Tổng quan nghiên cứu
Xuất khẩu gốm sứ mỹ nghệ Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ 21 đã ghi nhận bước tăng trưởng vượt bậc, tăng nhanh từ mức 108,4 triệu USD năm 2000 lên 154,6 triệu USD năm 2004 và đạt mức phát triển nhảy vọt 255,3 triệu USD vào năm 2005. Nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, tỉnh Đồng Nai là một trong những trung tâm sản xuất gốm sứ truyền thống có bề dày lịch sử hơn 300 năm. Kim ngạch xuất khẩu gốm mỹ nghệ của tỉnh tăng đều đặn từ 7,95 triệu USD năm 2001 lên 10,50 triệu USD năm 2004 và đạt xấp xỉ 10,33 triệu USD vào năm 2006. Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng này vẫn chưa tương xứng với tiềm năng khi tỷ trọng đóng góp của gốm Đồng Nai trong tổng kim ngạch gốm sứ cả nước sụt giảm từ 12,9% năm 2001 xuống còn 11,0% năm 2005.
Vấn đề cốt lõi của nghiên cứu là nhận diện các rào cản nội tại về công nghệ sản xuất thủ công, quy mô manh mún và sự phụ thuộc vào trung gian xuất khẩu, trong bối cảnh cạnh tranh quốc tế gay gắt từ Trung Quốc, Thái Lan và Malaysia. Mục tiêu của đề tài là phân tích thực trạng sản xuất, đánh giá toàn diện hoạt động xuất khẩu giai đoạn 2001 - 2006, nghiên cứu sâu đặc điểm thị trường Liên minh Châu Âu (EU) và đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm thúc đẩy xuất khẩu gốm mỹ nghệ Đồng Nai sang EU đến năm 2015.
Không gian nghiên cứu tập trung vào 123 cơ sở sản xuất kinh doanh gốm trên địa bàn tỉnh Đồng Nai và thị trường mục tiêu EU gồm 27 quốc gia thành viên. Về mặt kinh tế - xã hội, ngành gốm giải quyết việc làm cho hơn 10.400 lao động địa phương và mang lại tỷ lệ thực thu ngoại tệ vượt trội từ 95% đến 97% do sử dụng hơn 95% nguyên liệu nội địa (phụ liệu nhập khẩu chỉ chiếm 3% đến 5%), cao gấp nhiều lần tỷ lệ thực thu 20% đến 25% của các ngành dệt may hay da giày. Tăng 1 triệu USD kim ngạch gốm mỹ nghệ đem lại giá trị gia tăng ròng tương đương 4 đến 5 triệu USD hàng dệt may xuất khẩu.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu vận dụng hệ thống các học thuyết kinh tế thương mại quốc tế kinh điển làm nền tảng luận giải:
Thứ nhất, Học thuyết Trọng thương nhấn mạnh vai trò của ngoại thương và thặng dư thương mại trong việc gia tăng của cải quốc gia, khẳng định sự cần thiết của chính sách hỗ trợ từ Nhà nước đối với các ngành hàng xuất khẩu mũi nhọn.
Thứ hai, Học thuyết Lợi thế tuyệt đối của Adam Smith và Lợi thế so sánh của David Ricardo chỉ ra rằng các quốc gia cần chuyên môn hóa sản xuất và xuất khẩu những mặt hàng có chi phí sản xuất tương đối thấp. Ngành gốm Đồng Nai hội tụ đầy đủ lợi thế về nguồn tài nguyên khoáng sản tại chỗ và chi phí lao động thủ công cạnh tranh để tạo ra giá trị thặng dư cao khi trao đổi thương mại quốc tế.
Thứ ba, Lý thuyết Yếu tố thâm dụng của Heckscher - Ohlin và luận giải về Nghịch lý Leontief khẳng định tính đúng đắn khi Đồng Nai tập trung phát triển các sản phẩm thâm dụng lao động lành nghề và tài nguyên tự nhiên mà không đòi hỏi vốn đầu tư ban đầu quá lớn.
