Mở đầu - Phần 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về chất lượng nhân lực tại Khu công nghiệp - Phần 3: Phương pháp nghiên cứu - Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận - Phần 5: Kết luận và kiến nghị 4 PHẦN 2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHẤT LƯỢNG NHÂN LỰC TẠI KHU CÔNG NGHIỆP 2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG NHÂN LỰC 2. Một số khái niệm cơ bản 2.
Khái niệm về nhân lực Nhân lực là bộ phận dân số trong độ tuổi quy định và có khả năng tham gia vào quá trình lao động. Nhân lực của quốc gia phụ thuộc vào quy định của Nhà nước về độ tuổi LĐ và khả năng tham gia LĐ của từng cá nhân cụ thể NL theo nghĩa rộng được hiểu như nguồn lực con người. Nhân lực xã hội theo nghĩa hẹp được hiểu là dân số trong độ tuổi có khả năng LĐ hay đối với doanh nghiệp thì nhân lực doanh nghiệp là lực lượng LĐ của doanh nghiệp, là số người có trong danh sách của DN (Trần Xuân Cầu, 2008). Hiện nay trong các doanh nghiệp ở việt nam thường dựa theo một lối mòn trong tư duy đánh giá NL.
Đó là đánh giá thông qua mức độ thực hiện công việc của NL và coi đó là đánh giá NL, lấy kết quả đó làm căn cứ cho các chế độ tiền lương tiền thưởng NL còn về thái độ làm việc, các hành vi ứng xử thuộc về văn hóa giữa các cá nhân, giữa các bộ phận trong doanh nghiệp, giữa doanh nghiệp với các đối tượng hữu quan bên ngoài doanh nghiệp gần như không được đề cập đến trong đánh giá NL. Theo Nguyễn Đức Thành (2009) nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người gồm thể lực và trí lực thể hiện việc tận dụng sức lực và tri thức của con người trong LĐ sản xuất. Như vậy, nhân lực là toàn bộ khả năng thể lực và trí lực của con gười tham gia vào quá trình LĐ, là tổng thể các yếu tố về thể chất và tinh thần được huy động vào quá trình LĐ. NL là tổng thể số lượng và chất lượng những người LĐ đáp ứng nhu cầu nhất định về loại hình LĐ tương ứng của mỗi DN, tổ chức trên thị trường.
Nói cách khác, NL được hiểu là LLLĐ với kỹ năng nhất định để làm công việc nào đó mà XH hay thị trường có nhu cầu. cấu thành NL là số lượng NL bao gồm tổng thể những người trong độ tuổi LĐ và thời gian làm việc có thể huy động của họ. Chất lượng NL: thể hiện ở giới tính, sức khỏe, trình độ chuyên môn, ý thức, tác phong, thái độ làm việc của người LĐ. Theo Đại từ điển Kinh tế thị trường thì nhân lực được hiểu là lực lượng và 5 năng lực những người làm lao động sản xuất (bao gồm cả lao động thể lực và lao động trí tuệ) cũng tức là sức lao động.
Trong lý thuyết về tăng trưởng kinh tế, con người được coi là một phương tiện hữu hiệu cho việc đảm bảo tốc độ tăng trưởng kinh tế bền vững thậm chí con người được coi là một nguồn vốn đặc biệt cho sự phát triển – vốn nhân lực. Về phương diện này Liên Hiệp Quốc cho rằng nguồn lực con người là tất cả những kiến thức, kỹ năng và năng lực con người có quan hệ tới sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Nhân lực còn được hiểu là lực lượng lao động với kỹ năng tương ứng sử dụng các nguồn lực khác nhau tạo ra sản phẩm phù hợp với yêu cầu của thị trường và xã hội. Như vậy, nhân lực là năng lực mà các cá nhân sử dụng vào quá trình hoạt động, bao gồm cả số lượng các cá nhân cũng như tất cả các tiềm năng của cá nhân một con người sẵn sàng hoạt động trong một tổ chức hay xã hội.
Nói cách khác, nhân lực là tổng hợp tất cả các cá nhân, cùng kiến thức, kỹ năng, hành vi ứng xử và giá trị đạo đức của họ để thành lập, duy trì, đóng góp cho sự phát triển của tổ chức, của xã hội. Từ định nghĩa chung này có thể xem xét thuật ngữ nhân lực dưới một số khía cạnh: Nhân lực theo nghĩa rộng: là con người của một quốc gia, một vùng lãnh thổ, một tổ chức, một DN có thể tham gia vào quá trình phát triển đất nước, lãnh thổ, DN. Nhân lực theo nghĩa hẹp: là bộ phận dân số trong độ tuổi theo quy định của pháp luật đang tham gia lao động. Nhân lực được hiểu trên hai mặt: số lượng và chất lượng.
Về số lượng, nhân lực là tổng thể những người trong độ tuổi lao động và thời gian làm việc có thể huy động được của họ. Về CLNL, thể hiện ở giới tính, sức khỏe, trình độ chuyên môn, ý thức, tác phong, thái độ làm việc của NLĐ. Việc nâng cao trình độ văn hóa, chuyên môn kỹ thuật cho nhân lực phải không ngừng “phát triển toàn diện về chính trị, tư tưởng, trí tuệ, đạo đức, thể chất, năng lực sáng tạo, có ý thức cộng đồng, lòng nhân ái, khoan dung, tôn trọng nghĩa tình, lối sống văn hóa, quan hệ hài hòa trong gia đình, cộng đồng và xã hội (Trần Xuân Cầu, 2008). Khái niệm về chất lượng nhân lực Chất lượng nhân lực trong thời kỳ CNH, HĐH là một khái niệm mở, dễ thay đổi theo yêu cầu của các ngành kinh tế.
