Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Khái niệm giao tiếp Theo quan điểm của các nhà tâm lí học xã hội thì giao tiếp được xem là quá trình thông tin bao gồm việc thực hiện và duy trì sự liên hệ giữa các cá nhân. Nhà tâm lí học xã hội Mỹ C.Osgood cho rằng giao tiếp bao gồm các hành động riêng rẽ mà thực chất là chuyển giao thông tin và tiếp nhận thông tin. Ông cho rằng giao tiếp là một quá trình gồm hai mặt: liên lạc và ảnh hưởng lẫn nhau, tác động qua lại lẫn nhau.
Nhà tâm lí học xã hội người Anh M.Argule lại mô tả giao tiếp như quá trình ảnh hưởng lẫn nhau qua các hình thức tiếp xúc khác nhau. Giao tiếp thông tin được biểu hiện bằng lời hay bằng phi ngôn ngữ từ nhiều người đến một người giống như việc tiếp xúc thân thể của con người trong quá trình tác động qua lại về mặt vật lí và chuyển dịch không gian (Dẫn theo [33]). Các nhà Tâm lí học Liên Xô (cũ) cũng quan tâm nghiên cứu vấn đề giao tiếp trên nhiều khía cạnh. Dưới góc độ tiếp cận nhận thức, theo quan điểm của mình L.Vưgotxki cho rằng: Giao tiếp là quá trình chuyển giao tư duy và cảm xúc.Platonôv viết: “Giao tiếp là những mối liên hệ có ý thức của con người trong cộng đồng loài người”.
Dưới góc độ nhân cách, V.Miaxixev lại cho rằng: “Giao tiếp là một quá trình quan hệ tác động qua lại lẫn nhau giữa các nhân cách cụ thể”.Kolôminxki thì “giao tiếp là sự tác động qua lại có đối tượng và thông tin giữa con người với con người, trong đó những quan hệ nhân cách được thực hiện, bộc lộ và hình thành”. Ở góc độ tiếp cận về chức năng giao tiếp, theo B.Parưgin thì: “Giao tiếp là quá trình quan hệ tác động giữa các cá thể, là quá trình thông tin quan hệ giữa con người với con người, là quá trình hiểu biết lẫn nhau, ảnh hưởng lẫn nhau và trao đổi xúc cảm lẫn nhau” (Dẫn theo [3, tr. Và ở góc độ xem xét giao tiếp là một dạng hoạt động, định nghĩa của A.Lêônchiev đã chỉ ra: “Giao tiếp là 15 một hệ thống những quá trình có mục đích và động cơ trong hoạt động tập thể, thực hiện các quan hệ xã hội và nhân cách, các quan hệ tâm lí và sử dụng những phương tiện đặc thù, mà trước hết là ngôn ngữ”. Đặc biệt, khi tiếp cận ở khía cạnh hệ thống, Georgen Thiner cho rằng: “Giao tiếp là sự truyền đạt thông tin, qua đó các trạng thái của hệ thống phát thông tin phát huy ảnh hưởng tới trạng thái của hệ nhận thông tin”.Berlo (1960) cũng đưa ra định nghĩa: “Giao tiếp của con người là một quá trình có chủ định hay không có chủ định, có ý thức hay không có ý thức mà trong đó các cảm xúc và tư tưởng được diễn đạt trong các thông điệp bằng ngôn ngữ hoặc phi ngôn ngữ.
Giao tiếp của con người diễn ra ở các mức độ: trong con người, giữa con người với con người và công cộng. Giao tiếp của con người là một quá trình năng động, bất thuận nghịch, tác động qua lại và có tính chất ngữ cảnh” (Dẫn theo [3, tr. Ở Việt Nam, vấn đề giao tiếp mới được nghiên cứu từ những năm 1970-1980 và cũng có những khái niệm về giao tiếp được xác lập. Theo tác giả Mai Xuân Huy, “Giao tiếp là quá trình thiết lập và phát triển tiếp xúc giữa các cá nhân, xuất phát từ nhu cầu phối hợp hành động.
