Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về chính sách tạo việc làm cho người lao động nông thôn Chương 2: Thực trạng chính sách tạo việc làm cho người lao động nông thôn trên địa bàn thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện chính sách tạo việc làm cho người lao động nông thôn trên địa bàn thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La 6 CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHÍNH SÁCH TẠO VIỆC LÀM CHO NGƢỜI LAO ĐỘNG NÔNG THÔN 1. Tạo việc làm và sự cần thiết tạo việc làm cho người lao động nông thôn 1. Đặc điểm lao động nông thôn a, Khái niệm về nông thôn: Nhiều quan điểm cho rằng nông thôn là địa bàn mà ở đó dân cư sống chủ yếu bằng nông nghiệp, tuy nhiên như vậy là chưa đầy đủ vì có nhiều vùng dân cư sống chủ yếu bằng tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, thu nhập từ nông nghiệp trở thành thứ yếu, chiếm một tỷ trọng rất thấp trong tổng thu nhập của dân cư. Theo tác giả Triệu Đức Hạnh (2012) đã đưa ra khái niệm về nông thôn như sau: "Nông thôn là vùng khác với thành thị ở chỗ ở đó có một cộng đồng chủ yếu là nông dân sống và làm việc, có mật độ dân cư thấp, cơ cấu hạ tầng kém phát triển hơn, có trình độ tiếp cận thị trường và sản xuất hàng hoá thấp hơn".
Đây là khái niệm dùng nhiều chỉ tiêu để đánh giá giữa nông thôn và thành thị vì vậy nó mang tính toàn diện hơn và được nhiều người chấp nhận hơn. b, Đặc trưng chủ yếu của khu vực nông thôn Với khái niệm về nông thôn như trên, tác giả Tống Văn Chung (2000) đã chỉ ra những đặc trưng chủ yếu của khu vực nông thôn và so sánh với khu vực thành thị theo như sau: Thứ nhất, nông thôn là vùng sản xuất nông nghiệp là chủ yếu, các hoạt động kinh tế chủ yếu nhằm phục vụ cho nông nghiệp và cộng đồng cư dân nông thôn. Phần lớn việc làm của khu vực nông thôn nằm trong khu vực nông nghiệp và thường là những việc làm có chất lượng và năng suất lao động thấp do mức độ ứng dụng khoa học công nghệ vào nông nghiệp của Việt Nam nói chung và thành phố Hà Nội nói riêng chưa cao. Thứ hai, khu vực nông thôn có cơ sở hạ tầng kém phát triển hơn thành thị, trình độ tiếp cận thị trường và sản xuất hàng hoá thấp hơn.
Do đó, số lượng việc làm tạo ra ít hơn và chất lượng việc làm thấp hơn. Thứ ba, khu vực nông thôn bao gồm đa số người lao động có thu nhập trình độ văn hoá, khoa học và công nghệ thấp hơn thành thị. Vì vậy, khó có thể có được những điều kiện việc làm tốt. Thứ tư, khu vực nông thôn có tính cộng đồng làng, xã, thôn/bản rất chặt chẽ.
Điều này cũng có ảnh hưởng đến vấn đề tạo việc làm, khi mà người lao động chỉ 7 quen với cuộc sống ở nông thôn, làm những công việc nông nghiệp, do đó khó thích nghi với những công việc ở lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ. c, Vai trò của khu vực nông thôn trong phát triển kinh tế xã hội Theo Chu Tiến Dũng (2001) nông thôn có vai trò quan trọng trong tiến trình phát triển kinh tế xã hội. Thứ nhất, khu vực nông thôn cung cấp những sản phẩm thiết yếu cho cuộc sống của con người, do vậy nó đảm bảo sự ổn định và phát triển của xã hội. Nông thôn là nơi cung cấp nguồn nguyên liệu cho công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp phát triển.
Thứ hai, lao động nông thôn chiếm đa số trong tổng lao động xã hội. Vì vậy, nông thôn là nơi cung cấp nguồn lao động chủ yếu cho phát triển công nghiệp và các ngành khác Thứ ba, khu vực nông thôn không những là thị trường rộng lớn cho phát triển công nghiệp mà còn có vai trò đặc biệt quan trọng trong củng cố an ninh và quốc phòng, giữ gìn trật tự và an toàn xã hội. Thứ tư, nông thôn chiếm giữ tuyệt đại bộ phận tài nguyên của đất nước, từ rừng núi sông biển với các loại thuỷ hải sản, động thực vật tới các loại khoáng sản… Vì vậy, nông thôn có vai trò to lớn trong việc quản lý, khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên để phát triển kinh tế xã hội. d, Lao động nông thôn và đặc điểm của lao động nông thôn: Lao động nông thôn là những người thuộc lực lượng lao động và tham gia hoạt động trong hệ thống các ngành kinh tế nông thôn như trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ trong nông thôn (Mai Thanh Cúc và cs.
Các tác giả đã chỉ ra một số đặc điểm của lao động nông thôn: + Lao động nông thôn sống và làm việc rải rác trên địa bàn rộng, gây khó hăn trong việc bồi dưỡng đào tạo nghề, thông tin thị trường lao động cho lao động nông thôn. Do đó, ảnh hưởng lớn đến khả năng tạo việc làm cho người lao động. + Lao động nông thôn có trình độ văn hoá và chuyên môn thấp hơn. Tỷ lệ lao động nông thôn đã qua đào tạo chiếm tỷ lệ rất thấp.
