Tổng quan nghiên cứu

Huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương bước vào giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa và hiện đại hóa với sự chuyển dịch kinh tế rõ nét, khi tổng giá trị sản xuất tăng trưởng bình quân 1,78% mỗi năm và tốc độ tăng trưởng GDP đạt 12,8% vào năm 2016. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng nông nghiệp từ 62% năm 2014 xuống còn 37% năm 2016, đồng thời tăng tỷ trọng công nghiệp - xây dựng lên 32% và thương mại - dịch vụ lên 31%. Tuy nhiên, toàn huyện có diện tích đất tự nhiên 16.534 ha thì đất nông nghiệp chiếm tới 10.308 ha, trong đó diện tích đất trồng lúa giảm dần qua các năm, làm suy giảm tư liệu sản xuất trực tiếp của cư dân nông thôn.

Vấn đề nghiên cứu then chốt xuất phát từ nghịch lý: tổng lực lượng lao động toàn huyện năm 2016 đạt 77.796 người, trong đó lao động nông thôn chiếm tới 44.474 người (chiếm hơn 57% lực lượng lao động), nhưng chất lượng tay nghề nhìn chung còn thấp. Có tới 19.502 lao động nông thôn (tương đương 25,64%) phải rời địa phương tìm việc làm giản đơn, thiếu ổn định và dễ bị tổn thương trước biến động thị trường.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là hệ thống hóa cơ sở lý luận, đánh giá toàn diện thực trạng công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn huyện Kinh Môn giai đoạn 2014-2016, phân tích các nhân tố ảnh hưởng và đề xuất hệ thống giải pháp khả thi nhằm tăng cường hiệu quả dạy nghề đến năm 2020. Luận văn giới hạn phạm vi không gian tại huyện Kinh Môn và thời gian khảo sát thực địa từ tháng 6/2015 đến tháng 12/2016.

Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn, cung cấp luận cứ khoa học để địa phương nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo lên trên 50%, giúp người học sau tốt nghiệp đạt mức thu nhập bình quân từ 1,5 triệu đến 2,5 triệu đồng mỗi tháng, góp phần chuyển dịch cơ cấu việc làm bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng Lý thuyết Vốn nhân lực của Gary Becker, khẳng định trình độ chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp là nhân tố quyết định năng suất lao động và mức thu nhập cá nhân. Người lao động càng được đào tạo bài bản thì tỷ lệ thất nghiệp càng thấp và năng lực cạnh tranh xã hội càng cao. Đồng thời, đề tài tích hợp quan điểm quản lý nguồn lực hiện đại, xem chất lượng đầu ra của đào tạo nghề là kết quả tương tác tích cực của 3 trụ cột tăng trưởng kinh tế: đổi mới công nghệ, phát triển hạ tầng và nâng cao chất lượng nhân lực.

Mô hình nghiên cứu quản lý đào tạo nghề được thiết lập dựa trên hệ thống 11 yếu tố tương tác chặt chẽ: Mục tiêu, Nội dung, Phương pháp, Lực lượng giảng dạy, Đối tượng người học, Hình thức tổ chức, Điều kiện cơ sở vật chất, Môi trường xã hội, Quy chế quản lý, Bộ máy vận hành và Kết quả đào tạo đầu ra.

Bốn khái niệm nền tảng được chuẩn hóa trong nghiên cứu bao gồm:

  • Lao động nông thôn: Người trong độ tuổi lao động từ 15 tuổi trở lên cư trú và hoạt động sản xuất, dịch vụ tại địa bàn nông thôn.
  • Tăng cường đào tạo nghề: Quá trình mở rộng quy mô, nâng cấp chất lượng, đa dạng hóa phương thức và ngành nghề đào tạo so với giai đoạn trước nhằm đáp ứng biến động của thị trường.
  • Đào tạo nghề trình độ sơ cấp: Hoạt động huấn luyện kỹ thuật kéo dài dưới 3 tháng nhằm trang bị kỹ năng thực hành nghề nghiệp cơ bản và tác phong công nghiệp.
  • Quản lý đào tạo nghề: Sự tác động có định hướng, có tổ chức của các cơ quan quản lý nhà nước nhằm tối ưu hóa các nguồn nhân lực, vật lực và tài lực phục vụ mục tiêu dạy nghề.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng kết hợp nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp được thu thập trong giai đoạn 2014-2016:

  • Nguồn dữ liệu thứ cấp: Niên giám thống kê huyện Kinh Môn các năm 2014-2016, báo cáo tổng kết kinh tế - xã hội của Ủy ban nhân dân huyện, Đề án 05/ĐA-UBND huyện Kinh Môn, Quyết định 758/QĐ-UBND tỉnh Hải Dương và Quyết định 1956/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.
  • Nguồn dữ liệu sơ cấp: Cỡ mẫu điều tra thực địa gồm 160 đối tượng, được chọn theo phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên tại 3 xã đại diện cho các tiểu vùng kinh tế - địa lý của huyện gồm Hiệp An, Hiệp Sơn và Long Xuyên. Cấu trúc mẫu bao gồm 120 lao động nông thôn (40 người mỗi xã), 15 cán bộ quản lý cấp huyện và xã, 10 giáo viên cơ hữu thuộc Trung tâm Hướng nghiệp và Giáo dục thường xuyên huyện, cùng 15 đại diện doanh nghiệp và cơ sở sản xuất kinh doanh trên địa bàn.

