Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU 1. Những vấn đề chung về xuất khẩu 1. Khái niệm xuất khẩu Trong lý luận thương mại quốc tế, khái niệm xuất khẩu được định nghĩa: Xuất khẩu là việc bán hàng hóa và dịch vụ cho quốc gia khác trên cơ sở dùng tiền tệ làm phương tiện thanh toán, với mục tiêu là lợi nhuận. Tiền tệ có thể là ngoại tệ đối với một quốc gia hoặc cả hai quốc gia.
Mục đích của hoạt động này là thu được một khoảng ngoại tệ dựa trên cơ sở khai thác lợi thế so sánh của từng quốc gia trong phân công lao động quốc tế. Khi hoạt động trao đổi hàng hóa giữa các quốc gia đều có lợi thì các quốc gia đều tích cực tham gia hoạt động này [14]. Hoạt động xuất khẩu là hoạt động cơ bản của hoạt động ngoại thương. Nó xuất hiện từ rất sớm trong sự phát triển của xã hội và ngày càng phát triển mạnh mẽ cả về chiều rộng và chiều sâu.
Hình thức sơ khai của chúng chỉ là hoạt động trao đổi hàng hóa nhưng đến nay nó đã phát triển mạnh và biểu hiện dưới nhiều hình thức. Hoạt động xuất khẩu diễn ra trên mọi lĩnh vực và trong mọi điều kiện của nền kinh tế. Từ xuất khẩu hàng tiêu dùng đến tư liệu sản xuất, máy móc,… Tất cả các hoạt động này nhằm đem lại lợi ích cho quốc gia nói chung và các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu nói riêng. Hoạt động xuất khẩu rất rộng cả về không gian và thời gian.
Nó có thể diễn ra trong một thời gian rất ngắn, cũng có thể kéo dài trong nhiều năm và có thể diễn ra trên phạm vi một quốc gia hay nhiều quốc gia khác nhau. Một số lý thuyết chủ đạo làm cơ sở, nền tảng cho xuất khẩu [3] Lý thuyết cổ điển - Lợi thế tuyệt đối Adam Smith (1723 - 1790): Lợi thế tuyệt đối là lợi thế đạt được trong trao đổi thương mại quốc tế khi mỗi quốc gia tập trung chuyên môn hóa vào sản xuất và trao đổi những sản phẩm có mức chi phí sản xuất thấp hơn hẳn so với các quốc gia khác và thấp hơn mức chi phí trung bình của quốc tế thì tất cả các quốc gia đều cùng có lợi. Luan van 8 Quá trình trao đổi trên cơ sở lợi thế tuyệt đối làm khối lượng tổng sản phẩm toàn xã hội tăng lên, làm cho các nguồn lực trong nước được sử dụng một cách có hiệu quả hơn. Thương mại quốc tế sẽ tạo điều kiện để phát triển những ngành có lợi thế và thu hẹp những ngành bất lợi thế, là cơ sở lý luận sau này cho việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế giữa các quốc gia.
Lý thuyết này có ưu điểm là đã khắc phục được hạn chế của lý thuyết trọng thương, đó là khẳng định được cơ sở tạo ra giá trị là sản xuất chứ không phải lưu thông. Chứng minh thương mại đem lại lợi ích cho cả hai quốc gia. Tuy nhiên, lý thuyết này cũng còn có nhiều điểm hạn chế: Không giải thích được hiện tượng chỗ đứng trong phân công lao động quốc tế và thương mại quốc tế sẽ xảy ra như thế nào với những nước không có lợi thế tuyệt đối. Coi lao động là yếu tố sản xuất duy nhất tạo ra giá trị, là đồng nhất và được sử dụng với tỷ lệ như nhau trong tất cả các loại hàng hóa.
