CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TẠO VIỆC LÀM 1. Tổng quan về việc làm 1. Lao động Lao động là một yếu tố tất yếu không thể thiếu được của con người, nó là hoạt động cần thiết và gắn chặt với lợi ích của con người. Bản thân cá nhân mỗi con người trong nền sản xuất xã hội đều chiếm những vị trí nhất định.
Mỗi vị trí mà người lao động chiếm giữ trong hệ thống sản xuất và xã hội với tư cách là một sự kết hợp của các yếu tố khác trong quá trình sản xuất được gọi là chỗ làm hay việc làm. Các Mác khẳng định: Lao động trước hết là quá trình diễn ra sự tác động giữa con người với con người và giữa con người với tự nhiên, một quá trình trong đó, bằng sự hoạt động của chính mình, con người làm trung gian điều tiết và kiểm tra sự trao đổi chất giữa họ và tự nhiên. Trong khi tác động vào tự nhiên ở bên ngoài thông qua sự vận động đó và làm thay đổi tự nhiên, con người cũng đồng thời làm thay đổi bản tính của chính nó [22, tr. Với ý nghĩa đó, lao động là quyền lợi và nghĩa vụ của mỗi người trong mỗi quốc gia.
Để thực hiện quyền và nghĩa vụ đó, người lao động cần có việc làm hợp pháp, do đó việc làm là điều kiện để quá trình lao động được diễn ra và cũng là cơ sở để người lao động có thu nhập, đảm bảo ổn định đời sống của bản thân con người và của toàn xã hội. Như vậy, việc làm là một phạm trù tồn tại khách quan trong nền sản xuất xã hội, phụ thuộc vào các điều kiện hiện có của nền sản xuất. Người lao động được coi là có việc làm khi chiếm giữ một vị trí nhất định trong hệ thống sản xuất của xã hội. Nhờ có việc làm mà người lao động mới thực hiện được quá trình lao động tạo ra sản phẩm cho xã hội, cho bản thân.
Các quan niệm về việc làm Việc làm là một phạm trù tổng hợp liên kết các quá trình kinh tế, xã hội và nhân khẩu, là một trong những vấn đề chủ yếu nhất của toàn bộ đời sống xã hội. Khái niệm việc làm và khái niệm lao động không giống nhau, nhưng có liên quan chặt chẽ với nhau. Việc làm thể hiện mối quan hệ của con người với những chỗ làm việc cụ thể, là những giới hạn xã hội cần thiết trong đó lao động diễn ra, đồng thời nó là điều kiện cần thiết để thoả mãn nhu cầu xã hội về lao động, là nội dung chính của hoạt động con người. Về góc độ kinh tế, việc làm thể hiện mối tương quan giữa sức lao động và tư liệu sản xuất, giữa yếu tố con người và yếu tố vật chất trong quá trình sản xuất.
Đối với mỗi cá nhân, gia đình và mỗi chính phủ trong từng quốc gia, việc làm là vấn đề quan trọng được quan tâm hàng đầu. Quan niệm về việc làm không cố định mà nó được xét trên nền tảng của một chế độ chính trị, gắn với trình độ phát triển kinh tế, chính trị, văn hoá xã hội của mỗi quốc gia, mỗi thời đại. Khi trình độ phát triển mọi mặt, đặc biệt là định hướng chính trị của một quốc gia thay đổi, quan niệm việc làm cũng biến đổi. Theo Giăng - Mu - Li, Phó cố vấn kinh tế của Văn phòng lao động quốc tế lại cho rằng: Việc làm có thể được định nghĩa như một tình trạng trong đó có sự trả công bằng tiền hoặc hiện vật, do có một sự tham gia tích cực có tính chất cá nhân và trực tiếp vào nỗ lực sản xuất.
Quan niệm này phát triển hơn, khái quát hơn hai quan niệm trên. Tuy nhiên, nếu chỉ có những hoạt động được trả công bằng tiền hoặc hiện vật mới được coi là việc làm thì chưa thoả đáng. Những người nằm trong lực lượng lao động nhưng làm công việc nội trợ, bản thân họ không nhận được tiền công, tiền lương bằng tiền hay hiện vật từ xã hội, từ người sử dụng lao động mà chỉ nhận được sự phân phối lại trực tiếp thu nhập từ các thành viên trong gia đình. Họ không trực tiếp mà gián tiếp tạo ra thu nhập trực tiếp, họ nhận 10 Luan van được thu nhập gián tiếp thông qua điều tiết thu nhập từ các thành viên trong gia đình có việc làm hưởng tiền lương trong xã hội.
Vậy, họ là những người có việc làm, đảm nhận một chức năng trong guồng máy chỉ đạo xã hội - nghề nội trợ. Trong thực tiễn của đời sống kinh tế - xã hội, có việc làm được coi là hợp pháp, chính đáng song cũng có việc làm tạo ra thu nhập nhưng lại được coi là bất chính. Sự phân biệt này dựa trên cơ sở luật pháp và ý thức hệ của mỗi quốc gia trong mỗi thời kỳ, giai đoạn của trình độ phát triển. Quan niệm về việc làm hợp pháp phải là việc làm mang lại thu nhập chính đáng cho con người - nghề hợp pháp - tương ứng với pháp luật của mỗi nước cho phép.