Phương pháp phân tích dữ liệu bao gồm thống kê mô tả, thống kê so sánh theo tỷ lệ phần trăm và phương pháp chuyên khảo nhằm xác định mối liên hệ giữa các điều kiện đào tạo với hiệu quả tìm kiếm việc làm sau học nghề. Việc lựa chọn phương pháp này giúp phản ánh chính xác bức tranh thực tế về đào tạo nghề tại địa phương một cách khách quan và khoa học. Toàn bộ quá trình thu thập thông tin, hội thảo lấy ý kiến chuyên gia và xử lý dữ liệu được hoàn thành trong khung thời gian từ tháng 6/2015 đến tháng 12/2016.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế diễn ra nhanh nhưng cơ cấu lao động chuyển dịch chưa tương xứng. Mặc dù giá trị sản xuất toàn huyện tăng từ 626,3 tỷ đồng năm 2014 lên 928,3 tỷ đồng năm 2016, tỷ trọng lao động làm việc trong khu vực nông lâm nghiệp vẫn ở mức rất cao với 40.520 người năm 2016, chiếm 52,08% tổng lực lượng lao động. Lao động công nghiệp - xây dựng chỉ chiếm 21.870 người (tăng trưởng bình quân 102,15%) và thương mại - dịch vụ chiếm 14.406 người (tăng trưởng bình quân 106,55%).

Thứ hai, công tác tổ chức dạy nghề bước đầu đạt được những kết quả tích cực với hơn 100 lớp đào tạo kỹ thuật nông nghiệp, thủ công mỹ nghệ và cơ khí điện dân dụng được triển khai. Tại các lớp dạy nghề gắn trực tiếp với nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp, tỷ lệ học viên có việc làm sau đào tạo đạt mức ấn tượng từ 85% đến 90%, mang lại nguồn thu nhập từ 1,5 đến trên 2,0 triệu đồng mỗi tháng cho người lao động.

Thứ ba, nguồn lực phục vụ đào tạo nghề còn bộc lộ nhiều điểm nghẽn nghiêm trọng. Đội ngũ giáo viên cơ hữu tại Trung tâm Dạy nghề của huyện chỉ có 10 người, thiếu hụt giáo viên kỹ thuật tay nghề cao và thợ giỏi giàu kinh nghiệm thực tiễn. Cơ sở vật chất và trang thiết bị thực hành còn nghèo nàn, kinh phí đầu tư chủ yếu phụ thuộc vào ngân sách cấp trên, chưa huy động được nguồn lực xã hội hóa từ các doanh nghiệp đóng trên địa bàn.

Thứ tư, chính sách hỗ trợ còn tồn tại rào cản về độ tuổi và ngành nghề. Quy định hiện hành giới hạn mỗi lao động chỉ được hỗ trợ học 1 nghề và giới hạn độ tuổi tham gia, trong khi lực lượng lao động nông nghiệp thực tế tại các xã chiếm tỷ lệ lớn ở độ tuổi trên 45 đối với nữ và trên 50 đối với nam, dẫn đến tình trạng nhiều người có nhu cầu học nghề nhưng không đủ điều kiện hưởng chính sách ưu đãi.

Thảo luận kết quả

Thực trạng đào tạo nghề tại huyện Kinh Môn phản ánh rõ nét sự chuyển đổi từ mô hình đào tạo theo năng lực sẵn có của cơ sở sang mô hình đào tạo theo nhu cầu của thị trường lao động. Tuy nhiên, hiệu quả đạt được chưa đồng đều giữa các xã do công tác điều tra, dự báo nhu cầu học nghề và nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp chưa được thực hiện thực chất ở cấp cơ sở.

