phần mở đầu, kết luận, luận án có cấu trúc gồm 3 chương: hương 1: ơ sở lí luận và thực tiễn của dạy học theo tiếp cận “ ” trong đào tạo GVKT hương 2: MHDH theo tiếp cận “ ” và áp dụng trong đào tạo GVKT hương 3: hực nghiệm khoa học. [7] ƯƠ 1 – CƠ SỞ LÍ LUẬ À Ự Ễ Ủ ẠY THEO ẾP Ậ “ ” TRONG ĐÀ Ạ GIÁO VIÊN Ĩ UẬ 1. q l sử iê ứ vấ đề iệc đề xuất một MHDH theo tiếp cận “ ” trong đào tạo GVKT cần thiết phải kế thừa những thành tựu nghiên cứu liên quan đến 2 vấn đề: 1) Những nghiên cứu về MHDH trong H, và 2) ạy học theo tiếp cận “ ” trong H. Những nghiên cứu về mô hình dạy học trong giáo dục đại học Lịch sử phát triển H luôn gắn liền với những quan điểm, tư tưởng, phương pháp luận và những thay đ i trong thực tiễn hoạt động dạy học của nhà trường.
ó là những MHDH đã được nghiên cứu rất đa dạng, phong phú trên thế giới và ở iệt Nam. Nó phản ánh sự phát triển không ngừng của nền H trong sự tiến bộ văn hóa và văn minh nhân loại. MH H phản ánh quan điểm, tư tưởng, cách tiếp cận để xây dựng hệ thống dạy học trong nhà trường phục vụ nhu cầu của xã hội trong từng giai đoạn lịch sử. Nó gắn liền với quá trình phát triển của khoa học - công nghệ, với nền sản xuất xã hội và trình độ văn minh của xã hội.
rên bình diện đó có thể nhận thấy, nền H thế giới từ khi mới hình thành ( H phương ông cách đây 3000 năm; H phương ây từ cuối thời kì rung c - hế kỉ X ) đến nay đã có sự chuyển biến toàn diện từ tinh hoa sang GD đại chúng, từ GD truyền thống sang GD hiện đại (thay thế), từ theo mục tiêu (nội dung) sang dựa vào đầu ra (năng lực). - MHDH truyền thống phản ánh đặc trưng mang tính thống trị của nền truyền thống ( raditional education) được phát triển mạnh mẽ trong giai đoạn đầu thế kỉ X X trở về trước (trước khi bắt đầu một nền hiện đại: thay thế - Alternative education, hoặc tiên tiến - Progressive education), đến nay vẫn ngự trị trong các “nhà trường truyền thống”. ặc trưng cơ bản của mô hình này là học qua lắng nghe và quan sát để ghi nhớ các sự kiện, các thông tin khách quan. Kiến thức đúng đắn được xem là tối quan trọng trong sự học này.
ề cơ bản, MH H truyền thống lấy hoạt động của người thầy làm trung tâm. ức là quá đề cao vai trò của người dạy trong sứ mạng “ban phát kiến thức”, chuyển tải thông tin đến người học. ì vậy, lối dạy truyền thống thường diễn ra dưới hình thức thầy là người thuyết trình, diễn giảng, là “kho tri thức” sống, trò là người nghe, nhớ, ghi chép và suy nghĩ theo. Học trò dễ rơi vào trạng thái thụ động tiếp thu kiến thức.
Mô hình truyền thống coi trọng kiến thức, thiên về lí luận, ít chú ý đến kĩ năng thực hành của người học. o đó kĩ năng hành dụng vào đời sống thực tế bị hạn chế. Beck, Robert H (2009) cho rằng phương pháp truyền thống nhấn mạnh tất cả S được dạy cùng một tài liệu tại cùng một thời điểm; S học không đủ nhanh trong thời gian quy định sẽ thất bại, chứ không được phép thành công ở tốc độ tự nhiên của họ. [74] MHDH truyền thống ở phương ông “phản ánh và truyền bá các hệ tư tưởng Nho giáo, Phật giáo, Ấn độ giáo và các giá trị văn hoá - xã hội trong đó [8] chủ yếu là dạy hệ thống các triết lí, quan niệm, tín điều, văn chương, một số kĩ năng tính toán và rất ít tính duy lí, phân tích.
