Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý luận về hoạt động xuất khẩu lao động. Chương 3: Thực trạng hoạt động xuất khẩu lao động của Công ty cổ phần xuất khẩu lao động và chuyên gia Thanh Hóa sang thị trường Nhật Bản. Chương 4: Giải pháp thúc đẩy hoạt động xuất khẩu lao động của Công ty cổ phần dịch vụ xuất khẩu lao động và chuyên gia Thanh Hóa sang thị trường Nhật Bản.
SVTH: Đỗ Thị Huyền Trang 3 GVHD: ThS. Phan Thu Giang Luan van Trường Đại học Thường Mại Khoa Thương mại quốc tế Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG 2. Một số khái niệm cơ bản. Nguồn lao động.
Nguồn lao động: Là một bộ phận của dân cư gồm những người trong độ tuổi lao động ( không kể những người mất khả năng lao động ) và những người ngoài độ tuổi lao động nhưng thực tế có tham gia lao động. Lao động: Là hoạt động có mục đích, có ý thức của cong người nhằm thay đổi các vật thể tự nhiên phù hợp với nhu cầu con người. Thực chất là sự vận động của sức lao động trong quá trình tạo ra của cải vật chất cho xã hội. Lao động cũng chính là quá trình kết hợp của sức lao động và tư liệu sản xuất để sản xuất ra những sản phẩm phục vụ nhu cầu con người.
Có thể nói lao động là yếu tố quyết định cho mọi hoạt động kinh tế. Sức lao động. Sức lao động: Là tổng hợp thể lực và trí lực của con người trong quá trình tạo ra của cải xã hội, nó phản ánh khả năng lao động của con người, là điều kiện đầu tiên cần thiết trong quá trình lao động xã hội. Trong nền kinh tế hàng hóa, sức lao động được coi là một loại hàng hóa đặc biệt.
Nó không chỉ có giá trị và giá trị sử dụng như các hàng hóa khác mà còn là một sản phẩm có tư duy, có đời sống văn hóa tinh thần. Thông qua thị trường lao động, sức lao động được xác định giá cả. Hàng hóa sức lao động cũng tuân theo quy luật cung cầu của thị trường. Thị trường lao động.
Trong mỗi xã hội, nơi nào xuất hiện nhu cầu sử dụng lao động và có nguồn lao động cung cấp, ở đó sẽ hình thành nên thị trường lao động. Trong nền kinh tế thị trường, người lao động muốn tìm việc phải thông qua thị trường lao động. Thị trường lao động: Là một lĩnh vực của nền kinh tế, bao gồm toàn bộ các quan hệ lao động được xác lập trong lĩnh vực mua bán, trao đổi và thuê mướn sức lao động. thị trường lao động bao gồm thị trường lao động trong nước và thị trường lao động quốc tế.
SVTH: Đỗ Thị Huyền Trang 4 GVHD: ThS. Phan Thu Giang Luan van Trường Đại học Thường Mại Khoa Thương mại quốc tế - Thị trường lao động trong nước: Là loại thị trường mà nguồn lao động có thể tự do di chuyển từ nơi này đến nơi khác để bán sức lao động để bán sức lao động cho chủ sử dụng lao động trong phạm vi lãnh thổ một quốc gia. - Thị trường lao động quốc tế: là loại thị trường mà nguồn lao động có thể di chuyển từ quốc gia này sang quốc gia khác để làm việc thông qua các thỏa thuận, các hiệp định giữa các quốc gia trên toàn thế giới. Trên thị trường lao động, mối quan hệ được xác lập giữa một bên là người lao động và một bên là người sử dụng lao động.
Cung – cầu lao động ảnh hưởng đến tiền công lao động - Cầu lao động: là lượng lao động mà người thuê có thể thuê được ở mỗi mức giá nhất định. Khi giá cả lao động tăng hoặc giảm sẽ làm cho nhu cầu về lao động giảm hoặc tăng. - Cung lao động: Là lượng lao động mà người làm thuê có thể chấp nhận được ở mỗi mức giá nhất định. Cung lao động có mối quan hệ tỷ lệ thuận với giá cả.
Khi giá cả tăng lượng cung lao động tăng và ngược lại. Di dân quốc tế. Di dân quốc tế: Được hiểu là quá trình di chuyển lao động từ nước này sang nước khác để tìm việc làm. Nếu xét theo khía cạnh dân số học thì xuất khẩu lao động cũng là một quá trình di dân quốc tế.
Do đó, việc đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài chính là tham gia vào quá trình di dân quốc tế. Khái niệm xuất khẩu lao động. Đến nay, thế giới vẫn chưa có khái niệm chuẩn nào về xuất khẩ lao động. Vì vậy chúng ta có thể hiểu xuất khẩu lao động thông qua khái niệm của tổ chức lao động quốc tế như sau: Xuất khẩu lao động: Được hiểu là hoạt động kinh tế của một quốc gia thực hiện việc cung ứng lao động cho một quốc gia khác trên cơ sở những hiệp định hoặc hợp đồng có tính chất hợp pháp, được sự thống nhất giữa các quốc gia đưa và nhận lao động.
Như vậy: - Theo nghĩa rộng: XKLĐ là việc đưa người lao động ở Việt Nam sang làm việc tại nước ngoài. SVTH: Đỗ Thị Huyền Trang 5 GVHD: ThS. Phan Thu Giang Luan van Trường Đại học Thường Mại Khoa Thương mại quốc tế - Theo nghĩa hẹp: XKLĐ là hoạt động đưa người lao động và các chuyên gia Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài. Một số lý thuyết về xuất khẩu lao động.