- Lợi thế so sánh của David Ricardo (1772 - 1823): Lợi thế so sánh là một nguyên tắc trong kinh tế học phát biểu rằng mỗi quốc gia sẽ được lợi khi nó chuyên môn hóa sản xuất và xuất khẩu những hàng hóa mà mình có thể sản xuất với chi phí tương đối thấp (hay tương đối có hiệu quả hơn các nước khác); ngược lại, mỗi quốc gia sẽ được lợi nếu nhập khẩu những hàng hóa mà mình có thể sản xuất với chi phí tương đối cao (hay tương đối không hiệu quả bằng các nước khác). Nguyên tắc lợi thế so sánh cho rằng một nước có thể thu được lợi từ thương mại bất kể nó tuyệt đối có hiệu quả hơn hay tuyệt đối không hiệu quả bằng các nước khác trong việc sản xuất mọi hàng hóa. Lý thuyết này có ưu điểm là đã mở rộng phân tích lợi thế so sánh cho nhiều hàng hóa và nhiều quốc gia. Trường hợp có nhiều hàng hóa với chi phí không đổi và có hai quốc gia thì lợi thế so sánh của từng hàng hóa sẽ được sắp xếp theo thứ tự ưu tiên từ hàng hóa có lợi thế so sánh cao nhất đến hàng hóa có lợi thế so sánh thấp nhất.
Trường hợp có nhiều quốc gia thì có thể gộp chung tất cả các nước khác thành một nước gọi là phần còn lại của thế giới và những phân tích như trên vẫn giữ nguyên tính đúng đắn của nó. Luan van 9 Lợi thế so sánh không chỉ áp dụng trong trường hợp thương mại quốc tế mà còn có thể áp dụng cho các vùng trong một quốc gia một cách hoàn toàn tương tự. Lý thuyết tân cổ điển - Lý thuyết về nguồn lực sản xuất vốn có (Lý thuyết H – O): Câu hỏi mà Heckscher và Ohlin muốn trả lời là: Tại sao năng suất lao động lại khác nhau giữa các nước. Theo Ricardo thì lý do là công nghệ sản xuất ở các nước khác nhau.
Tuy nhiên, Heckscher và Ohlin lại cho rằng nguyên nhân là ở chỗ các quốc gia có sự khác nhau về mức độ trang bị cũng như về mức độ sử dụng các yếu tố sản xuất. Cụ thể là, các quốc gia được trang bị với mức độ khác nhau các yếu tố như đất đai, lao động, vốn và tài nguyên thiên nhiên, điều này dẫn đến hình thành lợi thế so sánh. Lý thuyết hiện đại - Thương mại dựa trên hiệu suất tăng dần theo quy mô: Đối với những nước có điều kiện sản xuất giống nhau, một trong những lý do quan trọng dẫn đến trao đổi thương mại quốc tế là tính hiệu quả tăng dần theo quy mô. Sản xuất được coi là có hiệu quả nhất khi được tổ chức trên quy mô lớn.
Lúc đó, một sự gia tăng đầu vào với tỷ lệ nào đó sẽ dẫn đến sự gia tăng đầu ra với tỷ lệ cao hơn. - Thương mại dựa trên yếu tố công nghệ: Lý thuyết này có thể giải thích cho hai dạng thương mại. Thứ nhất, nếu cả hai quốc gia đều có tiềm năng công nghệ như nhau thì vẫn có thể hình thành thương mại, bởi vì phát minh sáng chế trong trường hợp nào đó sẽ đối lại được trò tiên phong của nước kia trong một lĩnh khác. Dạng thương mại này thường diễn ra giữa các nước phát triển.
Thứ hai, thương mại hình thành khi một nước tỏ ra năng động hơn về công nghệ so với nước kia. Khi đó, nước thứ nhất thường xuất khẩu những mặt hàng mới và phức tạp để đổi lấy những mặt hàng đã chuẩn hóa từ nước thứ hai. - Lý thuyết thương mại liên quan đến cầu: Cách tiếp cận thứ nhất cho rằng, các dạng biến tướng khác nhau của cùng một loại SP đòi hỏi tỷ lệ các yếu tố sản xuất dùng để sản xuất ra chúng là khác nhau. Cách tiếp cận thứ hai gắn liền sự phân hóa sản phẩm với hiệu suất tăng dần theo quy mô.
