CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TRẬT TỰ XÂY DỰNG ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP 1. Một số khái niệm 1. Đô thị Khái niệm đô thị trên góc độ chung nhất là một trung tâm dân cư đông đúc, có thể là thành phố, thị xã hay thị trấn. Đô thị là nơi tập trung dân cư, chủ yếu lao động phi nông nghiệp, họ sống và làm việc theo phong cách sống văn minh, hiện đại hơn, khoa học và có hiệu quả kinh tế, văn hóa cao.
Đô thị là khu vực có mật độ gia tăng các công trình kiến trúc do con người xây dựng so với các khu vực xung quanh nó. Tại Việt Nam, theo Luật Quy hoạch đô thị năm 2009, đô thị là khu vực tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hoá hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương, bao gồm nội thành, ngoại thành của thành phố; nội thị, ngoại thị của thị xã; thị trấn. Theo Bộ Xây dựng (2014), đô thị là một không gian cư trú của cộng đồng người sống tập trung và hoạt động trong những khu vực kinh tế phi nông nghiệp. Đô thị là nơi tập trung dân cư, chủ yếu lao động phi nông nghiệp, sống và làm việc theo kiểu thành thị.
Đô thị là điểm tập trung dân cư với mật độ, chủ yếu là lao động nông nghiệp, cơ sơ sở hạ tầng thích hợp, là trung tâm tổng hợp hay trung tâm chuyên ngành có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội của cả nước, của một vùng trong tỉnh hoặc trong huyện. Liên Hiệp Quốc (UN) (2005), đô thị là một khu vực xây dựng kín hoặc một khu vực đông dân cư bao gồm khu trung tâm thành phố, khu ngoại thành và các khu định cư lao động. Vùng đô thị theo định nghĩa này có thể rộng hơn hoặc nhỏ hơn một khu vực thành thị bao gồm khu trung tâm thành phố và dải ngoại thành hoặc lãnh thổ đông 10 dân cư tiếp giáp. Thành thị bao gồm các khu vực quản trị địa phương chính thức thường bao gồm toàn bộ khu vực đô thị và khu định cư lao động chính của thành phố.
Khu trung tâm thành phố là một khu vực có chức năng chính trị bao gồm trung tâm lịch sử của thành phố. Theo David Clark (1996), đô thị là một không gian cư trú của cộng đồng người sống tập trung và hoạt động trong những khu vực kinh tế phi nông nghiệp bao gồm khu trung tâm thành phố, khu ngoại thành và các khu định cư lao động. Từ những khái niệm trên có thể thấy, đô thị là là một khái niệm bao gồm các đặc điểm: (i) là một không gian cư trú của cộng đồng người sống tập trung; (ii) nằm trong những khu vực kinh tế phi nông nghiệp; (iii) khu vực có các trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hoá, … Như vậy theo quan điểm của tác giả, đô thị là khu vực tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp và là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hoá hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương. Đô thị hóa Theo Liên Hiệp Quốc (2005), đô thị hoá là quá trình tăng tỉ lệ số dân trong một khu vực dân số nhất định, loại hình hoạt động kinh tế phổ biến (nông nghiệp hay không), mức độ của cơ sở hạ tầng (đường xá, đèn đường, cung cấp nước) hay chức năng của nó (trung tâm hành chính).
Theo David Clark (1996), đô thị hoá là quá trình tăng tỉ lệ dân số trong một khu vực nhất định. Đô thị hoá gắn liền với sự phát triển của cơ sở hạ tầng (đường xá, đèn đường, cung cấp nước) hay chức năng của nó (trung tâm hành chính), … Theo Luật Quy hoạch đô thị năm 2009: đô thị hoá là quá trình tăng tỉ lệ dân thành thị so với tổng số dân, mở rộng quy mô các thành phố và sự lan toả lối sống thành thị về nông thôn. Đô thị hoá là một xu hướng tất yếu của toàn cầu. Quá trình đô thị hoá, gắn liền với sự phát triển của các lực lượng sản xuất, quan hệ xã hội và được 11 cách mạng khoa học kỹ thuật thúc đẩy.
Đô thị hoá không chỉ là sự phát triển riêng của một đô thị về qui mô và số lượng dân số, mà còn gắn liền với những biến đổi kinh tế - xã hội và môi trường thiên nhiên của một hệ thống đô thị. Từ những khái niệm trên có thể thấy, đô thị hoá là một khái niệm bao gồm các đặc điểm: (i) tỉ lệ số dân trong một khu vực dân số nhất định; (ii) mức độ phát triển của cơ sở hạ tầng. Tóm lại, đô thị hoá là quá trình mở rộng và phát triển mạng lưới đô thị và phổ biến lối sống thành thị, tập trung dân cư trên lãnh thổ. Quản lý đô thị Theo Hiến pháp của Trung Quốc sửa đổi, bổ sung (năm 2004), quản lý đô thị là sự thực thi quyền lực của chính quyền nhân dân đô thị.
