Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn Chương 2: Đề xuất một số biện pháp dạy học truyện cổ tích theo hƣớng tiếp cận thi pháp trong chƣơng trình Ngữ văn Trung học cơ sở Chương 3: Thực nghiệm sƣ phạm. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Một số vấn đề về thi pháp và thi pháp học * Vài nét về thi pháp và thi pháp học Trong số các ngành nghiên cứu văn học, thi pháp học là bộ môn cổ xƣa nhất và có ảnh hƣởng rất lớn. Thuật ngữ thi pháp và thi pháp học xuất hiện từ hàng ngàn năm trƣớc nhƣng theo tiến trình lịch sử, thuật ngữ này đã được cải tạo triệt để, mang nội dung mới, rất đa dạng về quan niệm, phương pháp, đồng thời tự nó cũng biến đổi nhanh chóng chưa từng thấy trong lịch sử [42, tr.
Ở Việt Nam, thuật ngữ này mới đƣợc giới nghiên cứu văn học Việt Nam sử dụng rộng rãi trong vài chục năm gần đây. Khái niệm thi pháp học xuất hiện đầu tiên bắt nguồn từ tiếng Hi Lạp “Poietike” xuất hiện công trình Poetica (Nghệ thuật thi ca) của Aristotle cách đây hơn hai nghìn năm. Đây đƣợc coi là công trình tổng kết kinh nghiệm về nghệ thuật kịch thời Hi Lạp cổ đại, nó làm nên một học thuyết về nguyên tắc mô phỏng, miêu tả các loại và thể, các hình thức thơ ca mà ngƣời Hi Lạp tiếp nhận. Aristotle đã kết hợp tƣ tƣởng mua vui và nhận thức khi nhìn nhận bản chất nghệ thuật, từ đó ông lần lƣợt xem xét các thể loại bi kịch, sử thi, cấu trúc cho đến ngôn từ.
Ông kết hợp lý thuyết với thực hành phân tích nghệ thuật cụ thể. Nghệ thuật thi ca của Aristotle là bộ sách đầu tiên trong lịch sử văn học và mĩ học thế giới nghiên cứu sâu chức năng của văn học nghệ thuật. Với Aristotle thi pháp học là chỉ lí luận văn học và Nghệ thuật thi ca là công trình khoa học có ảnh hƣởng sâu, rộng đến lí luận văn học hàng nghìn năm sau với Thi pháp học của nhà thơ Ý Trissin, Thi pháp học của Scaliger, ngƣời Pháp, Thi Pháp học của Boileau, Lessing, Herder, Humbold, Hugo, Muller, Freielffel, Potebnia, Veselovski… Đến trung thế kỷ, thuật ngữ này chỉ kỹ nghệ, kỹ xảo sáng tác thơ ca. Ở 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phƣơng Đông, Văn tâm điêu long của Lƣu Hiệp là công trình thi pháp học sớm nhất bởi nó dạy cho ngƣời ta những tinh túy của phép làm văn.
Sau Lƣu Hiệp, có nhiều nhà văn, nhà thơ, nhà nghiên cứu phê bình, nhà lí luận của Trung Hoa cổ, trung đại đã cho ra đời những tác phẩm lí giải sâu sắc về mĩ học, về nghệ thuật văn chƣơng, tiêu biểu là: Thi phẩm của Chung Vinh (thế kỷ VII), Văn tuyển của Tiêu Thống (thế kỷ VII), Thư gửi Nguyên Chuẩn của Bạch Cƣ Dị (722 - 486), Tùy viên thi thoại của Viên Mai (1716 -1797). Từ thế kỷ XVIII trở đi có sự chuyển hƣớng từ siêu hình học cổ đại sang nhận thức hiện đại, diễn ra sự phân loại các khoa học, sự hình thành dần dần khoa nghiên cứu văn học thì thi pháp học chuyển hƣớng sang nhận thức luận, nghiên cứu các vấn đề nội dung nhƣ cái đẹp, xã hội, chính trị, đạo đức, chức năng phản ánh hiện thực, giáo dục, hầu nhƣ bị hòa lẫn vào các hoạt động xã hội khác và khuynh hƣớng nghiên cứu văn học khác nhƣ triết học, chính trị học, xã hội học, ngữ văn học, tâm lí học, đặc biệt là lịch sử học…Đó là cái logic khiến cho thi pháp học bị bỏ qua ở những nơi xã hội văn học ngự trị. Đến nửa cuối thế kỉ XIX, do sự nỗ lực của các nhà hình thức chủ nghĩa, thuật ngữ này đƣợc dùng nhƣ lí luận văn học với nghĩa rộng, nó bao gồm sự tổng kết lí luận và nghiên cứu tất cả các thể tài văn học. Đầu thế kỉ XX, thi pháp học hiện đại chính thức đƣợc dấy lên,Từ đó, hàng loạt các trƣờng phái thi pháp học hiện đại theo sau xuất hiện ở nhiều quốc gia trên thế giới đã tạo ra rất nhiều ý kiến, quan niệm khác nhau về thi pháp học.
