CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH VIỆC LÀM 1. Cơ sở lý luận về thực hiện chính sách việc làm 1. Khái niệm về việc làm và thất nghiệp Để hiểu được khái niệm về việc làm và thất nghiệp, trước hết cần nghiên cứu các khái niệm: Khái niệm việc làm Như chúng ta biết, trước đây ở Việt Nam, trong cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, người lao động được coi là có việc làm và được xã hội thừa nhận, trân trọng người làm việc trong thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa (quốc danh, tập thể). [1] Khái niệm giải quyết việc làm Giải quyết việc làm là tổng thể các biện pháp, chính sách kinh tế, xã hội từ vi mô đến vĩ mô tác động đến người lao động có thể có việc làm.
Có thể khẳng định rằng từ khi đất nước đổi mới thì chính sách việc làm luôn được Đảng và nhà nước quan tâm, và đây là nhân tố quan trọng trong việc thúc đẩy tốc độ phát triển kinh tế của một Quốc gia, ổn định các vấn đề xã hội Xét ở góc độ chính sách công thì chính sách việc làm là một hệ thống các chính sách chung nhất và có mối quan hệ biện chứng qua lại với trong việc mở rộng và phát triển các ngành nghề tạo được nhiều việc làm ổn định và thu nhập cao, đặc biệt là có những chính sách việc làm cho người có hoàn cảng khó khăn trong xã hội như người khuyết tật, phụ nữ đơn thân… Nếu trong thực tế mà các cấp, các ngành điều thực hiện tốt các yêu cầu về chính sách việc làm, duy trì các chuổi liên kết trong sản xuất thì tình trạng 10 thất nghiệp trong xã hội sẽ hạn chế đáng kể, từ đó các chính sách xã hội khác như các chế độ về bảo hiểm xã hội sẽ giảm đi. Trong một xã hội công bằng, các Quốc gia đều làm tốt chính sách việc làm hay còn gọi là làm tốt chính sách an sinh xã hội thì Quốc gia đó nhất định sẽ có nền kinh tế phát triển cho dù Quốc gia đó phải gánh chịu nhiều rủi ro như thiên tai bất lợi, tài nguyên, khoán sản ít. * Nguồn lao động Ở mổi Quốc gia có việc tính tuổi lao động khác nhau theo quy định pháp luật của Quốc gia đó và phù hợp với điều kiện trong từng giai đoạn phát triển của đất nước mà do Quốc hội quyết định. Ở nước ta, theo quy định của Bộ luật lao động (2012) độ tuổi lao động đối với nam từ 15- 60 tuổi và nữ là từ đủ 15- 55 tuổi [1, tr.36] - Thị trường lao động Thị trường lao động được cấu thành bởi ba yếu tố: cung lao động; cầu lao động và giá cả sức lao động.
Giữa ba yếu tố này có mối liên quan, ảnh hưởng lẫn nhau [1,tr. * Lực lượng lao động Theo tổ chức lao động quốc tế (ILO): lực lượng lao động là một bộ phận dân số trong độ tuổi quy định, thực tế có tham gia lao động và những người không có việc làm đang tích cực tìm kiếm việc làm [1,tr. * Thiếu việc làm và thất nghiệp + Thiếu việc làm Thiếu việc làm được hiểu là một người đang làm việc nhưng họ không sử dụng hết thời gian đó cho một công việc mà họ phụ trách, hoặc làm những công việc mà nguồn thu nhập ( lương) không đảm bảo để trang trải cuộc sống của họ, xuất phát từ đó mà họ phải tranh thủ để tìm thêm việc làm nhằm tăng thêm thu nhập để đảm bảo yêu cầu chi tiêu tối thiểu mà họ cần 11 + Thất nghiệp Theo ILO, cho rằng: “Thất nghiệp là tình trạng tồn tại khi một số người trong lực lượng lao động muốn việc làm, nhưng không thể tìm được việc làm ở mức tiền công đang thịnh hành” [1,tr. Người thất nghiệp là người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động, không có việc làm và đang có nhu cầu tìm vệc làm 1.
Vai trò, ý nghĩa của việc thực hiện chính sách việc làm Có thể nói rằng việc làm và chính sách việc làm có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế- xã hội của đất nước và của mổi địa phương. Bởi vì, con người là mục tiêu, động lực của sự phát triển kinh tế và là yếu tố tạo ra lợi ích kinh tế- xã hội Chính vì vậy, mà mục đích cuối cùng của nhiệm vụ phát triển kinh tế- xã hội là làm sao cho cộc sống của người dân ngày càng giàu có hơn, no ấm ơn, đầy đủ hơn nhằm để hạn chế các vấn đề phức tạp trong xã hội phát sinh, xây dựng xã hội ngày càng văn minh, hiện đại. Huyện Bình sơn là địa bàn nằm trong Khu kinh tế Dung Quất, có nhiều doanh nghiệp đang hoạt động, từ đó nhiều diện tích đất nông nghiệp dần dần bị thu hồi để mở rộng nhà máy lọc dầu và nhường đất cho các công ty, xí nghiệp đang sản xuất kinh doanh trên địa bàn. Đễ đảm bảo tiến trình CNH- HĐH đất nước thì hằng năm các địa phương phải mất đi khoảng diện tích đất nông nghiệp để bàn giao cho các nhà đầu tư.
