Chương 1: Dạy nghề cho lao động nông thôn: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm của một số địa phương. Chương 2: Tình hình dạy nghề cho lao động nông thôn ở tỉnh Ninh Bình. Chương 3: Quan điểm và giải pháp đẩy mạnh hoạt động dạy nghề cho lao động nông thôn ở Ninh Bình trong thời gian tới. 12 CHƢƠNG 1: DẠY NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ ĐỊA PHƢƠNG 1.1 Khái luận về dạy nghề cho lao động nông thôn 1.1 Lao động nông thôn - Khái niệm: Lao động là hoạt động có mục đích của con người nhằm biến đổi các vật chất tự nhiên thành của cải vật chất cần thiết cho đời sống của mình.
Nguồn lao động là toàn bộ những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động (theo quy định của Nhà nước: nam trong độ tuổi từ 16-60; nữ trong độ tuổi từ 16-55) Lao động nông thôn là một bộ phận dân số sinh sống và làm việc ở nông thôn trong độ tuổi lao động theo quy định của pháp luật (nam từ 16 đến 60 tuổi, nữ từ 16 đến 55 tuổi) có khả năng lao động, đang có việc làm và những người thất nghiệp đang có nhu cầu tìm việc làm. - Đặc điểm Lao động nông thôn theo tính chất mùa vụ Trình độ người lao động thấp Người tham gia lao động ở nông thôn không chỉ có những người trong độ tuổi lao động mà còn có cả những người dưới và trên độ tuổi lao động.2 Dạy nghề cho lao động nông thôn - Khái niệm: Dạy nghề là thuật ngữ trong nhóm các vấn đề nâng cao chất lượng nguồn lao động. Thuật ngữ này được hiểu theo các phạm vi khác nhau. Theo từ điển Bách khoa toàn thư, “đào tạo đề cập đến việc dạy các kỹ năng thực hành, nghề nghiệp hay kiến thức liên quan đến một lĩnh vực cụ thể, để người học lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kỹ năng, nghề nghiệp một cách có hệ thống để chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng đảm nhận được một công việc nhất định”.
13 Có nhiều dạng đào tạo, tùy theo tiêu chí xem xét có thể phân thành các loại hình đào tạo: Đào tạo cơ bản và đào tạo chuyên sâu; đào tạo chuyên môn và dạy nghề; đào tạo ban đầu và đào tạo lại; đào tạo tập trung và đào tạo tại chức, đào tạo từ xa; đào tạo qua trường lớp và tự đào tạo…Như vậy, dạy nghề là một trong các dạng đào tạo nâng cao chất lượng nguồn lao động. Dạy nghề bao gồm hai quá trình có quan hệ hữu cơ với nhau, không thể tách rời nhau. Đó là: dạy nghề và học nghề. Vì vậy, trong nhiều trường hợp dạy nghề và học nghề được đồng nhất với nhau trong diễn đạt của các văn bản.
Dạy nghề, theo Luật Giáo dục (sửa đổi) năm 2005: “Dạy nghề là một cấp học trong giáo dục nghề nghiệp và được thực hiện dưới một năm đối với dạy nghề trình độ sơ cấp, từ một đến ba năm đối với dạy nghề trình độ trung cấp, trình độ cao đẳng”; Luật Dạy nghề năm 2006 xác định: “Dạy nghề là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học”. Để hiểu rõ hơn khái niệm dạy nghề, ta cần hiểu thêm về khái niệm nghề. Cho đến nay thuật ngữ “nghề” được hiểu và định nghĩa theo nhiều cách khác nhau. Các nhà khoa học ở Nga đưa ra khái niệm: “Nghề là một loại hoạt động lao động đòi hỏi có sự đào tạo nhất định và thường là nguồn gốc của sự sinh tồn”[9, tr 9].
Ở Pháp, khái niệm nghề được hiểu rõ, đó “là một loại lao động có thói quen về kỹ năng, kỹ xảo của một người để từ đó tìm được phương tiện sống”[9, tr 9]. Ở Anh, khái niệm nghề được quan niệm cao hơn khi cho rằng, nghề “là công việc chuyên môn đòi hỏi một sự đào tạo trong khoa học nghệ thuật” [9, tr 9]. Trong khi đó, người Đức lại quan niệm, “nghề là hoạt động cần thiết cho xã hội ở một lĩnh vực lao động nhất định đòi hỏi phải được đào tạo ở trình độ nào đó”[9, tr 9]. Ở Việt Nam, nhiều định nghĩa “nghề” được đưa ra song chưa được thống nhất.
Nghề được quan niệm “là một tập hợp lao động do sự phân công lao động xã hội quy định mà giá trị của nó trao đổi được. Nghề mang tính tương đối, nó phát sinh, phát triển hay mất đi do trình độ của nền sản xuất và nhu cầu 14 xã hội”[2, tr 15]. Quan niệm cho rằng, những chuyên môn có đặc điểm chung, gần giống nhau được xếp thành một nhóm chuyên môn và được gọi là nghề. Nghề là tập hợp của một nhóm chuyên môn cùng loại, gần giống nhau.
Mặc dù các khái niệm “nghề” được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau song chúng ta có thể nhận thấy một số nét đặc trưng sau: Thứ nhất, nghề là hoạt động, là công việc về lao động của con người được lặp đi lặp lại. Thứ hai, nghề được hình thành do sự phân công lao động xã hội, phù hợp với yêu cầu xã hội và là phương tiện để sinh sống. Thứ ba, nghề là lao động kỹ năng, kỹ xảo chuyên biệt có giá trị trao đổi trong xã hội, đòi hỏi phải có một quá trình đào tạo nhất định. Vì vậy, dạy nghề là yêu cầu tất yếu bắt nguồn từ chính bản chất, đặc trưng của nó.