Ở Pháp, thi pháp học bắt đầu đƣợc nhà thơ P. Valery nói đến trong chuyên đề giảng dạy ở Viện Hàn lâm Pháp năm 1935, nhƣng nó thực sự thu hút với sự bùng phát của chủ nghĩa cấu trúc những năm 60 do ảnh hƣởng của việc giới thiệu thi pháp học Nga đầu thế kỉ. Ở Nga, Theo Todorov trong công trình Thi pháp học (1975) định nghĩa thi pháp là những quy tắc chung mà ngƣời ta sử dụng để sáng tác ra tác phẩm văn học cụ thể. Trong công trình Những vấn đề thi pháp Dostoievski tác giả 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Bakhtin không nêu ra định nghĩa trực tiếp về thi pháp học nhƣng nội dung nghiên cứu của ông về Dostoievski nhƣ “Cái nhìn nghệ thuật độc đáo” hay “ngôn ngữ đa giọng” cũng đã xác nhận nội dung của thi pháp học. Nghiên cứu các phạm trù về không gian, thời gian nghệ thuật, các đối lập cơ bản cũng nhƣ cả hệ thống các thủ pháp và phạm trù vốn có của những thời đại văn học, Mikhail Gasparov “Thi pháp học - khoa học về hệ thống các phương tiện biểu hiện trong tác phẩm văn học” [42]. Trong nghĩa rộng, thi pháp học trùng với lí luận văn học, trong nghĩa hẹp trùng với một trong các lĩnh vực của thi pháp lí thuyết. Còn theo Từ điển Bách khoa văn học giản yếu Nga ghi lại thì “Thi pháp học là khoa học về cấu tạo của các tác phẩm văn học và hệ thống các phương tiện thẩm mỹ mà chúng sử dụng” [42].
Nhƣ vậy, mỗi nhà nghiên cứu có đƣa ra các khái niệm văn học khác nhau nhƣng tựu chung đều xem văn học nhƣ một nghệ thuật. Nhà phê bình văn học Nga V.Girmunxki đã định nghĩa một cách tổng quát: “Thi pháp học là khoa học nghiên cứu thi ca (văn học) với tư cách là nghệ thuật” [42, tr. Nhƣ vậy, tác giả đã định nghĩa về thi pháp học trong sự lồng ghép giữa tính khoa học và tính nghệ thuật của văn học. Từ định nghĩa này nhà nghiên cứu văn học Viện sĩ V.
Vinogradov đã cụ thể hóa vấn đề thi pháp nhƣ sau “Thi pháp học là khoa học về hình thức, các dạng thức, các phương tiện, phương thức tổ chức tác phẩm của sáng tác ngôn từ, về các kiểu cấu trúc và các thể loại tác phẩm văn học. Nó muốn bao quát không chỉ là các hiện tượng của ngôn từ thơ, mà còn là cả các khía cạnh khác nhau nhất của tác phẩm văn học và sáng tác dân gian” [42, tr. Ở đây tác giả chủ yếu nhấn mạnh vào đối tƣợng đặc thù của thi pháp học là hình thức tổ chức tác phẩm văn học. Khi xem thi pháp học là khoa học nghiên cứu văn học nhƣ một nghệ thuật đã bao hàm đƣợc một phạm vi rất rộng, từ tác phẩm cụ thể, thể loại đến các khái quát phổ quát.
