo và phân tích cơ cấu lao động giai đoạn 2008 - 2012. Không gian nghiên cứu tập trung tại địa bàn tỉnh Ninh Bình, bao gồm 8 đơn vị hành chính cấp huyện, thành phố, thị xã, dựa trên chuỗi dữ liệu kinh tế - xã hội từ năm 2001 đến năm 2012.
Ý nghĩa của nghiên cứu thể hiện qua việc cung cấp luận cứ thực tiễn để chính quyền địa phương hoàn thiện cơ chế quản lý, thúc đẩy mục tiêu chuyển dịch cơ cấu lao động nông nghiệp từ mức 48,54% năm 2010 xuống dưới 40% trong các giai đoạn tiếp theo, đồng thời nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo toàn tỉnh lên trên 50%, đóng góp trực tiếp vào chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Luận văn vận dụng lý thuyết tái sản xuất sức lao động trong Kinh tế chính trị Mác - Lênin kết hợp với lý thuyết vốn nhân lực để làm sáng tỏ bản chất của việc đào tạo nghề. Tái sản xuất sức lao động không chỉ dừng lại ở việc duy trì thể lực mà còn đòi hỏi sự bồi dưỡng kỹ năng, năng lực chuyên môn và tác phong công nghiệp cho người lao động. Bên cạnh đó, mô hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế hai khu vực của Arthur Lewis được sử dụng nhằm giải thích tính tất yếu của việc dịch chuyển dòng lao động dư thừa từ khu vực nông nghiệp năng suất thấp sang khu vực công nghiệp và dịch vụ có giá trị gia tăng cao hơn.
Bốn khái niệm then chốt được chuẩn hóa trong nghiên cứu gồm:
- Lao động nông thôn: Bộ phận dân số trong độ tuổi lao động (nam từ 16 đến 60 tuổi, nữ từ 16 đến 55 tuổi) cư trú và làm việc tại khu vực nông thôn, có khả năng lao động và nhu cầu việc làm.
- Dạy nghề cho lao động nông thôn: Quá trình truyền thụ kiến thức lý thuyết và rèn luyện kỹ năng thực hành nhằm trang bị năng lực nghề nghiệp đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật của nền sản xuất.
- Mạng lưới cơ sở dạy nghề: Hệ thống các trường cao đẳng nghề, trung cấp nghề, trung tâm dạy nghề cấp huyện và các cơ sở liên kết đào tạo phân bố theo địa bàn lãnh thổ.
- Quản lý nhà nước về dạy nghề: Sự tác động có tổ chức, bằng pháp luật, chính sách, quy hoạch và ngân sách của các cơ quan công quyền nhằm định hướng, điều tiết và nâng cao hiệu quả đào tạo nghề.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp toàn diện từ Cục Thống kê tỉnh Ninh Bình, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trong giai đoạn 2001 - 2012, bao quát quy mô toàn bộ 514,4 nghìn lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế của tỉnh. Phương pháp chọn mẫu điển hình được triển khai trên 8 huyện, thành phố, kết hợp chọn mẫu phân tầng theo các nhóm ngành nghề nông nghiệp và phi nông nghiệp.
Phương pháp định lượng thống kê mô tả, phân tích chuỗi thời gian và so sánh tỷ trọng cơ cấu được lựa chọn vì tính chính xác cao, cho phép đo lường trực quan sự biến động của lực lượng lao động qua các mốc thời gian 2001, 2005 và 2010. Để bổ trợ cho dữ liệu định lượng, tác giả thực hiện phỏng vấn sâu đối với 20 chuyên gia quản lý dạy nghề, cán bộ khuyến công, khuyến nông và tiến hành nghiên cứu điển hình tại 2 mô hình đào tạo nghề hiệu quả trên địa bàn tỉnh. Timeline nghiên cứu được thực hiện xuyên suốt từ việc thu thập tư liệu, xử lý thống kê đến tổng hợp đánh giá thực trạng trong giai đoạn 2008 - 2012.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Thứ nhất, Ninh Bình sở hữu nguồn nhân lực dồi dào bước vào thời kỳ dân số vàng nhưng phân bố mật độ không đồng đều. Tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động tăng từ 56,58% năm 2001 lên 62,41% năm 2010, tương đương 562.110 người. Trung bình mỗi năm có khoảng 9.000 người bước vào độ tuổi lao động. Mật độ dân cư có sự chênh lệch lớn khi thành phố Ninh Bình tập trung 2.362 người/km2, huyện đồng bằng Yên Khánh đạt 975 người/km2, trong khi huyện miền núi Nho Quan chỉ đạt 314 người/km2, gây khó khăn cho việc bố trí mạng lưới trường lớp dạy nghề tập trung.