MHDH truyền thống ở phương ây đặc trưng phụ thuộc vào các tác phẩm c điển của các tác giả như Homer (750-650 TCN), Sophocles (496-406 TCN), Plato (427-347 TCN), Josephus (100-37 TCN), Dante (1265- 1321), Shakespeare (1564-1616) và sự hội nhập của một thế giới quan Kitô giáo vào tất cả các đối tượng. [103] H ở iệt Nam được khởi đầu từ năm 1076 với sự ra đời của trường đại học đầu tiên mang tên “Quốc ử iám” thời kì nhà Lí. ừ đó đến nay, nền H iệt Nam trải qua các thời kì: Phong kiến (1706 - 1884); Pháp thuộc (1885 – 1945); ách mạng (1945 – 1975); Hòa bình (1976-1985); i mới (1986 – nay). Ở mỗi giai đoạn đó, H đã phản ánh rõ nét thăng trầm của lịch sử dân tộc, và cũng mang đậm nét những đặc trưng của các nền phương ông, phương ây, đồng thời vừa mang tính truyền thống, vừa mang tính hiện đại.
MH H truyền thống đã tồn tại cho đến tận ngày nay. Tuy nhiên, nhiều nhà đã lên tiếng phản biện những bất cập của nó, đồng thời tích cực đề xuất hướng cải cách H theo mô hình hiện đại. Những quan điểm, tư tưởng tiến bộ và sự du nhập của những phương pháp, kĩ thuật dạy học hiện đại đã được nghiên cứu vận dụng và phát triển mạnh mẽ từ thập niên 90 thế kỉ XX trở lại đây. - MHDH hiện đại phản ánh đặc trưng của một nền tiên tiến (nền thay thế truyền thống), gắn liền với những tư tưởng tiến bộ, những cuộc cải cách diễn ra mạnh mẽ ở phương ông và phương ây từ cuối thế kỉ X X đến nay.
ặc trưng của dạy học hiện đại thể hiện ở những điểm chung sau: + Nhấn mạnh vào học bằng làm - thực hành dự án, học tập trải nghiệm + hương trình giảng dạy tích hợp, tập trung vào các đơn vị chuyên đề + Nhấn mạnh vào giải quyết vấn đề và tư duy phản biện + Hợp tác và học tập hợp tác trong các dự án + Làm việc theo nhóm, phát triển các kĩ năng xã hội + GD trách nhiệm xã hội và dân chủ + ánh giá cao cá nhân và phát triển cá nhân trong GD + ích hợp các dự án phục vụ cộng đồng và các dịch vụ học tập vào chương trình giảng dạy hàng ngày + Lựa chọn nội dung chủ đề bằng cách nhìn về phía trước để yêu cầu những kĩ năng gì sẽ cần trong xã hội tương lai + Hợp tác doanh nghiệp trong GD + ập trung vào học tập suốt đời [9] ạy học hiện đại được phản ánh đầu tiên trong những tác phẩm của John Locke và Jean-Jacques Rousseau. ả hai lần lượt được gọi là tiền thân của trào lưu tiến bộ sau này [90]. Phong trào sư phạm tiến bộ bắt đầu từ cuối thế kỉ X X, với những đại diện tiêu biểu như Johann Heinrich Pestalozzi (1859), Johann Friedrich Herbart (1883), John Dewey (1897, 1900, 1902, 1916, 1938). Johann Heinrich Pestalozzi (1746-1827) là một nhà sư phạm và cải cách hụy Sĩ đã tin rằng, mỗi cá nhân có khả năng học tập riêng và quyền được GD.