Điểm làm cho thi pháp học có vị trí độc lập phân biệt với các bộ môn khác trong khoa văn học là thi pháp không chỉ nghiên cứu cấu trúc và thuộc tính nghệ thuật của văn học từ góc độ nghệ thuật. Thi pháp học còn bao gồm sự miêu tả, khám phá hệ thống các 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phƣơng tiện cấu trúc nghệ thuật cụ thể mang sắc thái dân tộc và cá nhân. Boris Tomashevski “Nhiệm vụ của thi pháp học là nghiên cứu cấu tạo của tác phẩm văn học. Đối tượng của thi pháp là tiến hành miêu tả, phân loại, giải thích các hiện tượng được nghiên cứu” [42.
Từ các định nghĩa trên, ta thấy thi pháp học chủ yếu là một lĩnh vực nghiên cứu về đặc trƣng, tổ chức, các phƣơng thức, phƣơng tiện, nguyên tắc làm nên giá trị thẩm mĩ của văn học trong tính chỉnh thể của văn bản. Ở Việt Nam, từ những năm 30 cho đến trƣớc Cách mạng tháng Tám, 1945 có xuất hiện một số công trình văn học lẻ tẻ về thi pháp mà chƣa phải phƣơng pháp luận của một trào lƣu, một xu hƣớng thẩm mỹ. Từ năm 1945 đến năm 1975, nói chung các nhà lí luận và sáng tác văn học cách mạng ít chú ý đến phƣơng diện thi pháp, mặc dù đôi lúc có quan tâm đến phong cách, bút pháp sáng tác mà dƣờng nhƣ chỉ quan tâm nội dung phản ánh hiện thực. Ở miền Nam trong vùng kiểm soát của chính quyền cũ, tuy có điều kiện giới thiệu về lí thuyết cấu trúc song chƣa nêu vấn đề nghiên cứu thi pháp văn học.
Đã có một số công trình lí luận, nghiên cứu của các nhà nghiên cứu, các giáo sƣ bậc đại học nhƣng còn tản mạn, phân tán và về cơ bản, thi pháp học vẫn chỉ đƣợc quan niệm nhƣ là phép tắc làm thơ, kiến thức về thi ca. Việc nghiên cứu, phê bình văn học về cơ bản vẫn theo truyền thống cũ. Từ sau năm 1975, do ảnh hƣởng của Liên Xô cũ nên tại Việt Nam, tất cả lí thuyết về khoa học nhân văn phƣơng Tây vẫn bị coi là “quan điểm của chủ nghĩa tƣ bản”, đều bị phê phán và không cho “nhập cảnh”. Đầu những năm 1980, qua việc giới thiệu thi pháp học Liên Xô vào Việt Nam cùng với việc dịch một số công trình của Bakhtin, Khrapchenco của một số nhà nghiên cứu văn học nhƣ Phạm Vĩnh Cƣ, Duy Lập, Vƣơng Trí Nhàn, Lại Nguyên Ân, Trần Đình Sử… đã thực sự đƣa thi pháp học vào đời sống phê bình văn học dù còn có nhiều ngƣời ngỡ ngàng thậm chí hoài nghi.
Từ năm 1986, phong trào “đổi mới” cùng với việc “cởi trói”, “mở cửa”, giới thiệu các lí thuyết, trƣờng phái nghiên cứu của phƣơng Tây đã tác động 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lớn đến việc nghiên cứu thi pháp đồng thời dấy lên trong giới nghiên cứu và giảng dạy văn học nhu cầu tìm hiểu thi pháp học, nhiều ngƣời xem đó là cách đổi mới trong nghiên cứu, phê bình văn học. Một trong những ngƣời tiên phong về thi pháp là Trần Đình Sử với một loại công trình nghiên cứu nhƣ Thi pháp thơ Tố Hữu, Thi pháp văn học trung đại Việt Nam, Thi pháp Truyện Kiều… Ngoài ra, đáng chú ý là các tác giả chuyên ngành ngôn ngữ học nhƣ Phan Ngọc (với các công trình nghiên cứu về Truyện Kiều (1985) và về thơ Đƣờng (1990), thơ song thất lục bát, cách đọc văn học theo ngôn ngữ học); Nguyễn Phan Cảnh, với cuốn Ngôn ngữ thơ, vừa có tính lí thuyết vừa có tính phổ cập, đề cập vấn đề của thơ.