Thứ hai, cơ cấu lao động chuyển dịch theo hướng tích cực nhưng khu vực nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng chi phối. Đến năm 2010, trong tổng số 514,4 nghìn lao động đang làm việc, ngành nông - lâm - thủy sản chiếm 48,54% (249,7 nghìn người), ngành công nghiệp - xây dựng chiếm 31,4% (161,5 nghìn người) và ngành dịch vụ chiếm 20,06% (103,2 nghìn người). Dù giá trị sản xuất công nghiệp tăng trưởng trên 20%/năm, áp lực chuyển đổi nghề cho gần 50% lao động thuần nông vẫn là bài toán nan giải.
Thứ ba, trình độ học vấn phổ thông tăng nhanh nhưng trình độ kỹ năng chuyên môn kỹ thuật còn nhiều hạn chế. Tỷ lệ lao động có trình độ học vấn trung học cơ sở và trung học phổ thông tăng mạnh từ 47,43% năm 2001 lên 70,82% năm 2010. Tuy nhiên, vẫn còn 29,18% lao động có trình độ từ tiểu học trở xuống. Tỷ lệ lao động qua đào tạo chung của tỉnh năm 2010 đạt 40% (xấp xỉ mức bình quân cả nước là 41%), nhưng tỷ lệ đào tạo nghề chỉ đạt 28%. Trong cơ cấu lao động kỹ thuật, công nhân kỹ thuật không bằng chiếm 20,2%, bậc cao đẳng trở lên đạt 10,75% và trung cấp chỉ chiếm 6,79%.
Thứ tư, công tác dạy nghề chưa gắn kết chặt chẽ với nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp. Mặc dù giai đoạn 2002 - 2003 tỉnh đã đào tạo và truyền nghề cho 58.000 người, tạo việc làm cho 38.625 lượt người, song nhiều ngành nghề mở ra còn mang tính phong trào. Một bộ phận lớn người học sau tốt nghiệp không tìm được việc làm đúng chuyên môn hoặc thu nhập thấp do thiếu thị trường tiêu thụ sản phẩm.
Thảo luận kết quả
Nguyên nhân của những hạn chế trên xuất phát từ sự đầu tư cơ sở vật chất cho các trung tâm dạy nghề cấp huyện còn phân tán, thiếu đồng bộ; trang thiết bị thực hành lạc hậu so với dây chuyền sản xuất công nghiệp hiện đại. Đội ngũ giáo viên dạy nghề vừa thiếu về số lượng vừa yếu về kỹ năng thực hành và kinh nghiệm sản xuất thực tế. Thêm vào đó, nguồn ngân sách địa phương dành cho dạy nghề còn khiêm tốn, công tác điều tra nhu cầu học nghề chưa đi sâu vào từng nhóm đối tượng cụ thể.
Khi so sánh với tỉnh Nam Định, địa phương này đã triển khai đào tạo cho 18.919 lao động với kinh phí 38,57 tỷ đồng trong 5 năm, đạt tỷ lệ có việc làm trên 85% nhờ cơ chế ký hợp đồng đầu ra rõ ràng với doanh nghiệp, Ninh Bình cho thấy sự lúng túng hơn trong việc xây dựng chuỗi liên kết đào tạo - sử dụng lao động. Dữ liệu nghiên cứu phản ánh sinh động rằng, nếu trực quan hóa bằng bảng thống kê cơ cấu học vấn và biểu đồ cột so sánh tỷ trọng 3 khu vực kinh tế qua các năm 2001, 2005, 2010, người xem sẽ nhận thấy khoảng cách lớn giữa tốc độ tăng trưởng kinh tế và chất lượng thực tế của vốn nhân lực nông thôn.