Khi đối chiếu với các mô hình điển hình tại các địa phương khác, luận văn làm sáng tỏ những bài học quý giá:

  • Mô hình liên kết 3 nhà (Nhà nước - Nhà trường - Doanh nghiệp) tại huyện Trực Ninh và Hải Hậu, tỉnh Nam Định đã chứng minh hiệu quả vượt trội. Điển hình như Doanh nghiệp Cao Cường phối hợp đào tạo và giải quyết việc làm ổn định cho hơn 5.000 lao động với doanh thu 10 tỷ đồng mỗi năm.
  • Mô hình đào tạo theo địa chỉ sử dụng lao động tại huyện Kỳ Sơn, tỉnh Hòa Bình, nơi chính quyền phối hợp cùng 42 doanh nghiệp tổ chức đào tạo thực hành tại chỗ, giúp tỷ lệ lao động có việc làm đạt 85-90% và giải ngân 57 dự án vay vốn việc làm với kinh phí 790 triệu đồng.
  • Kinh nghiệm quốc tế từ Nhật Bản với chính sách đưa công nghiệp về nông thôn và tổ chức hợp tác xã đa dịch vụ, cùng bài học ứng dụng khoa học kỹ thuật cao của Israel tại vùng sa mạc khô hạn Arava (chiếm 60% sản lượng rau xuất khẩu), cho thấy việc gắn kết đào tạo nghề với chuyển giao công nghệ là chìa khóa then chốt.

Dữ liệu nghiên cứu của luận văn có thể được trực quan hóa thông qua biểu đồ so sánh tốc độ chuyển dịch giữa tỷ trọng GDP nông nghiệp (giảm 25% trong 3 năm) với tỷ trọng lao động nông nghiệp (chỉ giảm khoảng 0,76%), cùng bảng ma trận đánh giá mức độ hài lòng của 120 học viên về 5 tiêu chí: nội dung chương trình, phương pháp giảng dạy, thiết bị thực hành, cơ hội việc làm và mức cải thiện thu nhập. Những phân tích này khẳng định đào tạo nghề chỉ thực sự phát huy tác dụng khi gắn liền với chuỗi giá trị sản xuất và tiêu thụ sản phẩm tại địa phương.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, đổi mới công tác khảo sát, dự báo nhu cầu học nghề và thị trường lao động. Ủy ban nhân dân huyện Kinh Môn chỉ đạo Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì, phối hợp với Ủy ban nhân dân 25 xã, thị trấn hoàn thành việc điều tra, thống kê 100% nhu cầu học nghề của người dân và nhu cầu tuyển dụng của các doanh nghiệp trên địa bàn trong giai đoạn 2017-2020. Chuyển đổi căn bản phương thức đào tạo từ cung cấp những gì trung tâm có sang đào tạo theo hợp đồng đặt hàng của doanh nghiệp và hợp tác xã.

Thứ hai, nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên và chuẩn hóa giáo trình đào tạo. Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp Trung tâm Hướng nghiệp và Giáo dục thường xuyên huyện tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm dạy nghề cho ít nhất 30 nghệ nhân, thợ giỏi tại các làng nghề và 100% cán bộ kỹ thuật nông nghiệp trước quý 2 năm 2018. Thực hiện cấu trúc lại chương trình đào tạo theo hướng thực hành chiếm tối thiểu 70% tổng thời lượng khóa học.

Thứ ba, thiết lập cơ chế liên kết ba nhà và giải quyết nguồn vốn sau đào tạo. Ủy ban nhân dân huyện ký kết chương trình hợp tác với các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất tại các cụm công nghiệp để tiếp nhận học viên thực tập và tuyển dụng ngay sau khi tốt nghiệp. Đồng thời, phối hợp Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện ưu tiên giải ngân nguồn vốn vay giải quyết việc làm cho 100% học viên tốt nghiệp có dự án sản xuất, kinh doanh khả thi, phấn đấu đưa tỷ lệ có việc làm sau học nghề đạt trên 85% vào năm 2020.

Thứ tư, kiến nghị hoàn thiện cơ chế, chính sách hỗ trợ học nghề. Đề xuất Ủy ban nhân dân tỉnh Hải Dương và các bộ ngành trung ương sửa đổi cơ chế thực hiện Đề án 1956, cho phép mở rộng đối tượng hỗ trợ đào tạo nghề đối với lao động nông nghiệp từ 45 đến 60 tuổi và hỗ trợ 50% chi phí học nghề thứ hai cho các hộ gia đình phát triển mô hình kinh tế trang trại tổng hợp từ năm 2018.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất là cán bộ quản lý nhà nước và chuyên viên hoạch định chính sách tại Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Hải Dương, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội cũng như Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Kinh Môn. Tài liệu cung cấp cơ sở thực tiễn để xây dựng quy hoạch mạng lưới cơ sở dạy nghề và phân bổ ngân sách đào tạo nghề nông thôn hàng năm một cách chuẩn xác.

Nhóm thứ hai là Ban Giám đốc và giảng viên tại các Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên cấp huyện. Luận văn cung cấp phương pháp đổi mới nội dung giáo trình theo hướng tăng thời lượng thực hành lên 70% và quy trình tổ chức các lớp dạy nghề lưu động tại thôn xóm.