Có thể hiểu, CLNL cao là một tập thể NLĐ trong đó các cá nhân đạt tới trình độ mà các ngành kinh tế đòi hỏi về chuyên môn, kinh nghiệm làm việc và khả năng thích ứng tính cách cá nhân đối với công việc. Nói cách khác, CLNL được thể hiện ở kiến thức, kỹ năng và thái độ đủ để hoàn thành xuất sắc các công việc chủ yếu, mang tính chiến lược của tổ chức. Hơn nữa, CLNL phải thể hiện được yêu cầu rằng nhân lực đó có thể đạt được thành tích nhất định trong bản đánh giá lịch sử công việc của chính họ (Tạ Ngọc Hải, 2010). Nghiên cứu về CLNL có nhiều, nhưng các nghiên cứu đó đều không chỉ ra một cách cụ thể việc đánh giá về CLNL cần phải sử dụng các tiêu chí nào, để NL có chất lượng thì cần các điều kiện gì.
Cũng chính vì thế, về CLNL có nhiều cách hiểu khác nhau, thường hay đánh đồng CLNL với trình độ chuyên môn và trình độ văn hóa của NL. Nhưng trình độ chỉ là một yếu tố thể hiện CLNL, vì vậy có rất nhiều quan điểm khác nhau về CLNL: Khoa học nghiên cứu NL trên thế giới có những đánh giá, nhìn nhận và thay đổi quan điểm dựa vào các trường phái quản lý trong lịch sử cùng với sự phát triển của các hình thái kinh tế XH trên thế giới. Học thuyết X của Douglas Mc Gregor (1960) trong quản trị nhân sự có sự nhận định về bản chất con người, thể hiện khía cạnh chất lượng con người trong các xí nghiệp phương Tây thời kỳ đó. Thuyết này cho rằng NL rất lười biếng, thiểu ý chí, không dám gánh vác trách nhiệm và cam chịu để người khác sai khiến bản thân, luôn chống lại sự đổi mới không quan tâm đến nhu cầu và lợi ích tập thể.
Vì thế con người cần được giám sát chặt chẽ mọi nơi và phải thúc giục trong mọi hành động. Thuyết này không quan tâm nhiều đến nhận thức của con người về các kiến thức khoa học XH. Tuy vậy, những nhận định về bản chất con người là tất cả những điều gián tiếp đánh giá về khả năng, ý thức và văn hóa của NL thời kỳ đó. Ngược lại với thuyết X, thuyết Y cũng được Douglas Mc Gregor đưa ra năm 1960 để nhìn nhận, đánh giá theo chiều hướng tích cực hơn về NL.
Ông cho rằng lười biếng không phải là bản tính bẩm sinh của con người mà bản chất con người là có tài năng, có thể làm việc trí óc hoặc LĐ chân tay, có thể điều khiển người khác chứ không chỉ chịu sự sai khiến. Điều quan trọng hơn nữa là sự thể hiện nhu cầu cá nhân và động lực hoạt động để thỏa mãn những nhu cầu đó. Như 7 vậy, NL đã được đánh giá chất lượng không hoàn toàn đầy đủ nhưng có thể thấy đó là thái độ biểu hiện, ý thức, hành vi, khả năng làm việc và sự nhận thức về giá trị cuộc sống. Sự đánh giá này đúng với bản chất con người hơn thuyết X và chính là thể hiện được CLNL hơn (Trần Xuân Cầu, 2008).
Hiện nay, một trong những thước đo đánh giá CLNL là chỉ số phát triển con người - HDI (Human Development Index), chỉ số này là tỷ lệ so sánh, định lượng về mức thu nhập, tỷ lệ biết chữ, tuổi thọ và một vài nhân tố khác. HDI là một thước đo về phát triển con người. Thông thường HDI đo thành tựu trung bình của một quốc gia theo ba tiêu chí: - Về sức khỏe: được tính dựa trên cuộc sống khỏe mạnh, sống thọ. Có thể sử dụng tuổi thọ TB làm căn cứ đánh giá.
Tuy nhiên, tuổi thọ chỉ phản ánh được số năm sống của một con người, không thể hiện được chất lượng cuộc sống của con người. - Tri thức: tiêu chí này sử dụng tỷ lệ người lớn biết chữ và tỷ lệ người nhập học các cấp từ tiểu học đến đại học. Với tiêu chí này, có thể tìm thấy các con số về biết chữ và nhập học, nhưng trên thực tế số người lớn biết chữ và có hiện tượng quên chữ hay còn gọi là tái mù chữ vẫn xảy ra nguyên nhân do ít tiếp xúc với chữ. Điều đó cho thấy việc sử dụng tỷ lệ người biết chữ, tỷ lệ người nhập học các cấp là căn cứ đánh giá tri thức của con người cũng chưa hoàn toàn chính xác.
Như vậy có thể thấy các quan điểm được thể hiện trong các nghiên cứu của nhiều tác giả về CLNL không có sự thống nhất. Các tiêu chí được sử dụng làm thước đo trong mỗi khái niệm được đưa ra khi là trừu tượng khó đánh giá, khi cụ thể có thể định lượng được và chủ yếu là trình độ học vấn, trình độ văn hóa, kiến thức chuyên môn, kỹ năng làm việc, phẩm chất, năng lực. Chất lượng nhân lực trong doanh nghiệp Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cũng như bất kỳ hoạt động nào khác của con người có mục đích đạt được hiệu quả cao nhất có thể. Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp là kết quả tương quan, so sánh những lợi ích thu được với phần các nguồn lực (chi phí) cho các lợi ích đó.