Các khái niệm then chốt được xây dựng gồm: Lợi thế cạnh tranh xuất khẩu, Giá trị thực thu ngoại tệ, Hàng rào kỹ thuật trong thương mại (TBT) và Hệ thống ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP). Thị trường EU năm 2006 với 496,5 triệu dân, GDP đạt 13.840,8 tỷ USD (chiếm 21,4% GDP toàn cầu) và kim ngạch nhập khẩu 4.881 tỷ USD (chiếm 46% nhập khẩu thế giới) áp dụng 4 nhóm phân loại GSP với mức ưu đãi thuế suất từ 0% đến 85% thuế MFN, đặt ra yêu cầu nghiêm ngặt về tiêu chuẩn kỹ thuật đối với hàng nhập khẩu.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu kết hợp chặt chẽ giữa nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp thực chứng:
Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập từ Niên giám thống kê Tổng cục Thống kê, Cục Thống kê tỉnh Đồng Nai, báo cáo của Sở Công nghiệp Đồng Nai, Ngân hàng Thế giới (World Bank) và Cơ quan Thống kê Châu Âu (EUROSTAT) giai đoạn 2001 - 2006.
Nguồn dữ liệu sơ cấp được tiến hành thông qua cuộc điều tra khảo sát thực địa với cỡ mẫu gồm 38 doanh nghiệp và cơ sở sản xuất kinh doanh gốm mỹ nghệ trên địa bàn tỉnh Đồng Nai (chiếm 30,89% trong tổng số 123 cơ sở toàn tỉnh). Phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp chọn mẫu thuận tiện được triển khai tại 4 địa bàn tập trung truyền thống gồm phường Tân Vạn, Bửu Hòa, xã Hóa An và Tân Hạnh thuộc thành phố Biên Hòa.
Lý do lựa chọn phương pháp phân tích thống kê mô tả, phân tích cơ cấu tỷ trọng, so sánh đối chiếu và ma trận điểm mạnh - điểm yếu - cơ hội - thách thức (SWOT) là nhằm lượng hóa chính xác năng lực tài chính, thực trạng công nghệ lò nung, mặt bằng nhà xưởng và kênh phân phối của các cơ sở sản xuất. Toàn bộ dữ liệu thực nghiệm được tổng hợp và phân tích trong khung thời gian từ năm 2001 đến năm 2006, tạo cơ sở khoa học để hoạch định các biện pháp phát triển đến năm 2015.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Khảo sát thực chứng và phân tích số liệu thứ cấp đã làm rõ 4 phát hiện quan trọng:
Thứ nhất, về quy mô và trình độ công nghệ: Toàn tỉnh Đồng Nai có 123 cơ sở gốm vào năm 2005 (tăng từ 85 cơ sở năm 1999), trong đó doanh nghiệp tư nhân chiếm áp đảo với hơn 50% (65 cơ sở). Khảo sát 38 doanh nghiệp cho thấy chỉ 5,3% (2 doanh nghiệp) đạt trình độ công nghệ hiện đại, 73,7% (28 doanh nghiệp) ở mức trung bình và 21,0% (8 doanh nghiệp) ở mức lạc hậu. Về công nghệ nung, tổng số lò nung toàn tỉnh là 105 lò vào năm 2005, trong đó tỷ lệ lò gas tăng mạnh lên 83,8% (88 lò) so với mức 25,0% (18 lò) năm 1999, phản ánh xu hướng chuyển dịch tích cực nhằm giảm thiểu ô nhiễm khói bụi.
Thứ hai, về năng lực mặt bằng và lao động: Có tới 34,2% doanh nghiệp (13 cơ sở) có diện tích mặt bằng dưới 0,3 ha và 26,3% (10 cơ sở) có diện tích từ 0,3 đến 0,5 ha, thấp hơn nhiều so với nhu cầu chuẩn từ 0,5 đến 0,8 ha. Đồng thời, 81,6% doanh nghiệp (31 đơn vị) buộc phải tuyển dụng lao động thời vụ do tính chất đơn hàng dồn dập vào quý 4 đến quý 1 năm sau, gây bất ổn định tay nghề.
Thứ ba, về cơ cấu sản phẩm và thị trường xuất khẩu: Chậu gốm trong nhà chiếm tỷ trọng cao nhất với 30,3%, chậu ngoài trời chiếm 28,9%, tượng thú chiếm 15,8% và bình hoa chiếm 11,9%. Khối EU là thị trường xuất khẩu lớn nhất của gốm Đồng Nai, chiếm hơn 70% tổng kim ngạch xuất khẩu toàn ngành gốm của tỉnh, trong đó các thị trường đơn lẻ nổi bật gồm Đức (chiếm 17,1%), Ý (chiếm 8,6%), Anh (chiếm 5,7%) và Pháp (chiếm 5,7%).