Đặc điểm của hoạt động xuất khẩu lao động. - Xuất khẩu lao động là một hoạt động kinh tế. Đây là mục tiêu số một của các nước xuất khẩu lao động. XKLĐ không chỉ là giải pháp quan trọng nhằm giải quyết lao động tăng thêm mà còn thu được nhiều ngoại tệ về nước.
XKLĐ thực hiện chức năng kinh doanh, thực hiện mục tiêu lợi nhuận của doanh nghiệp, đồng thời để thỏa mãn lợi ích kinh tế của người lao động đi làm việc tại nước ngoài. - Xuất khẩu lao động là hoạt động mang tính chất xã hội. Vì XKLĐ thực chất là xuất khẩu sức lao động, mà sức lao động luôn ngắn với một người lao động cụ thể. Do vậy mọi chính sách XKLĐ phải gắn với chính sách xã hội: chính sách BHXH, giải quyết việc làm sau khi hết hạn hợp đồng, đầm bảo các cam kết trong hợp đồng được thực hiện đúng.
- Hàng hóa được xuất khẩu ở đây là hàng hóa đặc biệt. XKLĐ thực chất là xuất khẩu sức lao động không tắc khỏi người lao động. Sức lao động bao gồm: trí tuệ, sức lực tiểm ẩn trong mỗi người lao động - Xuất khẩu lao động là sự kết hợp hài hòa giữ quản lý vĩ mô của Nhà nước và sự chủ động, tự chịu trách nhiệm của tổ chức XKLĐ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngòai. Ngày nay, trong cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế thì hầu như toàn bộ hoạt động XKLĐ đều do các tố chức XKLĐ thực hiện trên cơ sở hợp đồng đã kí.
Đồng thời các tổ chức XKLĐ phải chịu trách nhiệm hòan tòan về kinh tế trong họat động XKLĐ của mình. Các hiệp định các thỏa thuận song phương mà chính phủ cam kết mang tính chất nguyên tắc, thể hiện vai trò của nhà nước ở tầm vĩ mô - Xuất khẩu lao động phải đảm bảo lợi ích của ba bên trong quan hệ XKLĐ. Trong lĩnh vực XKLĐ, lợi ích kinh tế của nhà nước là khoản ngoạitệ mà người lao động gửi về nộp các khoản thuế. Lợi ích của các tổ chức lao động là các khoản thu được chủ yếu là các loại chi phí giải quyết việc làm ở nước ngoài, còn lợi ích của người lao động là khoản thu nhập thường cao hơn nhiều so với lao động trong nước.
SVTH: Đỗ Thị Huyền Trang 6 GVHD: ThS. Phan Thu Giang Luan van Trường Đại học Thường Mại Khoa Thương mại quốc tế - XKLĐ là hoạt động đầy biến động. Vì hoạt động xuất khẩu phụ thuộc nhiều vào các nước có nhu cầu nhập khẩu lao động, do vậy cần phải có sự phát triển toàn diện các dự án đầu tư ở nước ngoài đang và sẽ được thực hiện để xây dựng chính sách đầu tư và chương trình giáo dục định hướng phù hợp và linh hoạt. Các hình thức xuất khẩu lao động.
Hình thức xuất khẩu lao động là cách thức thực hiện việc đưa người lao động đi làm có thời hạn ở nước ngoài do Nhà nước quy định. - Cung ứng lao động theo các hợp đồng cam kết với bên nước ngoài. Đây là trường hợp các tổ chức kinh tế Việt nam được XKLĐ, tuyển dụng lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng cung ứng lao động. Hình thức này tương đối phổ biến và được thực hiện rộng rãi trong các năm vừa qua và những năm tới.
- Đưa lao động đi lao động theo hợp đồng nhận thầu, khoán công trình ở nước ngoài, đầu tư ra nước ngoài. Đây là hình thức doanh nghiệp tuyển lao động, chuyên gia Việt nam đi làm việc ở nước ngoài để thực hiện hoạt động kinh tế với nước ngoài. Các doanh nghiệp Việt nam trúng thầu, nhận khoán công trình ở nước ngoài hoặc đầu tư dưới hình thức liên doanh, liên kết, chia sản phẩm hoặc các hình thức đầu tư khác ở nước ngoài. Theo hình thức này, bên nước ngoài đặt hàng cho các công trình xây dựng, do vậy doanh nghiệp trong nước phải đưa đi toàn bộ các đối tượng lao động gồm có kỹ thuật, quản lý, chỉ đạo thi công và lao động trực tiếp sang nước ngoài làm việc.
sau khi công trình kết thúc thì cũng chấm dứt hợp đồng đối với người lao động. Vì thế xuất khẩu lao động theo hình thức này thường không ổn định, tâm lý của người lao động không ổn định, dễ chán nản và không tận tâm với công việc. - Theo hợp đồng lao động giữa các cá nhân, người lao động với người sử dụng lao động ở nước ngoài. Đây là hình thức phổ biến nhất hiện nay, hình thức này đòi hỏi đối tượng lao động đa dạng tùy theo yêu cầu và mức độ phức tạp của công việc.
Có những yêu cầu của người nước ngoài đòi hỏi người có trình độ kỹ thuật, kinh nghiệm sản xuất, kinh nghiệm quản lý, cũng có những yêu cầu chỉ cần người lao động có trình độ giản đơn. SVTH: Đỗ Thị Huyền Trang 7 GVHD: ThS. Phan Thu Giang Luan van Trường Đại học Thường Mại Khoa Thương mại quốc tế Ngoài những hình thức đưa lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài, hình thức xuất khẩu lao động tại chỗ cũng đã trở nên phổ biến hơn ở Việt Nam.