Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động xuất khẩu. - Chương 2: Thực trạng ngành chế biến xuất khẩu hạt điều tỉnh Bình Phước. - Chương 3: Giải pháp cơ bản nhằm đẩy mạnh xuất khẩu hạt điều tỉnh Bình Phước. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU 1.
Quan niệm chung về hoạt động xuất khẩu 1. Khái niệm về hoạt động xuất khẩu Hoạt động xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ là một hoạt động cơ bản trong kinh tế đối ngoại của một quốc gia và là phương tiện thúc đẩy nền kinh tế của quốc gia đó phát triển. Bởi vì, hoạt động xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ có liên quan đến tất cả các hoạt động kinh tế khác của nền kinh tế như: Sản xuất, trao đổi, tiêu thụ… Việc mở rộng và gia tăng xuất khẩu sẽ làm gia tăng thu ngoại tệ, giúp duy trì cán cân thanh toán quốc tế, đảm bảo có đầy đủ ngoại tệ cho nhu cầu nhập khẩu, đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ còn có tác động tạo thêm công ăn việc làm, đây chính là mục tiêu quan trọng của chính sách thương mại quốc tế của tất cả các nước. Xuất khẩu thường được thể hiện dưới các hoạt động chủ yếu như: Xuất khẩu hàng hóa hữu hình, xuất khẩu hàng hóa vô hình ( xuất khẩu dịch vụ), tạm nhập tái xuất và xuất khẩu tại chỗ.
Vai trò của xuất khẩu trong nền kinh tế Xuất khẩu có một vai trò cực kỳ quan trọng cho sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế. Điều này được thể hiện ở một số đặc điểm cụ thể sau đây: Thứ nhất, xuất khẩu tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu. Để phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đòi hỏi phải có một nguồn vốn lớn nhập khẩu máy móc, thiết bị, kỹ thuật, công nghệ tiên tiến, hiện đại. Nguồn vốn ngoại tệ có thể có từ các nguồn sau: Xuất khẩu, đầu tư nước ngoài, vay nợ, viện trợ, thu từ hoạt động du lịch, dịch vụ có thu ngoại tệ, xuất khẩu lao động… trong các nguồn trên thì xuất khẩu là nguồn vốn quan trọng nhất để nhập TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Xuất khẩu quyết định tốc độ và quy mô nhập khẩu. Ở Việt Nam, trong thời kỳ 1986-1990 nguồn thu xuất khẩu đã đảm bảo trên 55% nhu cầu ngoại tệ cho nhập khẩu, tương tự giai đoạn 1991-1995 là 75,3% và 1996-2000 là 84,5% giai đoạn 2001-2010 khoảng 85,17%. Thứ hai, xuất khẩu đóng góp vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển. có hai cách nhìn đối với tác động của xuất khẩu đến sản xuất và chuyển dịch cơ cấu kinh tế: 1) Quan điểm thứ nhất cho rằng xuất khẩu chỉ là việc tiêu thụ những hàng hóa thừa trong nước do vượt quá nhu cầu nội địa; 2) Quan điểm thứ hai coi thị trường thế giới là hướng quan trọng để tổ chức sản xuất.
Chính quan điểm này làm cho xuất khẩu có tác dụng tích cực đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển. Thể hiện ở các mặt sau: Một là: Xuất khẩu tạo điều kiện cho sự phát triển của các ngành khác. Xuất khẩu không chỉ có tác động làm gia tăng nguồn thu ngoại tệ mà việc gia tăng xuất khẩu một mặt hàng nào đó sẽ giúp tăng nhu cầu sản xuất, kinh doanh ở những ngành khác có liên quan. Ví dụ: Việc xuất khẩu hàng dệt may phát triển sẽ giúp phát triển các ngành nông nghiệp trồng bông, ngành sợi, các ngành nuôi tơ tằm… Hai là, Xuất khẩu tạo ra khả năng mở rộng thị trường tiêu thụ ra nước ngoài, điều này sẽ giúp cho sản xuất ổn định, phát triển do thị trường rộng lớn hơn thay vì chỉ có thị trường trong nước.
