Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Một số khái niệm cơ bản 1.1 Giải pháp Theo Từ điển tiếng Việt của Trung tâm Từ Điển học (NXB. Đà Nẵng, 1997): giải pháp là phương pháp giải quyết một vấn đề cụ thể nào đó. Tìm giải pháp tốt nhất. Tùy vào điều kiện kinh tế, văn hóa xã hội của mỗi địa phương, mỗi quốc gia, mỗi khu vực; để giải quyết một vấn đề giống nhau nhưng lại có những giải pháp khác biệt nhau.
Không phải tất cả những giải pháp của một người hay một nhóm nghiên cứu nào đó đưa ra đều thành công mà mức độ thành công lại phụ thuộc phần lớn vào việc triển khai thực hiện sự đồng bộ của các yếu tố bên trong các giải pháp. Như vậy, giải pháp là các phương pháp cụ thể để giải quyết một, hoặc nhiều vấn đề xảy ra trong thực tế nghiên cứu của đề tài.2 Đào tạo, bồi dưỡng Theo từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên (NXB. Từ điển Bách khoa, Hà Nội, 2010), đào tạo là làm cho trở thành người có năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định; Còn bồi dưỡng là làm cho tăng thêm năng lực hoặc phẩm chất. Theo Đại từ điển do Nguyễn Như Ý chủ biên (NXB.
Văn hóa-Thông tin, Hà Nội, 1998), đào tạo là dạy dỗ, rèn luyện để trở nên người có hiểu biết, có nghề nghiệp; Còn bồi dưỡng đó là làm cho khỏe thêm, mạnh thêm và tốt hơn, giỏi hơn. Căn cứ vào cách giải thích nghĩa từ của Từ điển, dựa trên tình huống trong đề tài. Khái niệm đào tạo và bồi dưỡng có thể hiểu như sau: Đào tạo: là quá trình truyền đạt một lượng kiến thức nhất định cho đối tượng học tập (ĐTHT) để ĐTHT có năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định. 6 Năng lực và kiến thức của ĐTHT sau khi trải qua một qui trình dạy và học có thể đảm nhận và đáp ứng được yêu cầu của một chuyên ngành đã được học.
Bồi dưỡng: là làm cho tăng thêm năng lực hoặc phẩm chất cho đối tượng học tập, quá trình truyền đạt thêm một lượng kiến thức, kỹ năng cần phải xác định năng lực, kiến thức, kỹ năng đã có để bổ sung thêm kiến thức, kỹ năng cần thiết cho ĐTHT.3 Công nhân Giai cấp công nhân hay giai cấp vô sản, theo Karl Marx là giai cấp của những người công nhân và người lao động phải bán sức lao động để đổi lấy tiền lương và họ không phải là chủ sở hữu của phương tiện sản xuất. Cũng theo Marx, giai cấp công nhân là giai cấp tạo ra các giá trị thặng dư và sự giàu có cho xã hội. Ngày nay, đây là giai cấp lao động sản xuất ra của cải vật chất trong lĩnh vực công nghiệp với trình độ kỹ thuật và công nghệ ngày càng hiện đại. Sản phẩm thặng dư do họ làm ra là nguồn gốc chủ yếu cho sự giàu có và phát triển xã hội.
Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia Công nhân là người lao động phổ thông, theo nghĩa rộng là người kiếm sống bằng cách làm việc thể xác (lao động chân tay), bằng cách của mình - cung cấp lao động để lãnh tiền công (tiền lương) của chủ nhân (người sử dụng lao động), để nỗ lực tạo ra sản phẩm cho người chủ và thường được thuê với hợp đồng làm việc (giao kèo) để thực hiện các nhiệm vụ cụ thể. Với sự ra đời của công nghệ tiên tiến và việc thành lập các công ty, tập đoàn, công nhân ngày nay thường là thành phần lao động trong những xí nghiệp, nhà máy, công ty và làm công ăn lương. Theo Từ điển tiếng Việt của Trung tâm Từ Điển học (NXB. Đà Nẵng, 1997): Công nhân là người lao động chân tay làm việc ăn lương.