Chính vì vậy, diện tích đất nông nghiệp lại giảm xuống từ đó kéo theo giảm việc làm cho người nông dân. Ruộng đết bị thu hẹp, lao động thừa, việc làm thiếu và thu nhập thấp, đời sống nông dân càng khó khăn, khoản cách giàu nghèo giữa nông thôn và thành thị có xu hướng gia tăng. Nội dung và các bước thực hiện chính sách việc làm a. Đào tạo nghề cho người lao động Đào tạo nghề cho người lao động là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước, 12 của các cấp, các ngành và toàn xã hội nhằm nâng cao chất lượng lao động nông thôn, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại nông nghiệp, nông thôn.
Nhà nước tăng cường đầu tư để phát triển đào tạo nghề cho người lao động, có chính sách đảm bảo thực hiện công bằng xã hội về cơ hội học nghề đối với mọi lao động nông thôn, khuyến khích, huy động và tạo điều kiện để toàn xã hội tham gia đào tạo nghề cho người lao động. Chính vì vậy mà chúng ta cần phải hoàn thiện chính sách đào tạo và đào tạo lại nghề phổ thông cũng như đào tạo nghề bậc cao cho lực lượng lao động; thực hiện xã hội hóa đào tạo nghề cho người lao động nhằm phát huy mọi nguồn lực trong nước và nước ngoài để đầu tư cho hệ thống dạy nghề; nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện ở các cấp học, tạo tiền đề cho đào tạo nghề, chuyên môn nghiệp vụ cho người lao động; tư vấn nghề nghiệp đối với học sinh mới tốt nghiệp phổ thông; gắn dạy nghề với tạo việc làm cho người lao động… là đòi hỏi đầu tiên và tiền đề của việc tạo việc làm cho người lao động. Trang bị thêm công cụ cho người lao động Khuyến khích sử dụng nguồn nhân lực đông, bằng cách đầu tư các trang thiết bị mới áp dụng công nghệ sử dụng nhiều lao động sống trong các khu sản xuất, công cụ chủ yếu là máy móc, thiết bị công nghiệp, công nghiệp có quy mô vừa và nhỏ, tiểu thủ công nghiệp, nông nghiệp ứng dụng kỹ thuật cao; thông qua chính sách miễn giảm thuế nhập khẩu máy móc thiết bị cho doanh nghiệp, trợ cấp tín dụng, phương thức hổ trợ ưu đãi giá thuê mặt bằng sản xuất kinh doanh, chuyển giao công nghệ, cải tiến máy móc, thiết bị… theo chương trình khuyến công, khuyến nông… chính sách đầu tư và thu hút đầu tư hợp lý vào lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ nhằm tạo nhiều chổ việc làm cho người lao động. Hổ trợ vốn cho người lao động Hiện nay, hầu hết các hộ gia đình nông thôn đều khó khăn về vốn, đặc 13 biệt những hộ sau khi bị thu hồi đất, việc thay đổi phương thức sản xuất càng làm cho yêu cầu về vốn cao hơn trước.
Nhà nước cần có chính sách cho vay thiết thực hơn các hộ có nhu cầu vay vốn và tạo điều kiện cho các hộ có khả năng chi trả sau khi vay. Ưu tiên cho vay từ các nguồn vốn khác nhau với lãi xuất ưu đãi. Cần thường xuyên kiểm soát việc sử dụng tiền vốn và hướng dẫn họ sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả. Nâng cao vai trò các quỷ tín dụng, quỹ xói đói giảm nghèo, quỹ quốc gia về giải quyết việc làm để hổ trợ cho các hộ gia đình, các cơ sở công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, làng nghề… d.
Phát triển các ngành nghề phù hợp Để tạo được nhiều chổ làm việc cho người lao động trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế, cần chú ý vừa phát triển các ngành kinh tế theo chiều rộng và chiều sâu. Để phát triễn kinh tế theo chiều rộng và chiều sâu, trước hết cần có những chính sách cụ thể thu hút và khuyến khích đầu tư nước ngoài vào các khu công nghiệp lớn, phát triển sản xuất các khu công nghiệp lớn, khu công nghệ cao. Để thúc đẩy các ngành nghề thủ công phát triển, tạo cơ hội việc làm cho người lao động. Việc khôi phục các làng nghề truyền thống, có vai trò vô cùng quan trọng; nó không chỉ sản xuất ra các sản phẩm hàng hóa, bảo tồn được nét văn hóa truyền thống của dân tộc mà còn góp phần tạo công ăn việc làm nâng cao đời sống cho người lao động.
Bên cạnh đó thì chính quyền các cấp cùng với nhà nước hướng dẫn cho người dân về kỷ thuật, cây giống, con giống và đặc biệt là thị trường tiêu thụ ổn định lâu dài. Đẩy mạnh xuất khẩu lao động Xuất khẩu lao động là một trong những giải pháp được các nước trên thế giới quan tâm và khai thác tối đa. Thông qua việc xuất khẩu lao động không chỉ giảm bớt gánh nặng về việc làm trước mắt trong nước, mà hàng năm còn thu về một lượng ngoại tệ đáng kể do người đi lao động nước ngoài gởi về. 14 Mặt khác, thông qua xuất khẩu lao động, người lao động học hỏi và tiếp nhận được kỹ thuật hiện đại, phương pháp làm việc tiên tiến, tác phong công nghiệp của người lao động tại các nước phát triễn.
Cùng với xuất khẩu lao động ra nước ngoài, cần có chính sách thu hút xuất khẩu lao động tại chổ thông qua hình thức gia công sản phẩm theo đơn đặt hàng của nước ngoài và lao động làm việc tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.