LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài: Từ khi gia nhập WTO đến nay, nền kinh tế Việt Nam ngày càng hội nhập sâu và rộng vào nền kinh tế thế giới. Cạnh tranh trong nước diễn ra rất gay gắt, với sự tham gia của rất nhiều các công ty, với đủ mọi loại hình doanh nghiệp như doanh nghiệp trong nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và cả doanh nghiệp nước ngoài. Vì vậy, xuất khẩu được coi là một trong những biện pháp nhằm góp phần giải quyết hàng tồn kho, nâng cao được vị thế của doanh nghiệp, góp phần làm gia tăng lợi nhuận và mở rộng thị trường tiêu thụ cho doanh nghiệp.
Nhận thức rõ được điều này, nhiều công ty trong nước đã từng bước xây dựng kế hoạch xuất khẩu hàng hóa của mình ra các quốc gia trên thế giới, và coi đây là một bước đi lâu dài, quan trọng góp phần vào sự thành công của doanh nghiệp. Chính phủ Việt Nam trong thời gian qua cũng đã không ngừng tạo điều kiện hỗ trợ các doanh nghiệp tham gia xuất khẩu hàng hóa, như miễn giảm thuế, cải cách các thủ tục thông quan xuất khẩu, cho các doanh nghiệp vay vốn ưu đãi… Chính vì vậy, xuất khẩu đã có những đóng góp không nhỏ trong quá trình CNH – HĐH đất nước, tăng tích lũy ngoại tệ cho quốc gia, góp phần chuyển đổi cơ cấu kinh tế, giải quyết công ăn việc làm và nâng cao đời sống nhân dân. Với lợi thế về nguồn nguyên liệu sản xuất, hàng thủy tinh gốm sứ xây dựng của Việt Nam được xuất khẩu rộng rãi, mang lại thành công và danh tiếng cho Tổng công ty Thủy tinh gốm sứ xây dựng Viglacera nói chung và Công ty CP Viglacera Hạ Long nói riêng, góp phần nâng cao được năng lực cạnh tranh của công ty trên thị trường các nước, trong đó có thị trường các nước Đông Nam Á (Asean). Đây là thị trường truyền thống, lâu dài, với những đặc điểm thị trường tương đồng với Việt Nam và gần gũi về mặt địa lý.
Do đó, trong những năm vừa qua, kim ngạch xuất khẩu hàng thủy tinh gốm sứ xây dựng của công ty CP Viglacera Hạ Long liên tục tăng, đóng góp trên 20% doanh số xuất khẩu và được công ty lựa chọn làm một trong những thị trường chủ lực để phát triển trong thời gian tới. 1 Cùng với những thuận lợi khi là thành viên chính thức của Asean, hàng thủy tinh gốm sứ xây dựng của Việt Nam cũng gặp phải những khó khăn, nhất là từ năm 2005, khi hiệp định CEPT/AFTA có hiệu lực từ năm 2005, buộc công ty CP Viglacera Hạ Long phải có những biện pháp nhằm duy trì và phát triển hoạt động xuất khẩu sang thị trường các nước Đông Nam Á. Mặc dù đã có nhận thức về điều này, tuy nhiên trong quá trình thực hiện, công ty phải đối mặt với không ít khó khăn, hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh còn thấp, năng lực xuất khẩu hàng thủy tinh gốm sứ xây dựng sang thị trường Asean chưa được cải thiện đáng kể. Vì vậy, nhận thấy tính cấp thiết phải đẩy mạnh xuất khẩu hàng thủy tinh gốm sứ xây dựng của công ty, tôi xin mạnh dạn lựa chọn đề tài: “ Đẩy mạnh xuất khẩu hàng thủy tinh gốm sứ xây dựng của Công ty CP Viglacera Hạ Long sang thị trường Đông Nam Á” 2.