Thứ tư, về kênh xuất khẩu và ngân sách xúc tiến: Có tới 57,8% doanh nghiệp phải thực hiện xuất khẩu gián tiếp qua ủy thác hoặc bán buôn cho đơn vị trung gian, trong khi tỷ lệ xuất khẩu trực tiếp chỉ đạt 42,2%. Đáng chú ý, chi phí đầu tư cho hoạt động marketing xuất khẩu chỉ chiếm vỏn vẹn 1% đến 2% tổng chi phí hoạt động của doanh nghiệp.
Thảo luận kết quả
Sự suy giảm tỷ trọng xuất khẩu của gốm Đồng Nai so với cả nước (từ 14,3% năm 2002 xuống 11,0% năm 2005) xuất phát từ rào cản chi phí vốn và quy hoạch không gian. Để đầu tư một lò nung gas công nghiệp thể tích 9,5 m3 cần nguồn vốn khoảng 500 triệu đồng, vượt quá khả năng tự tích lũy của các hộ sản xuất tư nhân nhỏ lẻ. Tình trạng nhà xưởng nằm xen kẽ trong khu dân cư đô thị Biên Hòa cùng sự chậm trễ của dự án Cụm công nghiệp gốm sứ Tân Hạnh khiến doanh nghiệp duy trì tâm lý sản xuất cầm chừng, không dám đầu tư dài hạn.
Kết quả nghiên cứu hoàn toàn tương đồng với các công trình nghiên cứu của Đoàn Thị Hồng Vân năm 2004 về năng lực cạnh tranh gốm sứ Việt Nam và đề án của Võ Thanh Thu năm 2006 về chuỗi giá trị gốm mỹ nghệ Vĩnh Long. Dữ liệu thực nghiệm của luận văn có thể được biểu đạt trực quan thông qua:
Biểu đồ tròn phản ánh cơ cấu chuyển dịch lò nung giai đoạn 1999 - 2005 (lò gas tăng từ 25% lên 83,8%, lò củi giảm từ 68,6% xuống 14,3%).
Biểu đồ cột so sánh tỷ lệ thực thu ngoại tệ giữa ngành gốm (95% đến 97%) và ngành dệt may (20% đến 25%).
Bảng ma trận SWOT tổng hợp các điểm nghẽn công nghệ và cơ hội thị trường từ Hiệp định hợp tác khung Việt Nam - EU.
Đề xuất và khuyến nghị
Để đẩy mạnh xuất khẩu gốm mỹ nghệ Đồng Nai sang thị trường EU một cách bền vững đến năm 2015, nghiên cứu đề xuất 5 nhóm giải pháp hành động cụ thể:
Thứ nhất, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực chuyên ngành. Doanh nghiệp chủ động liên kết với Trường Cao đẳng Mỹ thuật Trang trí Đồng Nai đào tạo lại kỹ thuật tạo dáng, phục chế men màu truyền thống và kỹ năng thiết kế mỹ thuật công nghiệp. Mục tiêu đến năm 2015 đạt trên 15% nhân lực quản lý có trình độ đại học chuyên ngành và 100% thợ chính được chuẩn hóa tay nghề kỹ thuật. Chủ thể thực hiện: Doanh nghiệp sản xuất phối hợp Trường Cao đẳng Mỹ thuật Trang trí Đồng Nai.
Thứ hai, hiện đại hóa công nghệ lò nung và kiểm soát chất lượng chuẩn EU. Tiến hành thay thế 100% lò nung củi còn lại bằng lò gas có hệ thống điều khiển nhiệt độ điện tử 5 giai đoạn (nâng nhiệt chính xác lên 1186 độ C), giảm tỷ lệ hàng phế phẩm từ 15% xuống dưới 5% vào năm 2012. Áp dụng nghiêm ngặt các quy chuẩn kiểm định không chứa kim loại nặng thôi nhiễm (chì, cadimi) theo tiêu chuẩn bảo vệ người tiêu dùng EU. Chủ thể thực hiện: Doanh nghiệp sản xuất, Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Đồng Nai.
Thứ ba, đẩy nhanh tiến độ quy hoạch Cụm công nghiệp gốm Tân Hạnh. Hoàn thành giải phóng mặt bằng và xây dựng đồng bộ hạ tầng kỹ thuật xử lý môi trường tại Cụm công nghiệp gốm Tân Hạnh trước năm 2011, hỗ trợ bố trí diện tích mặt bằng tối thiểu 0,5 đến 1,0 ha cho mỗi cơ sở di dời, nâng công suất chế tác toàn ngành tăng 30% đến 40%. Chủ thể thực hiện: Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai, Sở Công nghiệp.