Giao tiếp gồm hàng loạt các yếu tố như trao đổi thông tin, xây dựng chiến lược hoạt động thống nhất, tri giác và tìm hiểu người khác. Giao tiếp có ba khía cạnh chính là giao lưu, tác động tương hỗ và tri giác” [17, tr. Tác giả Nguyễn Quang Uẩn khẳng định: “Giao tiếp là sự tiếp xúc tâm lí giữa người và người, thông qua đó con người trao đổi với nhau về thông tin, về cảm xúc, tri giác lẫn nhau, ảnh hưởng tác động qua lại với nhau. Hay nói cách khác, giao tiếp xác lập và vận hành các quan hệ người - người, hiện thực hóa các quan hệ xã hội giữa chủ thể này với chủ thể khác” [47, tr.
Tương tự, tác giả Trần Trọng Thủy quan niệm: “Giao tiếp của con người là một quá trình chủ đích hay không có chủ đích, có ý thức hay không có ý thức trong đó các cảm xúc và tư tưởng được diễn đạt trong các thông điệp bằng ngôn ngữ hoặc phi ngôn ngữ”. [Dẫn theo 47, tr.11] Với góc nhìn khác, tác giả Diệp Quang Ban quan niệm: “Giao tiếp là sự tiếp xúc với nhau giữa cá thể này với cá thể khác trong cộng đồng xã hội”. Tác giả mở 16 rộng hơn khái niệm giao tiếp khi cho rằng: “Loài động vật cũng có thể làm thành những xã hội vì chúng sống có giao tiếp với nhau như xã hội loài ong, xã hội loài kiến” [5, tr. Tác giả Bùi Minh Toán diễn giải một cách giản dị: “Giao tiếp chính là sự tiếp xúc, giao lưu giữa người và người trong xã hội, qua đó con người bộc lộ và truyền đạt cho nhau những nhận thức, tư tưởng và cả những tình cảm, thái độ đối với nhau và đối với những điều được diễn đạt…”.169] Qua các khái niệm trên có thể thấy rằng giao tiếp là quá trình tác động qua lại, trao đổi thông tin, ảnh hưởng lẫn nhau, nhận biết lẫn nhau giữa hai chủ thể giao tiếp.
Giao tiếp thường tham gia vào hoạt động thực tiễn của con người như lao động, học tập, vui chơi. bảo đảm cho sự tác động, tham gia vào quá trình thực hiện và kiểm tra hoạt động của con người. Đó là một quá trình thiết lập mối quan hệ đa chiều giữa một người với một người hoặc với nhiều người xung quanh, liên quan đến sự truyền đạt thông điệp và sự đáp ứng với sự truyền đạt ấy, là quá trình chúng ta phát và nhận thông tin, suy nghĩ, có ý kiến và thái độ để có được sự thông cảm và hành động tiến tới việc chia sẻ mà qua đó, thông điệp đáp ứng được xuất hiện. Như vậy, giao tiếp là quá trình hình thành và phát triển sự tiếp xúc giữa người với người (nhân vật giao tiếp) được phát sinh từ nhu cầu trong hoạt động chung, bao gồm sự trao đổi thông tin (hoàn cảnh, nội dung giao tiếp), xây dựng chiến lược tương tác thống nhất tri giác và tìm hiểu người khác nhằm đạt được một mục đích nào đó (mục đích giao tiếp).
Chức năng của giao tiếp Nghiên cứu về chức năng của giao tiếp người ta đề cập đến vai trò của giao tiếp trong đời sống cộng đồng xã hội. Có thể thấy giao tiếp có các chức năng sau: - Chức năng thông tin hai chiều: chức năng này biểu hiện ở khía cạnh truyền thông của giao tiếp thể hiện qua hai mặt truyền tin và nhận tin. Qua giao tiếp mà con người trao đổi với nhau những thông tin nhất định, truyền đạt kiến thức, kinh nghiệm. Mỗi cá nhân trong giao tiếp vừa là nguồn phát thông tin vừa là 17 nguồn thu thông tin.