Cách thức hiệu quả nhất để cung cấp Luan van 10 các dạng biến tướng của sản phẩm là thực hiện chuyên môn hóa sản xuất từng dạng biến tướng và sau đó tiến hành trao đổi. - Lý thuyết về chu kỳ sống của sản phẩm: Lý thuyết này đã đưa ra cách giải thích khác về động cơ buôn bán giữa các nước. Lý thuyết chu kỳ sống của SP xem xét khả năng xuất khẩu tiềm tàng của sản phẩm gắn liền với 4 pha trong chu kỳ sống của nó: giai đoạn đổi mới sản phẩm, giai đoạn tăng trưởng sản phẩm, giai đoạn bão hòa và giai đoạn suy giảm – triệt tiêu. Xuất khẩu trong xu thế toàn cầu hóa có sự tham gia của chuỗi giá trị Chuỗi giá trị toàn cầu là chuỗi giá trị bao gồm các công việc như thiết kế, sản xuất, marketing, phân phối và dịch vụ khách hàng.
Các hoạt động có thể do một doanh nghiệp tự thực hiện hoặc được phân chia cho nhiều doanh nghiệp trong phạm vi một hoặc nhiều khu vực địa lý [9]. Ngày nay, cùng với quá trình toàn cầu hóa, hiếm có một doanh nghiệp nào có thể thống lĩnh toàn bộ chuỗi giá trị. Doanh nghiệp dựa vào thế mạnh của mình để tham gia vào chuỗi giá trị bằng cách chuyên môn hóa từng giai đoạn.1 dưới đây sẽ minh họa về giá trị gia tăng mà các doanh nghiệp thường tạo ra trong chuỗi giá trị toàn cầu. Hình vẽ cũng sẽ cho ta thấy được rằng giá trị mà các doanh nghiệp tạo ra trong quá trình sản xuất hay trong một chuỗi giá trị là khác nhau.
Trong khi các doanh nghiệp chuyên tập trung vào nghiên cứu và phát triển, thiết kế, phân phối và marketing có thể tạo ra một mức giá trị lớn thì các doanh nghiệp lắp ráp và sản xuất lại chỉ tạo ra một phần giá trị khiêm tốn và là phần thấp nhất trong chuỗi giá trị toàn cầu. Do đó, khi tham gia xuất khẩu, dựa vào chuỗi giá trị toàn cầu mà doanh nghiệp có thể biết được chỗ đứng của mình ở đâu và biết được giá trị mà doanh nghiệp có được là cao hay thấp. Luan van 11 Giá trị gia tăng R&D Thiết kế sản Lắp ráp và Phân phối Marketing phẩm sản xuất (Nguồn:[9] ) Các công đoạn của quá trình sản xuất Hình 1. Chuỗi giá trị toàn cầu Các lý thuyết thương mại quốc tế ra đời trong những điều kiện thương mại quốc tế khác nhau nhằm thực hiện các mục tiêu nhất định, và do vậy, chúng chỉ đúng trong những điều kiện lịch sử nhất định.
Cho đến nay, vẫn chưa có lý thuyết nào giải thích một cách đầy đủ về bản chất của thương mại quốc tế. Vì vậy, các lý thuyết còn được tiếp tục bổ sung, hoàn chỉnh và kiểm nghiệm trong thực tiễn hoạt động thương mại. Vai trò của xuất khẩu [14] Một là, xuất khẩu tạo nguồn chủ yếu cho nhập khẩu Xuất khẩu sẽ tạo ra nguồn vốn cho nhập khẩu, phục vụ cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đối với các quốc gia đang phát triển thì quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa là bước đi thích hợp và đúng đắn nhằm đưa đất nước thoát ra khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu, kém phát triển.
Nhưng quá trình công Luan van 12 nghiệp hóa, hiện đại hóa lại đòi hỏi một lượng vốn đủ lớn để nhập khẩu trang thiết bị, công nghệ hiện đại, tiên tiến.