Thứ tư, tái cấu trúc kênh phân phối và đẩy mạnh marketing xuất khẩu trực tiếp. Tăng ngân sách marketing từ mức 1% - 2% lên 5% - 7% tổng chi phí hoạt động; xây dựng website thương mại điện tử đa ngôn ngữ và tham gia các hội chợ thủ công mỹ nghệ quốc tế thường niên tại Đức và Pháp. Phấn đấu nâng tỷ lệ doanh nghiệp xuất khẩu trực tiếp lên trên 65% vào năm 2015 nhằm tận dụng tối đa mức ưu đãi thuế quan GSP 0% đến 35%. Chủ thể thực hiện: Doanh nghiệp xuất khẩu, Trung tâm Xúc tiến Thương mại tỉnh.
Thứ năm, phát huy vai trò liên kết của Hiệp hội Gốm mỹ nghệ Đồng Nai. Hiệp hội đứng ra thành lập trung tâm thông tin thương mại, hỗ trợ pháp lý về rào cản kỹ thuật EU và bảo lãnh tín dụng ưu đãi lãi suất hỗ trợ 2% đến 3%/năm để hội viên đầu tư công nghệ mới. Chủ thể thực hiện: Hiệp hội Gốm mỹ nghệ Đồng Nai, các Ngân hàng Thương mại.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Công trình nghiên cứu mang giá trị ứng dụng thực tiễn và học thuật sâu sắc cho 4 nhóm đối tượng:
Nhóm 1: Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách cấp tỉnh (Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai, Sở Công Thương, Sở Tài nguyên và Môi trường). Tài liệu cung cấp luận cứ thực tiễn để phê duyệt quy hoạch Cụm công nghiệp gốm tập trung, xây dựng cơ chế hỗ trợ vốn đầu tư lò nung gas 500 triệu đồng và thiết lập chính sách bảo tồn làng nghề gắn với xuất khẩu.
Nhóm 2: Ban lãnh đạo và chủ các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất gốm sứ mỹ nghệ. Cung cấp cẩm nang tái cấu trúc sản xuất, kiểm soát quy trình nung nhiệt độ cao 1186 độ C, chuyển đổi mô hình từ gia công gián tiếp sang xuất khẩu trực tiếp đạt mục tiêu trên 65% doanh thu ngoại thương.
Nhóm 3: Chuyên viên xúc tiến thương mại và quản trị marketing quốc tế. Tài liệu phân tích toàn diện hành vi tiêu dùng tại 27 quốc gia EU, hướng dẫn khai thác tối đa 4 nhóm danh mục ưu đãi thuế quan GSP và vượt qua các rào cản kỹ thuật phi thuế quan khắt khe.
Nhóm 4: Giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên cao học khối ngành Quản trị Kinh doanh, Kinh tế Quốc tế. Công trình là tài liệu tham khảo thực nghiệm chuẩn mực về việc vận dụng các lý thuyết kinh tế quốc tế (Adam Smith, David Ricardo, Heckscher - Ohlin) vào phân tích một ngành nghề thủ công có tỷ lệ thực thu ngoại tệ đạt 95% đến 97%.
Câu hỏi thường gặp
-
Tại sao ngành gốm mỹ nghệ Đồng Nai có tỷ lệ thực thu ngoại tệ vượt trội so với dệt may và da giày?
Ngành gốm sử dụng hơn 95% nguồn nguyên liệu đất sét và khoáng chất tự nhiên trong nước, nguyên phụ liệu nhập khẩu chỉ chiếm từ 3% đến 5% giá thành. Do đó, tỷ lệ thực thu ngoại tệ của gốm đạt 95% đến 97%, trong khi ngành dệt may và da giày phải nhập khẩu 75% đến 80% nguyên liệu nên tỷ lệ thực thu chỉ dao động từ 20% đến 25%.
-
Các rào cản kỹ thuật phi thuế quan lớn nhất của EU đối với gốm sứ xuất khẩu là gì?