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu: Mục đích: Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích những vấn đề lý luận và thực tiễn về hoạt động sản xuất và kinh doanh xuất khẩu hàng thủy tinh gốm sứ xây dựng của công ty CP Viglacera Hạ Long để từ đó nêu lên các định hướng và giải pháp nhằm đẩy mạnh xuất khẩu các mặt hàng này sang thị trường Đông Nam Á. Nhiệm vụ: Hệ thống hóa một số cơ sở lý luận cơ bản về hoạt động xuất khẩu hàng thủy tinh gốm sứ xây dựng, cũng như làm rõ được sự cần thiết phải xuất khẩu mặt hàng này tại Công ty CP Viglacera Hạ Long. Phân tích thực trạng xuất khẩu của công ty để tìm ra những vấn đề còn vướng mắc và nguyên nhân làm hạn chế năng lực xuất khẩu của công ty. Kết hợp mục tiêu trung và dài hạn của Công ty để đưa ra những kiến nghị, đề xuất nhằm nâng cao năng lực xuất khẩu sang thị trường Đông Nam Á trong thời gian tới 2 3.
Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của đề tài tập trung vào các hoạt động sản xuất, quản lý và kinh doanh xuất khẩu. Phạm vi nghiên cứu: Trên cơ sở nghiên cứu tình hình xuất khẩu mặt hàng thủy tinh gốm sứ xây dựng của Công ty CP Viglacera Hạ Long sang thị trường các nước Đông Nam Á, do thời gian hạn hẹp và khả năng nhận định, phân tích của bản thân còn hạn chế nên : - Phạm vi nghiên cứu về thời gian: trong giai đoạn từ năm 2010 đến hết 2014. Thông qua số liệu các năm có thể đưa ra đánh giá được về tình hình xuất khẩu của Công ty CP Viglacera Hạ Long. - Phạm vi nghiên cứu về không gian: tại Công ty CP Viglacera Hạ Long - Giới hạn mặt hàng nghiên cứu: Thủy tinh gốm sứ xây dựng vì đây là mặt hàng chủ lực, đóng góp phần lớn vào doanh thu của Công ty Viglacera Hạ Long.
- Giới hạn thị trường nghiên cứu: Thị trường Đông Nam Á 4. Phƣơng pháp nghiên cứu: - Phương pháp hệ thống hóa lí thuyết - Phương pháp tiếp cận thực tiễn - Phương pháp tổ hợp và mô hình hóa - Phương pháp phân tích và tổng kết kinh nghiệm 5. Kết cấu luận văn: Ngoài phần mở bài, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn bao gồm những chương như sau: Chƣơng 1 Cơ sở khoa học của đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa Chƣơng 2: Thực trạng xuất khẩu hàng thủy tinh gốm sứ xây dựng của Công ty CP Viglacera Hạ Long sang thị trường Đông Nam Á. Chƣơng 3: Giải pháp nhằm đẩy mạnh xuất khẩu hàng thủy tinh gốm sứ xây dựng của Công ty CP Viglacera Hạ Long sang thị trường Đông Nam Á.
3 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐẨY MẠNH Comment [PT1]: XUẤT KHẨU HÀNG HÓA 1. Khái niệm và vai trò của đẩy mạnh xuất khẩu Comment [PT2]: Nguồn TLTK 1. Khái niệm đẩy mạnh xuất khẩu Đẩy mạnh xuất khẩu là các biện pháp nhằm tăng cường các hoạt động trao đổi hàng hóa và dịch vụ của một quốc gia với các quốc gia khác dưới hình thức mua bán thông qua quan hệ thị trường nhằm khai thác lợi thế của một quốc gia trong phân công lao động quốc tế. Đây là hoạt động diễn ra trên mọi lĩnh vực, trong mọi điều kiện kinh tế, từ xuất khẩu hàng hóa tiêu dung cho đến tư liệu sản xuất, máy móc thiết bị, công nghệ kỹ thuật cao.
Tất cả các hoạt động đó đều nhằm đem lại lợi ích cho quốc gia. Đẩy mạnh xuất khẩu diễn ra trên phạm vi rộng cả về không gian và thời gian. Nó có thể diễn ra trong một thời gian ngắn hoặc có thể kéo dài hàng năm. Đồng thời, nó có thể được tiến hành trên phạm vi một quốc gia hay nhiều quốc gia khác 1 Comment [PT3]: Mục đích đẩy mạnh XKHH nhau.