Trong giới hạn đề tài này người nghiên cứu dùng từ ngữ “công nhân” chỉ nói đến thành phần lao động kỹ thuật làm việc tại doanh nghiệp.4 Lao động kỹ thuật Theo Nguyễn Hữu Dũng, Viện Khoa học Lao động và Xã hội thì: “Lao động kỹ thuật là lao động qua đào tạo và được cấp bằng hoặc chứng chỉ của bậc 7 đào tạo trong hệ thống đào tạo kỹ thuật thực hành để có năng lực thực hiện các công việc phức tạp do sản xuất yêu cầu, tạo ra sản phẩm hàng hóa và dịch vụ phục vụ quốc kế dân sinh” (Dự án Giáo dục Kỹ thuật và Dạy nghề, 2004, tr.5) Nguyễn Văn Thành, Viện Chiến lược phát triển cho rằng: “Lao động qua đào tạo nghề gần như tương đồng với thuật ngữ ‘lao động kỹ thuật’ và đào tạo nghề đồng nghĩa với đào tạo kỹ thuật” (Dự án Giáo dục Kỹ thuật và Dạy nghề, 2004, tr.22) Trên cơ sở những khái niệm nêu trên người nghiên cứu nhận thấy: Lao động kỹ thuật là lao động đã qua đào tạo tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp trong nước hay các tổ chức giáo dục quốc tế được cấp bằng hoặc chứng chỉ ứng với các trình độ kỹ năng nghề khác nhau trong kỹ thuật. Đào tạo nguồn lao động kỹ thuật là đào tạo cho người học đã được định hướng trở thành lao động kỹ thuật với các nghề khác nhau trong các trường trung học chuyên nghiệp và các trường dạy nghề. Nguồn lao động kỹ thuật là một bộ phận của nguồn nhân lực. Trong phạm vi nghiên cứu đề tài, người nghiên cứu tập trung các giải pháp đào tạo, bồi dưỡng nguồn lao động kỹ thuật các nghề trọng điểm tại doanh nghiệp theo nhu cầu khu công nghiệp Biên Hòa II.
Như vậy, đào tạo nguồn lao động kỹ thuật trong dạy nghề là đào tạo nghề cho người học ở các trường nghề nhằm tạo ra nguồn lao động kỹ thuật thực hành, chủ yếu để phục vụ cho công nghiệp. Theo Luật Dạy nghề (2006), đó là những người được đào tạo theo ba cấp trình độ: Cao đẳng nghề, trung cấp nghề và sơ cấp nghề.5 Xí nghiệp/Doanh nghiệp Theo Từ điển tiếng Việt của Trung tâm Từ Điển học (NXB. Đà Nẵng, 1997): Xí nghiệp là cơ sở sản xuất kinh doanh tương đối lớn trong các ngành kinh tế như: Xí nghiệp dệt, xí nghiệp vận tải. Theo từ điển Bách khoa Việt Nam: Doanh nghiệp là đơn vị kinh doanh được thành lập nhằm mục đích chủ yếu thực hiện các hoạt động kinh doanh của những chủ sở hữu (nhà nước, tập thể, tư nhân) về một hay nhiều ngành.