EU kiểm soát nghiêm ngặt hàm lượng thôi nhiễm kim loại nặng như chì và cadimi từ men gốm, quy định an toàn sử dụng, bao bì đóng gói thân thiện môi trường và nhãn mác tiếng Anh chi tiết. Toàn bộ sản phẩm xuất khẩu phải vượt qua các tiêu chuẩn an toàn kỹ thuật ngay từ xưởng sản xuất để được cấp phép thông quan vào 27 nước thành viên.
-
Nguyên nhân chủ yếu khiến hơn 57% doanh nghiệp gốm Đồng Nai phải xuất khẩu gián tiếp là gì?
Phần lớn doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ, hạn chế về nguồn vốn và thiếu đội ngũ nhân sự am hiểu ngoại thương, luật quốc tế. Mức chi phí marketing chỉ chiếm 1% đến 2% tổng chi phí khiến doanh nghiệp không đủ khả năng thiết lập văn phòng đại diện hoặc tham gia xúc tiến thương mại trực tiếp tại thị trường EU.
-
Việc chuyển đổi từ lò củi sang lò gas đem lại lợi ích kinh tế và kỹ thuật cụ thể nào?
Xây dựng một lò gas 9,5 m3 trị giá khoảng 500 triệu đồng giúp kiểm soát nhiệt độ chính xác qua 5 chu kỳ nung đạt đỉnh 1186 độ C. Công nghệ này giúp giảm tỷ lệ hàng hỏng từ 15% xuống dưới 5%, tăng độ đều màu men gốm Biên Hòa và triệt tiêu hoàn toàn lượng khói bụi thải ra khu dân cư.
-
Giải pháp nào giúp doanh nghiệp ổn định nhân lực trước tính chất mùa vụ của ngành gốm?
Doanh nghiệp cần chủ động nghiên cứu thị hiếu để sản xuất thêm các dòng sản phẩm gốm trang trí sân vườn và gia dụng tiêu thụ trong mùa thấp điểm (quý 2 và quý 3), thay vì chỉ tập trung vào cao điểm quý 4 đến quý 1 năm sau, từ đó duy trì việc làm thường xuyên cho thợ và giảm tỷ lệ 81,6% doanh nghiệp phải phụ thuộc lao động thời vụ.
Kết luận
Luận văn đã hoàn thành xuất sắc các mục tiêu nghiên cứu thông qua 5 kết luận trọng tâm:
- Khẳng định vai trò chiến lược của ngành gốm mỹ nghệ Đồng Nai với tỷ lệ thực thu ngoại tệ đạt 95% đến 97% và giải quyết việc làm cho hơn 10.400 lao động địa phương.
- Nhận diện EU là thị trường xuất khẩu trọng điểm chiếm hơn 70% kim ngạch xuất khẩu gốm của tỉnh, mở ra dư địa thương mại lớn nhờ các ưu đãi thuế quan GSP.
- Chỉ rõ các điểm nghẽn nội tại về công nghệ (73,7% ở mức trung bình), mặt bằng sản xuất hạn hẹp (34,2% dưới 0,3 ha) và tỷ lệ xuất khẩu gián tiếp còn chiếm tới 57,8%.
- Hoàn thiện hệ thống 5 giải pháp mang tính khả thi cao: đào tạo nguồn nhân lực, chuyển đổi 100% lò gas công nghiệp, hoàn thành Cụm công nghiệp Tân Hạnh, nâng ngân sách marketing lên 5% - 7% và tăng cường vai trò Hiệp hội Gốm.
- Xác lập mục tiêu đưa kim ngạch xuất khẩu tăng trưởng vượt mốc 15 triệu USD, nâng tỷ lệ xuất khẩu trực tiếp lên trên 65% vào năm 2015.
Đóng góp khoa học lớn nhất của công trình là hệ thống hóa cơ sở lý luận thương mại quốc tế, cung cấp bộ dữ liệu khảo sát thực chứng từ 38 doanh nghiệp và đề xuất lộ trình hành động thiết thực. Lộ trình triển khai tiếp theo gồm hai giai đoạn: giai đoạn 2008 - 2010 hoàn tất di dời mặt bằng và đổi mới công nghệ lò gas; giai đoạn 2011 - 2015 tập trung mở rộng kênh xuất khẩu trực tiếp sang các thị trường Đức, Pháp và Ý. Các doanh nghiệp sản xuất và cơ quan ban ngành cần nhanh chóng phối hợp chặt chẽ, triển khai đồng bộ các giải pháp đề xuất để nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững thương hiệu gốm Đồng Nai trên thị trường quốc tế.