Ngày nay, các quốc gia trên thế giới dù là những nước lớn hay những quốc gia đang phát triển như Việt Nam thì đẩy mạnh xuất khẩu vẫn là việc làm cần thiết. Bởi lẽ, đẩy mạnh xuất khẩu sẽ góp phần tăng tổng sản phẩm kinh tế quốc dân, phát triển kinh tế, cải thiện đời sống nhân dân và tăng tiềm lực về an ninh quốc phòng. Do đó, đẩy mạnh xuất khẩu là việc làm hết sức quan trọng, có ý nghĩa trước mắt và lâu dài đối với một quốc gia. Nhưng TLTK??? 1.
Các phương thức xuất khẩu Phương thức xuất khẩu là phương thức mà các doanh nghiệp sử dụng để thực hiện các mục tiêu và kế hoach kinh doanh của mình trên thị trường thế giới. Những phương thức này quy định những thủ tục cần tiến hành, các điều kiện giao dịch, các thao tác và chứng từ cần thiết trong quan hệ kinh doanh. Có rất nhiều phương thức 1 TS TRẦN VĂN HÒE 2007, trg 22 4 xuất khẩu khác nhau như xuất khẩu trực tiếp, xuất khẩu qua khâu trung gian, qua hội trợ triển lãm…Tuy nhiên phổ biến và được nhiều doanh nghiệp sử dụng nhất là xuất khẩu trực tiếp. Xuất khẩu trực tiếp: Đây là hình thức xuất khẩu mà trong đó các nhà sản xuất, công ty xí nghiệp và các nhà xuất khẩu, trực tiếp ký kết hợp đồng mua bán trao đổi hàng hoá với các đối tác nước ngoài.
Các bước tiến hành giao dịch thông thường bao gồm: Hỏi giá - Báo giá - Chào hàng - Xác nhận đơn hàng. Hình thức này không qua một tổ chức trung gian nào, có thể trực tiếp gặp nhau cùng bàn bạc thảo luận để đưa đến một hợp động hoặc không cần gặp nhau trực tiếp mà thông qua thư chào hàng, thư điện tử , fax, điện thoại. cũng có thể tạo thành một hợp đồng mua bán kinh doanh thương mại quốc tế được ký kết. Ƣu điểm: - Thông qua thảo luận trực tiếp dễ dàng dẫn đến thống nhất và ít xảy ra những hiểu lầm đáng tiếc.
- Giảm được chi phí trung gian, nhiều khi chi phí này rất lớn, phải chia sẻ lợi nhuận. - Giao dịch trực tiếp sẽ có điều kiện xâm nhập thị trường, kịp thời tiếp thu ý kiến của khách hàng, khắc phục thiếu sót. - Chủ động trong việc chuẩn bị nguồn hàng, phương tiện vận tải để thực hiện hoạt động xuất khẩu và kịp thời điều chỉnh thị trường tiêu thụ, nhất là trong điều kiện thị trường nhiều biến động. Nhƣợc điểm: - Đối với thị trường mới chưa từng giao dịch thường gặp nhiều bỡ ngỡ, dễ gặp sai lầm, bị ép giá trong mua bán.
- Đòi hỏi cán bộ công nhân viên làm công tác kinh doanh xuất khẩu phải có năng lực hiểu biết về nghiệp vụ ngoại thương, ngoại ngữ, văn hoá của thị trường nước ngoài, phải có nhiều thời gian tích luỹ. 5 - Khối lượng mặt hàng giao dịch phải lớn mới có thể bù đắp được các chi phí trong giao dịch như: giấy tờ, chi phí đi lại, nghiên cứu thị trường…. Xuất khẩu gián tiếp (ủy thác): Là một hình thức dịch vụ thương mại, theo đó doanh nghiệp ngoại thương đứng ra với vai trò trung gian thực hiện xuất khẩu hàng hoá cho các đơn vị uỷ thác. Xuất khẩu uỷ thác gồm 3 bên, bên uỷ thác xuất khẩu, bên nhận uỷ thác xuất khẩu và bên nhập khẩu.
Bên uỷ thác không được quyền thực hiện các điều kiện về giao dịch mua bán hàng hoá, giá cả, phương thức thanh toán.