Để làm sáng tỏ hơn các quan niệm về việc làm khi nghiên cứu về thực hiện chính sách việc làm, chúng ta cần nghiên cứu thêm trong mối tương quan với khái niệm thất nghiệp. Theo ông Tite Habiyakare, chuyên gia về thống kê lao động, Tổ chức Lao động Quốc tế khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, khái niệm quốc tế về thất nghiệp hiện đang được sử dụng rộng rãi trên thế giới ngày nay xuất phát từ Nghị quyết của Hội nghị Thống kê Lao động Quốc tế (ICLS) lần thứ 13 năm 1982. Khái niệm này được sử dụng phần lớn các nước trên thế giới, cả ở các nền kinh tế phát triển và đang phát triển.Theo tiêu chuẩn quốc tế, “người thất nghiệp” bao gồm những người ở độ tuổi nhất định mà trong thời gian khảo sát (thường là trong tuần trước đó hoặc 7 ngày trước đó (còn gọi là “Tuần lễ tham khảo”thường dùng trong các phiếu khảo sát và biểu thống kê) đáp ứng tất cả 3 điều kiện: “không có việc làm” (không làm việc dù chỉ là 1 giờ, không làm việc làm công ăn lương lương hoặc việc tự làm), “sẵn sàng làm việc” và “đang tìm việc”. Như vậy, “thất nghiệp” là một thái cực trên một dải lực lượng lao động bao gồm cả những người “thiếu việc làm” và “có việc làm”.
11 Luan van Tuy nhiên các tiêu chuẩn quốc tế này đã thay đổi bởi Hội nghị của ILCS lần thứ 19 tháng 10 năm 2013 với một cách thức thống kê mới. Hệ thống mới nhằm cải thiện việc đo lường các loại hình việc làm khác nhau, ví dụ như những công việc tự sản xuất (own use production work), công việc được trả lương, thực tập không có lương, và việc làm tự nguyện (volunteer work). Nó đồng thời thu hẹp khái niệm về việc làm để thể hiện tốt hơn những gì được coi là “việc làm theo định hướng thị trường” (market-oriented job). Theo định nghĩa mới, những người có việc làm là những người trên 15 tuổi mà trong một khoảng thời gian ngắn nhất định (thường là 1 tuần hoặc 7 ngày), có tham gia vào một hoạt động sản xuất ra hàng hóa hoặc cung cấp dịch vụ để được trả lương hoặc kiếm lợi nhuận.
Nói theo cách khác, đó là những người làm việc ở một công việc được trả lương hoặc một việc tự kinh doanh để kiếm lợi nhuận trong khoảng thời gian ít nhất là 1 giờ trong giai đoạn khảo sát. Điều này sẽ dẫn đến sự thay đổi đáng kể về tỷ lệ có việc làm đối với nhiều quốc gia đang phát triển như Việt Nam, nơi phần lớn người lao động ( trên 50 %) làm việc trong ngành nông nghiệp tự cung tự cấp với rất ít hoặc không có sự kết nối với nền kinh tế thị trường. Khi định nghĩa mới được áp dụng, các cuộc điều tra về thị trường lao động sẽ đo lường được tốt hơn bộ phận thất nghiệp ở nền kinh tế thị trường (thay vì bị lẫn lộn với ngành nông nghiệp tự cung tự cấp) và giúp chỉ ra được tình trạng không sử dụng được đầy đủ tiềm năng của lực lượng lao động (labour underutilization) trong nền kinh tế. Việt Nam là một nước ủng hộ mạnh mẽ sự thay đổi về thống kê việc làm tại Hội nghị ICLS lần thứ 19.
Tại Hội nghị quốc tế lần thứ 13 năm 1983, Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) đã đưa ra quan niệm về người có việc làm như sau: "Người có việc làm là những người làm một việc gì đó, có được trả tiền công, lợi nhuận hoặc 12 Luan van được thanh toán bằng hiện vật hoặc những người tham gia vào các hoạt động mang tính chất tự tạo việc làm vì lợi ích hay vì thu nhập gia đình, không nhận được tiền công hay hiện vật" [ 5, tr. Như vậy, người có việc làm bao gồm những người lao động ở tất cả các khu vực (công và tư) có thu nhập đem lại nguồn sống cho bản thân, gia đình và xã hội. Đây là một khái niệm mềm dẻo phù hợp với nền kinh tế thị trường, phù hợp với nền kinh tế nhiều thành phần. Do đó, khái niệm này đã được áp dụng ở nhiều nước trên thế giới.
Chúng ta đã có khái niệm thống nhất về việc làm được khẳng định trong Bộ luật Lao động của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam: "Mọi hoạt động lao động tạo ra thu nhập, không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm" [7, tr. Từ quan niệm trên ta thấy: Khái niệm việc làm bao hàm các nội dung sau: - Là hoạt động lao động của con người. - Hoạt động lao động nhằm mục đích tạo ra thu nhập. - Hoạt động lao động đó không bị pháp luật cấm.
Như vậy, khái niệm việc làm được mở rộng về nội hàm và tạo ra khả năng to lớn giải phóng tiềm năng lao động, giải quyết việc làm cho nhiều người. Việc chuẩn và lượng hoá khái niệm việc làm tạo ra cơ sở thống nhất trong lĩnh vực điều tra, nghiên cứu và hoạch định các chính sách về việc làm. Ở Việt Nam hiện nay, theo Bộ luật Lao động quy định độ tuổi lao động là những người đủ 15 tuổi đến 60 tuổi (với nam) và đủ 15 tuổi đến 55 tuổi (với nữ). - Nguồn lao động: Gồm những người đủ 15 tuổi trở lên có việc làm và những người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động, nhưng: - Đang thất nghiệp - Đang đi học 13 Luan van - Đang làm nội trợ trong gia đình mình.
- Không có nhu cầu làm việc.