Các hãng buôn, 8 các công ty, các xí nghiệp sản xuất và dịch vụ… được thành lập chính thức trên cơ sở hợp pháp. Những doanh nghiệp có tư cách pháp nhân được thành lập trên cơ sở: có mục tiêu, ngành nghề kinh doanh rõ ràng; có vốn pháp định, vốn điều lệ phù hợp với qui mô và ngành nghề kinh doanh; người quản lí, điều hành hoạt động kinh doanh phải có trình độ chuyên môn tương ứng mà pháp luật đòi hỏi với một số ngành nghề. Trong tựa đề luận văn người nghiên cứu dùng danh từ xí nghiệp, tuy nhiên trong thời điểm hiện nay đơn vị sản xuất kinh doanh chủ yếu mang tên gọi công ty, doanh nghiệp. Trong luận này người nghiên cứu sẽ sử dụng danh từ “Doanh nghiệp” thay cho danh từ “Xí nghiệp” chỉ đơn vị kinh doanh sản xuất trong khu công nghiệp Biên Hòa.6 Đào tạo, bồi dưỡng nghề cho công nhân tại doanh nghiệp/xí nghiệp đáp ứng nhu cầu doanh nghiệp Theo báo cáo của Viện Quản lý và Phát triến Châu Á (2014), về mô hình đào tạo tại doanh nghiệp và thuế doanh nghiệp thì khái niệm đào tạo nghề cho công nhân tại doanh nghiệp/xí nghiệp có thể được hiểu là hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nghề cho người lao động/học nghề được thực hiện tại doanh nghiệp, trong đó người lao động/học nghề được thực hành trên máy móc, thiết bị, dây chuyền sản xuất thực tế của doanh nghiệp, được trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Trong khi đó, khái niệm đào tạo nghề đáp ứng/theo nhu cầu doanh nghiệp là một khái niệm rộng hơn, bao gồm tất cả các hoạt động đào tạo nghề cung cấp sản phẩm lao động đáp ứng được các đòi hỏi và yêu cầu của doanh nghiệp là người sử dụng lao động. Hoạt động đào tạo nghề đáp ứng nhu cầu lao động doanh nghiệp không chỉ diễn ra tại doanh nghiệp mà còn có thể được thực hiện tại các CSDN hoặc kết hợp cả hai địa điểm. Từ khái niệm trên thì khái niệm đào tạo, bồi dưỡng nghề cho công nhân tại xí nghiệp đáp ứng nhu cầu doanh nghiệp có thể được hiểu là hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nghề cho người lao động/học nghề được thực hiện tại doanh nghiệp, trong đó người lao động/học nghề được thực hành trên máy móc, thiết bị, dây chuyền sản 9 xuất thực tế của doanh nghiệp; người lao động/học nghề sau đào tạo sẽ đáp ứng được các đòi hỏi và yêu cầu của doanh nghiệp.2 Cơ sở nhận thức luận về đào tạo và bồi dưỡng tại doanh nghiệp Các lý thuyết học tập với tư cách đối tượng nghiên cứu của tâm lý học dạy học là những mô hình lý thuyết nhằm mô tả và giải thích cơ chế tâm lý của việc học tập. Các lý thuyết học tập đặt cơ sở lý thuyết cho việc tổ chức quá trình dạy học và cải tiến phương pháp dạy học.
Có rất nhiều mô hình lý thuyết khác nhau giải thích cơ chế tâm lý của việc học tập. Trong đề tài nghiên cứu này người cứu vận dụng kết hợp các lý thuyết học tập, đặc biệt chú trọng lý thuyết kiến tạo nhằm hình thành kỹ năng người học trong quá đào tạo, bồi dưỡng lao động tại doanh nghiệp. Theo từ điển Tiếng Việt, kiến tạo có nghĩa là xây dựng nên. Theo Brandt (1997) thì “lý thuyết kiến tạo (constructivism) là lý thuyết dạy học trên cơ sở nghiên cứu về quá trình học tập của con người và dựa trên quan điểm cho rằng mỗi cá nhân tự xây dựng nên kiến thức cho riêng mình không đơn thuần tiếp nhận tri thức từ người khác”.
Lý thuyết kiến tạo là một cách dạy và học có dự định để tối đa hóa sự hiểu biết của HS. Nó giống như phát hiện học tập, nằm trong phạm vi học có ý nghĩa thuộc nhận thức của tư tưởng. lý thuyết kiến tạo được định nghĩa là giảng dạy nhấn mạnh vai trò tích cực của người học trong việc xây dựng kiến thức (Mc Cown, Driscoll & Roop, 1995) và học tập xảy ra khi người học tích cực tham gia vào tình huống mà các câu hỏi liên quan đến hợp tác xây dựng, giải thích hiện tượng, các vấn đề phức tạp hoặc giải quyết vấn đề (Gagon & Collay, 2001). Điều quan trọng nhất là trong quá trình xây dựng kiến thức cho bản thân, HS cần dựa trên những kiến thức, kinh nghiệm có từ trước.