Chức năng và quyền hạn hành chính của chính quyền nhân dân đô thị Trung Quốc căn cứ vào các quy định pháp luật liên quan, bao gồm 06 phương diện chính là: quyền chấp hành hành chính; quyền quản lý các việc công cộng trong khu vực hành chính; quyền quyết định các biện pháp hành chính; quyền giám sát hành chính; quyền nhân sự hành chính, quyền bảo hộ hành chính. Theo chính quyền Nhật Bản, quản lý đô thị là việc xử lý toàn bộ hoặc một phần công việc hành chính mà chính quyền cấp tỉnh giải quyết. Mặt khác, trong hầu hết công việc, thành phố chỉ định không cần sự can thiệp của tỉnh trưởng mà được phép tiếp nhận sự can thiệp trực tiếp của trung ương (các bộ trưởng). Ngay cả việc thỏa thuận về số tiền hỗ trợ từ ngân sách nhà nước, thành phố chỉ định cũng có thể làm trực tiếp với Trung ương mà không cần thông qua chính quyền tỉnh.
(Viện Khoa học tổ chức nhà nước, 2015) Khái niệm đô thị theo Luật Quy hoạch đô thị năm 2009: Quản lý đô thị trước hết là sự thực thi quyền lực công, nhân danh Nhà nước. Vì vậy quản lý đô thị trước hết là quản lý nhà nước ở đô thị. Tuy nhiên, quản lý đô thị hiện đại đã có sự tham gia sâu sắc của các tổ chức xã hội, tổ chức nghề nghiệp, tổ chức phi chính phủ và cộng đồng. 12 Mặc dù vậy, quản lý đô thị vẫn thể hiện bản chất và vai trò của Nhà nước đối với một khu vực định cư đặc thù này.
Từ những khái niệm trên có thể thấy, quản lý đô thị là một khái niệm bao gồm các đặc điểm: (i) sự thực thi quyền lực của chính quyền; (ii) có sự tham gia sâu sắc của các tổ chức xã hội, tổ chức nghề nghiệp, tổ chức phi chính phủ và cộng đồng Quản lý đô thị bao gồm nhiều lĩnh vực, nhưng chủ yếu là quy hoạch kiến trúc đô thị, sử dụng đất đai, đầu tư và phát triển nhà, cơ sở hạ tầng công cộng, tài chính, hành chính, môi trường đô thị, an ninh trật tự xã hội,…Quản lý đô thị có ba mục tiêu cơ bản là: làm cho đô thị phát triển ổn định, trật tự và bền vững; Tạo môi trường sống thuận lợi cho đô thị; Phù hợp lợi ích quốc gia, cộng đồng và dân cư. Trật tự xây dựng đô thị Theo Hiến pháp của Trung Quốc sửa đổi, bổ sung (2004), trật tự xây dựng đô thị là sự sắp xếp, bố trí theo một trình tự nhất định các công trình xây dựng trên địa bàn đô thị, bao gồm toàn bộ các công trình trên mặt đất, dưới lòng đất và trên không; do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép thực hiện và quản lý trong toàn bộ các khâu từ việc lập dự án, thiết kế, cấp phép xây dựng đến quản lý hoạt động thi công công trình, ban hành các tiêu chuẩn về không gian kiến trúc, xây dựng, mỹ quan đô thị, …và khai thác, sử dụng công trình sau khi đã hoàn thành. Trật tự xây dựng đô thị là các công trình xây đảm bảo đúng nội dung Giấy phép xây dựng đã được cấp, phù hợp quy hoạch chung đã được phê duyệt và xây dựng không ảnh hưởng đến công trình lân cận (Nguyễn Đình Hương, 2003, “Quản lý Đô thị”). Từ những khái niệm trên có thể thấy, trật tự xây dựng đô thị là một khái niệm bao gồm các đặc điểm: (i) sắp xếp, bố trí theo một trình tự nhất định các công trình xây dựng; (ii) do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép thực hiện và quản lý Như vậy, trật tự xây dựng đô thị là sự sắp xếp theo một thứ tự nhất định các hoạt động về xây dựng các công trình trong đô thị nhằm đảm bảo tất cả các hoạt động đó 13 được thực hiện một cách đồng bộ theo quy hoạch, kế hoạch và pháp luật, tạo ra tính thống nhất, cân đối, hài hoà giữa các yếu tố cấu thành đô thị, góp phần đảm bảo đô thị phát triển bền vững.
Quản lý nhà nước về trật tự xây dựng đô thị Theo quan điểm của Atamantrruc (2004): “Quản lý nhà nước là sự tác động thực tế mang tính tổ chức và điều chỉnh của nhà nước (thông qua hệ thống các cơ cấu của nhà nước) lên sinh hoạt xã hội, cá nhân, tổ chức của con người nhằm mục đích chấn chỉnh trật tự, duy trì hoặc cải tạo nó, dựa trên cơ sở quyền lực của nhà nước”. Theo Chử Thị Kim Anh (2014), Quản lý nhà nước về TTXD là sự tác động mang tính đồng bộ, có chủ đích của cơ quan QLNN có thẩm quyền đến các chủ thể tham gia vào các hoạt động xây dựng nhằm đảm bảo cho các hoạt động xây dựng tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật. Quản lý nhà nước về trật tự xây dựng là một khâu rất quan trọng trong quản lý xây dựng; bằng những quy định, tiêu chuẩn, quy chuẩn cụ thể của đô thị nói riêng và của nhà nước nói chung, cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động xây dựng quản lý mọi hoạt động xây dựng trên địa bàn đô thị theo đúng trật tự, đảm bảo nguyên tắc, quy tắc và mỹ quan, môi trường đô thị.