Lao động nông thôn chủ yếu học nghề thông qua việc hướng dẫn của thế hệ trước hoặc tự truyền cho nhau nên lao động theo truyền thống và thói quen là chính, tạo ra sự khó hăn cho việc thay đổi phương hướng sản xuất và thực hiện phân công lao động, tạo việc làm bền vững, đồng thời hạn chế sự phát triển kinh tế nông thôn. 8 + Việc làm của lao động nông thôn mang tính thời vụ rõ rệt, đặc biệt là các vùng nông thôn thuần nông. Do đó, việc sử dụng lao động trong nông thôn kém hiệu quả, vấn đề thiếu việc làm xảy ra phổ biến và lâu dài ảnh hưởng đến vấn đề tạo việc làm. + Lao động nông thôn có khả năng tiếp cận và tham gia thị trường kém, thiếu khả năng nắm bắt và xử lý thông tin thị trường, khả năng hạch toán hạn chế.
Do đó, gây khó hăn trong việc tạo việc làm đặc biệt là những việc làm đòi hỏi kỹ năng của người lao động. e, Các tác động của đô thị hóa tới tạo việc làm cho lao động khu vực nông thôn + Tác động tích cực: Thứ nhất, đô thị hóa tạo sức ép mạnh mẽ trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Thứ hai, đô thị hóa góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động, việc làm theo hướng gia tăng lao động, việc làm trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ và công nghiệp, xây dựng. Đồng thời tăng dần, lao động việc làm có trình độ chuyên môn và giảm lao động giản đơn, thu nhập của người lao động tăng lên.
Thứ ba, đô thị hóa góp phần thúc đẩy khả năng tự tạo việc làm, tìm kiếm việc làm và chuyển đổi việc làm đối với người nông dân mất đất nói riêng và người lao động nói chung. Thứ tư, đô thị hóa góp phần làm tăng lực lượng lao động trẻ, hiện đại hóa đời sống dân cư nông thôn.iĐời sống nhân dân được thay đổi, những người lao động nông thôn vốn quen với nền sản xuất nông nghiệp, nay dần trở thành các cư dân thành thị với tác phong công nghiệp, nếp sống văn minh và văn hóa cao hơn + Tác động tiêu cực: Trong quá trình đô thị hóa làm cho người dân rơi vào tình trạng thất nghiệp, thiếu việc làm, đòi hỏi họ phải tự đi tìm kiếm việc làm tại những nơi thành thị đông đúc dân cư, gây sức ép về nhà ở, môi trường, y tế, giáo dục,…Bên cạnh đó, là áp lực về giải quyết việc làm cho người lao động, công tác quản lý xã hội được đặt lên đối với các cấp quản lý, chính quyền địa phương. Như vậy, nhu cầu việc làm của người lao động nông được đặt ra một cách cấp thiết. Thực tế, đòi hỏi các cấp chính quyền cần có chính sách hỗ trợ người nông dân.
Tích cực hỗ trợ đào tạo nghề mới, tìm kiếm việc làm ổn định và lâu dài cho người nông dân, đặc biệt là ở những vùng có quá trình thu hồi đất nông nghiệp và chuyển đổi cơ cấu kinh tế diễn ra nhanh. Phát triển đa dạng các loại hình nghề nghiệp trên địa bàn các khu vực nông thôn thông qua các chương trình đào tạo nghề ngắn hạn, 9 có kế hoạch giúp đỡ những người đã được đào tạo nghề có thể tự mình phát triển nghề nghiệp, nâng cao thu nhập và ổn định đời sống. Tăng cường sự phối hợp giữa các tổ chức hội, đoàn thể và chính quyền các cấp với các cơ sở đào tạo nghề, đồng thời mở rộng thị trường xuất khẩu lao động để giảm tải áp lực thất nghiệp, thiếu việc làm ở khu vực nông thôn (Trịnh Khắc Thẩm và cs. Khái niệm việc làm, tạo việc làm cho lao động nông thôn, chính sách tạo việc làm cho lao động nông thôn Việc làm: Hoạt động lao động sản xuất là hoạt động gắn liền với con người và xã hội loài người.
Từ xa xưa con người đã biết làm lụng, tìm kiếm trong thế giới xung quanh những sản phẩm để phục vụ nhu cầu cho bản thân mình. Khi xã hội phát triển, những hoạt động lao động sản xuất nói chung ấy, được phân chia thành những ngành nghề cụ thể khác nhau và người lao động được làm việc trong những lĩnh vực phù hợp với khả năng của mình. Mỗi người tham gia lao động sản xuất với một việc làm cụ thể nhằm tạo ra thu nhập nuôi sống bản thân và đóng góp cho xã hội. Việc làm trước hết là biểu hiện của hoạt động lao động sản xuất ở mỗi người lao động.
Nếu lao động là hoạt động của xã hội nói chung, phản ánh bản chất của con người nói chung thì việc làm là hoạt động lao động cụ thể của mỗi người lao động tham gia vào quá trình lao động xã hội chung đó. Giống như lao động, việc làm cũng phản ánh mối quan hệ giữa người lao động với giới tự nhiên. Bởi vì để làm việc người lao động cũng phải sử dụng sức thần kinh cơ bắp của mình cùng với công cụ lao động, tác động một cách có ý thức, có mục đ ch lên đối tượng lao động, biến những vật thể tự nhiên thành của cải phục vụ nhu cầu con người. Chính vì vậy, việc làm cũng chịu tác động bởi những qui luật và điều kiện tự nhiên.
Giống như lao động, việc làm cũng phản ánh mối quan hệ giữa người lao động với giới tự nhiên.