Đề xuất và khuyến nghị
Thứ nhất, đổi mới công tác khảo sát và dự báo nhu cầu học nghề. Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố cần chủ trì phối hợp với các hội đoàn thể thực hiện điều tra phân loại chi tiết từng nhóm lao động theo độ tuổi, trình độ và nguyện vọng nghề nghiệp. Mục tiêu giai đoạn 2015 - 2020 là 100% các lớp dạy nghề được mở phải dựa trên đơn đặt hàng tuyển dụng của doanh nghiệp hoặc quy hoạch vùng sản xuất hàng hóa tập trung, xóa bỏ hoàn toàn tình trạng đào tạo theo chỉ tiêu hành chính thuần túy.
Thứ hai, hiện đại hóa cơ sở vật chất và quy hoạch lại mạng lưới cơ sở dạy nghề. Sở Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp với Sở Kế hoạch và Đầu tư bố trí nguồn vốn trung hạn nâng cấp xưởng thực hành cho các trung tâm dạy nghề cấp huyện, ưu tiên đầu tư máy móc đồng bộ cho các cụm công nghiệp trọng điểm như Gián Khẩu, Tam Điệp, Ninh Phúc. Tỷ lệ thời lượng học thực hành trong các chương trình sơ cấp nghề phải được nâng lên tối thiểu 70% tổng thời gian khóa học.
Thứ ba, chuẩn hóa và nâng cao năng lực đội ngũ giảng viên dạy nghề. Sở Lao động - Thương binh và Xã hội xây dựng đề án bồi dưỡng kỹ năng nghề và nghiệp vụ sư phạm kỹ thuật cho 100% giáo viên cơ hữu tại các trung tâm; ban hành cơ chế tuyển dụng nghệ nhân làng nghề, thợ bậc cao tại các doanh nghiệp tham gia giảng dạy thực hành. Đồng thời, tỉnh cần ban hành chính sách đãi ngộ thỏa đáng nhằm thu hút chuyên gia kỹ thuật có tay nghề cao về làm việc tại địa phương.
Thứ tư, thiết lập cơ chế gắn kết ba bên giữa Nhà nước, Cơ sở đào tạo và Doanh nghiệp. Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh Ninh Bình phối hợp với các trường nghề ký kết thỏa thuận bao tiêu việc làm cho học viên sau tốt nghiệp, phấn đấu đạt tỷ lệ trên 85% lao động có việc làm ổn định với mức thu nhập từ 3 đến 5 triệu đồng/tháng. Chính quyền tỉnh cần ban hành chính sách miễn giảm thuế, ưu đãi tiếp cận mặt bằng cho các doanh nghiệp trực tiếp tham gia đào tạo và tiếp nhận lao động nông thôn sau học nghề.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Luận văn là nguồn tài liệu học thuật và thực tiễn giá trị cho 4 nhóm đối tượng chính:
Nhóm cán bộ quản lý nhà nước và hoạch định chính sách tại Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Ủy ban nhân dân các cấp: Cung cấp khung phương pháp luận và số liệu thực chứng để xây dựng quy hoạch phát triển nhân lực, phân bổ ngân sách đào tạo nghề và ban hành các chính sách an sinh xã hội địa phương.
Nhóm ban giám hiệu, cán bộ quản lý và giáo viên tại các trường cao đẳng nghề, trung cấp nghề, trung tâm giáo dục nghề nghiệp: Sử dụng kết quả nghiên cứu để cải tiến chương trình đào tạo, tái cấu trúc danh mục ngành nghề đào tạo sơ cấp dưới 3 tháng và nâng cao chất lượng biên soạn giáo trình thực hành.
Nhóm doanh nghiệp, hợp tác xã và các hiệp hội làng nghề truyền thống: Nắm bắt bức tranh tổng quan về nguồn cung lao động, từ đó chủ động phối hợp với cơ sở đào tạo trong việc đặt hàng nhân lực kỹ thuật, tối ưu hóa chi phí tuyển dụng và đào tạo lại.
Nhóm học viên cao học, nghiên cứu sinh và giảng viên chuyên ngành Kinh tế chính trị, Kinh tế phát triển, Quản lý kinh tế: Cung cấp tài liệu tham khảo chuyên sâu về mô hình phân tích chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn và phương pháp nghiên cứu thực chứng tại vùng đồng bằng sông Hồng.
Câu hỏi thường gặp
Thực trạng trình độ chuyên môn kỹ thuật của lao động nông thôn Ninh Bình trong giai đoạn nghiên cứu ra sao?