Sự khác nhau giữa khái niệm dạy nghề và dạy nghề cho lao động nông thôn là ở đối tượng của dạy nghề - những người lao động nông thôn và những điều kiện gắn với quá trình dạy nghề đó. Từ sự phân tích những điểm khác biệt trên có thể đưa ra khái niệm dạy nghề cho lao động nông thôn như sau: “Dạy nghề cho lao động nông thôn là quá trình kết hợp giữa dạy nghề và học nghề, đó là quá trình giảng viên truyền bá những kiến thức về lý thuyết và thực hành để những người lao động nông thôn có được một trình độ, kỹ năng, kỹ xảo, sự khéo léo, thành thục nhất định về nghề nghiệp đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội nông thôn” [3, tr 33].3 Tổ chức dạy nghề cho lao động nông thôn Dạy nghề cho lao động nông thôn đòi hỏi phải trang bị cho người học có được những kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết. Điều này bao gồm đào tạo tay nghề và những kiến thức tổng hợp. Vì vậy, dạy nghề theo nghĩa rộng bao hàm cả đào tạo văn hóa (làm nền tảng cho dạy nghề); dạy nghề nghiệp (nội dung chính là đào tạo chuyên môn theo từng nghề nghiệp của người lao động, hoạt động chính của người lao động ở chuyên môn này); đào tạo kiến thức về kinh tế thị trường, pháp luật, tổ chức cuộc sống.Tuy 15 nhiên, dù theo nghĩa rộng hay nghĩa hẹp, tổ chức dạy nghề cho lao động nông thôn cũng bao gồm những nội dung chủ yếu sau: - Xác định nhu cầu dạy nghề của lao động nông thôn Nhu cầu dạy nghề là cơ sở quan trọng để hệ thống dạy nghề chuẩn bị các điều kiện dạy nghề như xây dựng hệ thống cơ sở đào tạo, chuẩn bị các điều kiện vật chất, đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên tương ứng.
Tuy nhiên, khi xác định nhu cầu dạy nghề, cần xem xét đối tượng của hoạt động dạy nghề, những người học nghề với nhu cầu học nghề thực sự của họ và các điều kiện của chính họ để có thể tham gia vào quá trình dạy nghề. Nông dân là những người có điều kiện sống khó khăn nên kinh phí học nghề dưới dạng học phí thường sử dụng ngân sách Nhà nước hoặc qua các chương trình hỗ trợ. Thậm chí, một số đối tượng như người nghèo, người dân tộc thiểu số, các đối tượng chính sách khác còn phải hỗ trợ kinh phí cho người học mới thì mới tổ chức được dạy nghề. Vì vậy, xã hội hóa dạy nghề nhằm giảm bớt gánh nặng về kinh phí cho nhà nước mới hy vọng nâng cao trình độ nghề cho lao động ở nông thôn - khu vực có số lượng người cần dạy nghề rất lớn.
- Xây dựng hệ thống mạng lưới dạy nghề Hệ thống cơ sở dạy nghề ở mỗi quốc gia, mỗi vùng, địa phương và các cơ sở sản xuất kinh doanh rất đa dạng. Đó là hệ thống các trường nghề, bao gồm các trường cao đẳng nghề, trường trung cấp nghề và các trung tâm dạy nghề. Đó cũng có thể là các tổ chức khuyến nông, lâm, ngư,. làm nhiệm vụ chung là khuyến khích các hoạt động gắn với các ngành phát triển, trong đó có các hoạt động chuyển giao tiến bộ công nghệ và dạy nghề gắn với quá trình chuyển giao đó.
Đó cũng có thể là các tổ chức hội nghề, như hội nuôi ong, hội làm vườn, hội sinh vật cảnh.cũng có nội dung hoạt động chuyển giao tiến bộ khoa học công nghệ và nâng cao trình độ tay nghề của các hội viên. Đó cũng có thể là các tổ chức chính trị như Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh. Thậm chí, còn là các doanh nghiệp, các gia đình dạy nghề dưới hình thức truyền nghề. Hệ thống dạy nghề cho lao động nông thôn bao gồm tất cả những chủ 16 thể tham gia vào quá trình dạy nghề.
Tuy nhiên, những chủ thể này cần có sự chủ động và tiếp cận trực tiếp đến người học, vì đặc tính lao động nông thôn và những điều kiện cho học nghề của người học có những hạn chế nhất định. Với sự khác biệt này, những tổ chức dạy nghề gần nông thôn, như các trung tâm dạy nghề cấp huyện, các tổ chức khuyến nông, lâm, ngư; các tổ chức chính trị ở nông thôn như Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh. thường phát huy có hiệu quả hơn trong dạy nghề cho lao động nông thôn. Những tổ chức dạy nghề như trường: cao đẳng nghề, trung cấp nghề cũng có vai trò dạy nghề cho lao động nông thôn, nhưng tập trung vào nhóm ngành phi nông nghiệp và mức độ phát huy hạn chế hơn.
- Xây dựng hệ thống cơ sở vật chất phục vụ cho dạy nghề Hệ thống cơ sở vật chất là những điều kiện rất cần thiết cho hoạt động dạy nghề. Dạy nghề là hướng dẫn và rèn luyện kỹ năng cho người lao động, vì vậy dạy nghề cần có hệ thống cơ sở vật chất đồng bộ, nhất là các trang thiết bị phục vụ cho dạy nghề và rèn nghề.