Nếu một thị trường nào đó bị thu hẹp thì sẽ còn thị trường khác để tiêu thụ hàng hóa do mình sản xuất ra. Nếu chỉ có tiêu thụ trong nước thì khi thị trường trong nước bị thu hẹp do khủng hoảng kinh tế hay suy thoái kinh tế trong nước thì doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn do không tiêu thụ được hàng hóa. Ba là, Xuất khẩu tạo điều kiện mở rộng khả năng cung cấp đầu vào cho sản xuất, nâng cao năng lực sản xuất trong nước. Thông qua cạnh tranh trong TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com xuất khẩu các doanh nghiệp sẽ buộc phải thích nghi bằng cách nâng cao chất lượng hàng hóa để đáp ứng các yêu cầu của thị trường nước ngoài.
Muốn đầu ra chất lượng thì đòi hỏi đầu vào cũng phải chất lượng. Bốn là, thông qua cạnh tranh trong xuất khẩu buộc các doanh nghiệp phải không ngừng cải tiến sản xuất, tìm kiếm những cách thức kinh doanh sao cho hiệu quả nhất để làm giảm chi phí, tăng năng suất. Sau một thời gian dài, các doanh nghiệp xuất khẩu sẽ dần tạo được “ sức đề kháng” đối với sự cạnh tranh. Điều này còn có ý nghĩa làm cho một nền kinh tế trở nên vững vàng hơn khi những doanh nghiệp có sức cạnh tranh cao.
Thứ ba, xuất khẩu có tác dụng tích cực đến việc giải quyết việc làm và cải thiện đời sống nhân dân, tác dụng đến nhiều mặt của đời sống kinh tế-xã hội, thể hiện ở các mặt sau: - Xuất khẩu gia tăng GDP giúp tăng thu nhập quốc dân, từ đó tác dụng làm tăng tiêu dùng nội địa. Tiêu dùng nội địa tăng lại là nhân tố kích thích sản xuất mở rộng và đưa nền kinh tế tăng trưởng. - Xuất khẩu gia tăng sẽ tạo thêm công ăn việc làm cho nền kinh tế nhất là trong những ngành sản xuất hàng hóa và những ngành có liên quan đến ngành hàng xuất khẩu. - Xuất khẩu gia tăng sẽ làm tăng đầu tư trong các ngành sản xuất hàng hóa, cũng như các ngành liên quan đến sản xuất hàng hóa xuất khẩu.
Đầu tư gia tăng cũng là nhân tố kích thích tăng trưởng của nền kinh tế. Các lý thuyết chủ yếu về hoạt động xuất khẩu 1. Lý thuyết về lợi thế tuyệt đối của Adam Smith Một số nét chính của học thuyết: TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Thương mại, đặc biệt là thương mại quốc tế có tác dụng thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế của một quốc gia. - Mỗi quốc gia chuyên môn hóa vào những ngành sản xuất mà họ có lợi thế tuyệt đối chẳng hạn như tài nguyên thiên nhiên dễ khai thác, lao động dồi dào, giá nhân công rẻ….
đồng thời chỉ xuất khẩu những hàng hóa mà họ có lợi thế tuyệt đối. - Thương mại không là quy luật trò chơi bằng không mà là luật chơi tích cực theo đó các quốc gia đều có lợi trong thương mại quốc tế. Lý thuyết tuyệt đối của Adam Smith có hạn chế nếu các quốc gia không có lợi thế tuyệt đối, nghĩa là không có những ưu đãi của tự nhiên, điều kiện địa lý không thuận lợi… thì không thể tham gia vào hoạt động ngoại thương. Nhưng trong thực tế các nước vẫn có thể tham gia hoạt động thương mại quốc tế, trao đổi hàng hóa với nhau.