Do vậy, giao tiếp là điều kiện cần thiết để con người tồn tại và phát triển. - Chức năng điều khiển, điều chỉnh hành vi: chức năng này thể hiện ở sự tác động, ảnh hưởng lẫn nhau trong giao tiếp. Cá nhân có thể tác động, gây ảnh hưởng đến người khác đồng thời người khác cũng có thể tác động, gây ảnh hưởng đối với cá nhân đó. Giao tiếp cũng là phương tiện giúp cá nhân tự nhận thức bản thân, tiếp thu những đánh giá về bản thân mà sự đối chiếu và tự nhận thức, điều chỉnh lại.
- Chức năng xúc cảm: chức năng này giúp con người thỏa mãn những nhu cầu xúc cảm, tình cảm. Cá nhân có thể biểu lộ thái độ, tâm trạng của mình đối với người khác cũng như có thể bộc lộ quan điểm, thái độ về một vấn đề nhất định và ngược lại. - Chức năng giáo dục và phát triển nhân cách: Con người tham gia vào các mối quan hệ xã hội mà từ đó hình thành, phát triển nhân cách của mình. Nói cách khác, giao tiếp giúp con người tiếp nhận những kinh nghiệm và những chuẩn mực thông qua đó có sự hình thành và phát triển nhân cách một cách toàn diện trên bình diện con người - cá nhân.
Chính những chức năng này của giao tiếp cũng ảnh hưởng và tạo nên vai trò hết sức độc đáo của giao tiếp. Giao tiếp ảnh hưởng đến sự phát triển của cá nhân cũng như ảnh hưởng đến đời sống xã hội của con người và là điều kiện của sự tồn tại, phát triển xã hội. Các nhân tố của hoạt động giao tiếp Trong hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ có nhiều yếu tố tham gia và ảnh hưởng đến các phương diện của hoạt động giao tiếp. Những nhân tố này vừa góp phần thực hiện hoạt động, vừa ảnh hưởng chi phối đến các hoạt động.
Đó là các nhân tố: Nhân vật giao tiếp: là những người tham gia vào hoạt động giao tiếp. Trong giao tiếp, các nhân vật giao tiếp luân phiên đảm nhiệm vai trò người phát (nói/viết) hoặc người nhận (nghe/đọc). 18 Giữa các nhân vật giao tiếp có thể có quan hệ cùng vai (như quan hệ bạn học, đồng nghiệp với nhau,…) hoặc quan hệ khác vai (quan hệ cha mẹ với con, thầy cô giáo và học sinh,…). Muốn cuộc giao tiếp đạt kết quả như mong muốn, người phát cần phải xác định đúng quan hệ vai giữa mình với người nhận để lựa chọn hình thức giao tiếp thích hợp nhất.
Đặc điểm của các nhân vật giao tiếp về lứa tuổi, về nghề nghiệp, về giới tính và trình độ hiểu biết, về vốn sống, về địa vị xã hội… đều luôn luôn ảnh hưởng và để lại dấu ấn trong hoạt động giao tiếp, nhất là trong các ngôn bản. Nhân tố nhân vật giao tiếp trả lời cho các câu hỏi: ai nói? (ai viết?), nói với ai? (viết cho ai?). Hiện thực được nói tới: đây là nhân tố nội dung giao tiếp. Nó bao gồm những sự kiện, hiện tượng, sự vật trong thực tế khách quan và cả những tình cảm, tâm trạng của con người.
Hiện thực được nói tới tạo thành đề tài và bội dung của hoạt động giao tiếp. Nhân tố này cũng luôn ảnh hưởng đến những hình thức và đặc điểm của hoạt động giao tiếp, của ngôn ngữ và trả lời các câu hỏi: nói (viết) cái gì/ vấn đề gì? Hoàn cảnh giao tiếp: là hoàn cảnh diễn ra cuộc giao tiếp. Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ cũng như những hoạt động khác của con người – luôn luôn diễn ra trong những hoàn cảnh nhất định.