Theo số liệu năm 2010, tỷ lệ lao động qua đào tạo chung của tỉnh đạt 40%, trong đó đào tạo nghề đạt 28%. Mặc dù trình độ học vấn phổ thông cải thiện nhanh chóng với 70,82% tốt nghiệp trung học cơ sở và trung học phổ thông, nguồn nhân lực kỹ thuật bậc cao vẫn thiếu hụt nghiêm trọng, công nhân kỹ thuật không bằng chiếm tới 20,2% tổng lực lượng lao động.
Đề án 1956 của Chính phủ đóng vai trò như thế nào đối với công tác dạy nghề tại Ninh Bình?
Quyết định 1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009 tạo cơ sở pháp lý và nguồn lực tài chính quan trọng để Ninh Bình quy hoạch lại mạng lưới dạy nghề, hỗ trợ kinh phí học nghề cho lao động nông thôn, người nghèo và đối tượng chính sách, đồng thời đặt ra mục tiêu chuẩn hóa cơ sở vật chất và giáo trình đào tạo đến năm 2020.
Cơ cấu lao động của tỉnh Ninh Bình có sự chuyển dịch như thế nào giữa các ngành kinh tế?
Trong giai đoạn 2001 - 2010, cơ cấu lao động chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng nông nghiệp và tăng công nghiệp, dịch vụ. Đến năm 2010, tỷ trọng lao động nông - lâm - thủy sản giảm còn 48,54% (249,7 nghìn người), công nghiệp - xây dựng tăng lên 31,4% (161,5 nghìn người) và ngành dịch vụ chiếm 20,06% (103,2 nghìn người).
Bài học kinh nghiệm từ các tỉnh lân cận như Nam Định và Hà Nam có thể áp dụng cho Ninh Bình là gì?
Kinh nghiệm từ Nam Định cho thấy việc chỉ mở lớp khi dự báo được việc làm và gắn kết chặt chẽ với doanh nghiệp giúp đạt tỷ lệ việc làm sau học nghề trên 85%. Tỉnh Hà Nam khẳng định vai trò của trung tâm khuyến công trong việc đào tạo nghề may công nghiệp gắn liền với nhu cầu tuyển dụng của các nhà máy trên địa bàn.
Giải pháp then chốt nào giúp nâng cao tỷ lệ có việc làm cho người nông dân sau khi học nghề?
Giải pháp đột phá là chuyển mạnh từ đào tạo theo năng lực sẵn có sang đào tạo theo đơn đặt hàng của doanh nghiệp và nhu cầu thị trường. Cần gắn kết chặt chẽ giữa dạy nghề với quy hoạch phát triển cụm công nghiệp, vùng chuyên canh và hỗ trợ vốn vay ưu đãi để người lao động tự tạo việc làm.
Kết luận
- Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận Kinh tế chính trị về phát triển vốn nhân lực và khẳng định vai trò quản lý không thể thiếu của Nhà nước trong hoạt động dạy nghề cho lao động nông thôn.
- Phân tích bức tranh thực trạng nguồn nhân lực Ninh Bình giai đoạn 2001 - 2012, chỉ ra mâu thuẫn giữa quy mô dân số vàng (562.110 lao động) với chất lượng tay nghề khi tỷ lệ đào tạo nghề mới đạt 28%.
- Đánh giá sâu sắc nguyên nhân hạn chế của mạng lưới dạy nghề cấp huyện về cơ sở vật chất, năng lực đội ngũ giáo viên và sự thiếu vắng liên kết đầu ra với các doanh nghiệp công nghiệp, dịch vụ.
- Đúc kết bài học thực tiễn từ các tỉnh đồng bằng sông Hồng, làm cơ sở xây dựng hệ thống 4 nhóm giải pháp đột phá gắn đào tạo với nhu cầu thị trường lao động.
- Đề xuất khung chính sách toàn diện cho giai đoạn 2015 - 2020 nhằm nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo lên trên 50% và bảo đảm tỷ lệ có việc làm sau học nghề đạt trên 85%.
Đóng góp khoa học cốt lõi của công trình là cung cấp cơ sở dữ liệu thực nghiệm và hệ thống giải pháp khả thi giúp tỉnh Ninh Bình chuyển dịch thành công cơ cấu lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp. Các cấp chính quyền, cơ sở giáo dục nghề nghiệp và cộng đồng doanh nghiệp cần nhanh chóng phối hợp hành động, triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm nâng cao năng suất lao động và thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương bền vững.