Mặt dù, lý thuyết này chưa chỉ ra được tại sao mậu dịch quốc tế vẫn có thể xảy ra giữa hai nước mà cả hai đều không có lợi thế tuyệt đối về sản phẩm nào nhưng nó là nền tảng lý luận ban đầu cho thương mại quốc tế. Vận dụng học thuyết này ta thấy Việt Nam nên tập trung vào phát triển sản xuất các ngành sử dụng nguyên liệu từ nguồn tài nguyên dồi dào của quốc gia, chi phí lao động thấp, đội ngũ công nhân lành nghề nhằm bảo đảm cung cấp thị trường nội địa và đẩy mạnh xuất khẩu. Lý thuyết về lợi thế so sánh của D.Ricardo là một học giả nổi tiếng người Anh, trên cơ sở nghiên cứu quy luật giá trị, ông đã phát hiện ra lý thuyết lợi thế so sánh và giải thích được các nước khi không có lợi thế tuyệt đối vẫn tham gia vào trao đổi quốc tế nếu biết phát huy lợi thế so sánh các mặt hàng mà nước mình sản xuất. Lý thuyết này đã TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com khắc phục những hạn chế của lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith đã phát hiện, một số nét chính của học thuyết lợi thế so sánh của D.Ricardo: Một là, một nước luôn có thể và rất có lợi khi tham gia vào phân công lao động quốc tế.
Hai là, thương mại quốc tế có thể xảy ra khi có lợi thế so sánh. Lợi thế so sánh tồn tại bất cứ khi nào mà tương quan về lao động cho mỗi sản phẩm khác nhau giữa hai hàng hóa. Ba là, các quốc gia có thể chuyên môn hóa và xuất khẩu sản phẩm mà họ không có lợi thế tuyệt đối so với nước khác, nhưng có lợi thế tuyệt đối giữa hai sản phẩm trong nước, tức là sản phẩm có lợi thế tương đối (hay lợi thế so sánh) và nhập khẩu sản phẩm mà lợi thế tuyệt đối nhỏ hơn giữa hai sản phẩm trong nước (sản phẩm không có lợi thế so sánh). Công thức tính lợi thế so sánh của một sản phẩm X giữa hai quốc gia, hay giữa các nước trong cùng khu vực như sau: RCA=E1/Ec/E2/Ew Trong đó: - RCA ( rate of comparative advantage) hệ số thể hiện lợi thế so sánh - E1: Kim ngạch xuất khẩu sản phẩm X của quốc gia trong một năm.
- Ec: Tổng kim ngạch xuất khẩu của quốc gia trong một năm. - E2: Kim ngạch xuất khẩu sản phẩm X của thế giới trong một năm - Ew: Tổng kim ngạch xuất khẩu của thế giới trong một năm. - Nếu RCA ≤ 1: sản phẩm không có lợi thế so sánh. - Nếu 1≤ RCA ≤ 2,5 sản phẩm có lợi thế so sánh.
- Nếu RCA ≥ 2,5 sản phẩm có lợi thế so sánh rất cao. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Việc vận dụng học thuyết này ta thấy để đẩy mạnh thương mại quốc tế bên cạnh khai thác, phát huy tốt các lợi thế về tài nguyên thiên nhiên, còn phải tăng cường việc cải tiến kỹ thuật công nghệ trong quá trình sản xuất, không ngừng hoàn thiện các quy trình sản xuất, đổi mới thiết bị, cải tiến mẫu mã… 1. Lý thuyết về tỷ lệ cân đối các yếu tố sản xuất của Hecksher- Ohlin ( H-O) Hecksher – Ohlin là hai nhà kinh tế học Thụy Điển đã đưa ra cách lý giải mới về nguồn quốc lợi thế so sánh. Theo hai ông lợi thế so sánh của một quốc gia xuất phát từ sự khác biệt về mức độ sẵn có của các yếu tố sản xuất: Đất đai, lao động và tư bản.
Theo hai ông, nếu các yếu tố sản xuất càng dồi dào thì giá cả của nó càng rẻ và ngược lại.