Ông thành lập một số cơ sở cả ở ức, hụy Sĩ và khu vực nói tiếng Pháp, và đã viết nhiều công trình giải thích nguyên tắc hiện đại mang tính cách mạng của ông về GD. Phương châm của ông là “Học qua đầu, bàn tay và trái tim”. Ông cũng cho rằng, trẻ em học thông qua các động lực bên trong của mình chứ không phải thông qua ép buộc. Nhiệm vụ của giáo viên sẽ giúp đỡ và hướng dẫn S thông qua việc học của họ để phát triển cá nhân.
Nghiên cứu và lí thuyết của ông gần giống với những phác thảo của Rousseau trong Emile. Nhiều người trong số các nhà tiên phong của tiến bộ đã đề ra các nguyên tắc của phương pháp sư phạm hiện đại có nguồn gốc từ lí thuyết của Pestalozzi, bao gồm những ý tưởng của học tập dựa trên điều tra, lấy người học làm trung tâm; tập trung vào các lợi ích và nhu cầu của người học; hợp tác và giao tiếp giữa giáo viên và SV; học tập thông qua hoạt động chứ không phải thụ động. Ông được nhiều người cho là “cha đẻ của khoa học hiện đại”. 2] Johann Friedrich Herbart (1776-1841) là một nhà triết học, tâm lí học, học n i tiếng người ức, và là người sáng lập ra ngành học “phương pháp sư phạm”.
Phương pháp sư phạm của Herbart nhấn mạnh kết quả của mối liên hệ giữa phát triển cá nhân và sự đóng góp của xã hội. Herbart mong muốn đào tạo con người có đạo đức, có tri thức, kinh nghiệm, dễ phục tùng, ngoan ngoãn, có kỉ luật. in vào khả năng GD, coi trọng đạo đức, tôn giáo, quan tâm tới thực hành, hoạt động lao động. Ông coi việc gây hứng thú là yêu cầu quan trọng nhất trong dạy học (có 6 loại hứng thú: Thực nghiệm, lí luận, thẩm mĩ, đồng tình, xã hội, tôn giáo).
ì “điều gì thích học thì học được nhanh và nắm được kĩ”. ách dạy phải sinh động, tránh khô khan. heo ông, bài giảng cần chia làm 4 giai đoạn (sáng tạo, liên tưởng, hệ thống hóa, phương pháp), qua đó hình thành kĩ năng, quan niệm, kinh nghiệm. ể hấp dẫn đối với lợi ích của người học, Herbart chủ trương sử dụng tài liệu và những câu chuyện lịch sử thay vì các cách giảng dạy cơ bản khô khan đã được ph biến vào thời điểm đó [121].
Mặc dù ông đã qua đời vào năm 1841 nhưng phương pháp sư phạm của ông đã góp phần phục hưng GD vào giữa thế kỉ XIX. John Dewey (1859 - 1952) là một nhà triết học Mỹ, nhà tâm lí học, GD học đã có ảnh hưởng lớn trong tiến bộ và cải cách xã hội. Năm 1896, ewey và các đồng nghiệp đã thành lập rường hực nghiệm giáo dục thuộc đại học Chicago (Chicago Laboratory School of Education) do chính ông làm Hiệu trưởng. Ông cũng là một trong những sáng lập viên của The New School – trường đại học mới, ra đời trong phong trào tiến bộ ở New York.
Ông là người đầu tiên chống lại một kiểu nhà trường học sinh nhại lại những lời giảng của thầy giáo. ì thế, ewey chủ trương loại bỏ phương pháp học tập theo lối [10] truyền thống và khuyến khích sự tham gia sáng tạo của người học trong các hoạt động dạy học. ại các ngôi trường mà ông sáng lập, người học được trải nghiệm và tương tác xã hội thông qua các hoạt động gắn với đời sống thực tiễn. Ông lập luận rằng, và học tập là quá trình xã hội và tương tác.
o đó các trường tự nó là một t chức xã hội, qua đó cải cách xã hội. Ngoài ra, ông tin các học sinh sẽ phát triển mạnh trong một môi trường mà họ được phép để trải nghiệm và tương tác với chương trình giảng dạy.