Nhóm thứ ba là lãnh đạo các doanh nghiệp, hợp tác xã sản xuất và các hiệp hội làng nghề trên địa bàn huyện Kinh Môn. Kết quả nghiên cứu gợi mở giải pháp tối ưu hóa chi phí tuyển dụng thông qua việc chủ động đặt hàng đào tạo và trực tiếp tham gia giảng dạy tay nghề cho lao động địa phương.

Nhóm thứ tư là học viên cao học, nghiên cứu sinh và sinh viên chuyên ngành Quản lý kinh tế, Kinh tế phát triển và Phát triển nông thôn. Đề tài là nguồn tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp luận nghiên cứu thực địa với bộ công cụ 160 phiếu khảo sát và khung phân tích quản lý đào tạo nghề cấp huyện.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao huyện Kinh Môn cần cấp bách tăng cường công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn? Toàn huyện có hơn 44.474 lao động nông thôn nhưng chất lượng tay nghề còn hạn chế, trong khi diện tích đất lúa giảm dần qua các năm do quá trình công nghiệp hóa. Tăng cường đào tạo nghề giúp người dân làm chủ kỹ thuật sản xuất hàng hóa và chuyển dịch thành công sang lĩnh vực phi nông nghiệp.

Mô hình đào tạo nghề liên kết ba nhà mang lại lợi ích cụ thể gì cho người học? Mô hình kết hợp giữa Nhà nước, Cơ sở đào tạo và Doanh nghiệp giúp học viên được học tập với thời lượng thực hành trên 70%, tiếp cận máy móc thực tế tại nhà xưởng và được cam kết tuyển dụng ngay sau tốt nghiệp với mức thu nhập ổn định từ 1,5 đến 2,0 triệu đồng mỗi tháng.

Những rào cản lớn nhất đối với đào tạo nghề tại huyện Kinh Môn giai đoạn 2014-2016 là gì? Các rào cản chính bao gồm cơ sở vật chất và thiết bị thực hành của trung tâm dạy nghề còn thiếu thốn, đội ngũ giảng viên cơ hữu mỏng với 10 người, quy định giới hạn độ tuổi học nghề chưa phù hợp với thực tế lực lượng lao động nông thôn trên 45 tuổi, và thiếu nguồn lực tài chính xã hội hóa.

Người lao động sau khi hoàn thành khóa học nghề có cơ hội tiếp cận vốn vay ưu đãi như thế nào? Theo chính sách hỗ trợ từ Đề án 1956 và kênh vay vốn từ Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện, học viên sau tốt nghiệp có phương án sản xuất kinh doanh khả thi được hỗ trợ tiếp cận các gói vay ưu đãi từ Quỹ Quốc gia về việc làm để đầu tư mở rộng quy mô xưởng, trang trại hoặc mua sắm công cụ sản xuất.

Chính sách đào tạo nghề theo Đề án 1956 có điểm gì mới so với các giai đoạn trước đó? Đề án chuyển trọng tâm từ đào tạo theo năng lực sẵn có sang đào tạo theo nhu cầu thực tế của người học và đơn đặt hàng của thị trường. Chính sách hỗ trợ 100% học phí trình độ sơ cấp, hỗ trợ tiền ăn, phương tiện đi lại cho đối tượng chính sách, hộ nghèo và lao động bị thu hồi đất nông nghiệp.

Kết luận

  • Luận văn đã đánh giá sâu sắc thực trạng phát triển kinh tế huyện Kinh Môn với mức tăng trưởng GDP 12,8% năm 2016 nhưng còn tồn đọng hơn 52% lao động làm nông nghiệp, làm rõ tính cấp thiết của việc đào tạo nghề.
  • Nghiên cứu khẳng định việc gắn kết dạy nghề với nhu cầu doanh nghiệp giúp nâng tỷ lệ học viên có việc làm sau đào tạo lên 85% đến 90% và cải thiện rõ rệt mức sống người dân.
  • Đề tài chỉ rõ những rào cản về cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên và sự hạn chế của cơ chế chính sách đối với lao động trên 45 tuổi tại địa phương.
  • Công trình đã hệ thống hóa lý luận quản lý đào tạo nghề cấp huyện và kiểm chứng khoa học thông qua bộ số liệu khảo sát thực tế từ 160 cá nhân và tổ chức.
  • Hệ thống 4 nhóm giải pháp toàn diện được xây dựng với lộ trình triển khai cụ thể đến năm 2020, tạo nền tảng vững chắc để chuyển dịch cơ cấu lao động bền vững.

Các cơ quan quản lý, trung tâm giáo dục nghề nghiệp và doanh nghiệp trên địa bàn cần nhanh chóng phối hợp thực hiện các giải pháp trên để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nông thôn huyện Kinh Môn trong thời kỳ mới.