Luận Án Tiến Sĩ Về Dạy Học Hình Học Phẳng Để Phát Triển Năng Lực Sáng Tạo Cho Học Sinh Chuyên Toán

Luận án tiến sĩ nghiên cứu phương pháp dạy học hình học phẳng nhằm phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh chuyên toán trung học phổ thông.

Chuyên ngành

Lí luận và Phƣơng Pháp Dạy Học Bộ Môn

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ Khoa Học Giáo Dục

2021

263
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về dạy học hình học phẳng và năng lực sáng tạo

Dạy học hình học phẳng không chỉ đơn thuần là truyền đạt kiến thức mà còn là một phương pháp phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh chuyên toán. Hình học phẳng giúp học sinh hình thành tư duy logic, khả năng quan sát và phân tích. Việc áp dụng các phương pháp dạy học hiện đại sẽ tạo ra môi trường học tập tích cực, khuyến khích học sinh khám phá và sáng tạo. Theo nghiên cứu của Nguyễn Xuân Quỳnh, việc dạy học hình học phẳng theo hướng phát triển năng lực sáng tạo là một yêu cầu cấp thiết trong bối cảnh giáo dục hiện đại.

1.1. Khái niệm về dạy học hình học phẳng

Dạy học hình học phẳng là quá trình giáo dục giúp học sinh hiểu và áp dụng các khái niệm hình học trong thực tiễn. Nội dung dạy học bao gồm các khái niệm cơ bản như điểm, đường thẳng, mặt phẳng và các hình cơ bản. Việc nắm vững những kiến thức này là nền tảng để phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh.

1.2. Tầm quan trọng của năng lực sáng tạo trong giáo dục

Năng lực sáng tạo là khả năng phát hiện và giải quyết vấn đề một cách độc đáo. Trong giáo dục, năng lực này giúp học sinh không chỉ tiếp thu kiến thức mà còn áp dụng vào thực tiễn. Việc phát triển năng lực sáng tạo sẽ giúp học sinh tự tin hơn trong việc giải quyết các bài toán phức tạp.

II. Những thách thức trong dạy học hình học phẳng hiện nay

Dạy học hình học phẳng hiện nay đối mặt với nhiều thách thức, từ việc áp dụng phương pháp giảng dạy truyền thống đến việc thiếu sự sáng tạo trong thiết kế bài học. Nhiều giáo viên vẫn còn sử dụng phương pháp giảng dạy một chiều, dẫn đến việc học sinh không có cơ hội để phát triển năng lực sáng tạo. Theo nghiên cứu, việc thiếu các tài liệu hỗ trợ và công cụ dạy học hiện đại cũng là một trong những nguyên nhân chính.

2.1. Phương pháp giảng dạy truyền thống

Phương pháp giảng dạy truyền thống thường tập trung vào việc truyền đạt kiến thức một chiều, ít khuyến khích sự tham gia của học sinh. Điều này dẫn đến việc học sinh không phát triển được tư duy phản biện và khả năng sáng tạo.

2.2. Thiếu tài liệu và công cụ hỗ trợ

Nhiều giáo viên gặp khó khăn trong việc tìm kiếm tài liệu và công cụ hỗ trợ dạy học hình học phẳng. Việc thiếu các phần mềm vẽ hình động hay các tài liệu học tập phong phú làm giảm tính hấp dẫn của môn học.

III. Phương pháp dạy học hình học phẳng phát triển năng lực sáng tạo

Để phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh chuyên toán, cần áp dụng các phương pháp dạy học hiện đại. Các phương pháp như dạy học dự án, dạy học theo nhóm và sử dụng công nghệ thông tin sẽ giúp học sinh có cơ hội khám phá và sáng tạo. Theo nghiên cứu của Nguyễn Xuân Quỳnh, việc áp dụng các phương pháp này không chỉ giúp học sinh nắm vững kiến thức mà còn phát triển tư duy sáng tạo.

3.1. Dạy học dự án trong hình học phẳng

Dạy học dự án là phương pháp giúp học sinh làm việc theo nhóm để giải quyết các vấn đề thực tiễn liên quan đến hình học phẳng. Phương pháp này khuyến khích học sinh sáng tạo và phát triển kỹ năng làm việc nhóm.

3.2. Sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học

Công nghệ thông tin có thể được sử dụng để tạo ra các bài giảng sinh động và hấp dẫn hơn. Việc sử dụng phần mềm vẽ hình động giúp học sinh hình dung rõ hơn về các khái niệm hình học phẳng.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu

Việc áp dụng các phương pháp dạy học hình học phẳng theo hướng phát triển năng lực sáng tạo đã mang lại nhiều kết quả tích cực. Nghiên cứu cho thấy học sinh có khả năng giải quyết vấn đề tốt hơn và tự tin hơn trong việc trình bày ý tưởng của mình. Các hoạt động học tập phong phú đã giúp học sinh phát triển tư duy sáng tạo và khả năng làm việc nhóm.

4.1. Kết quả từ thực nghiệm sư phạm

Thực nghiệm sư phạm cho thấy học sinh tham gia vào các hoạt động học tập sáng tạo có kết quả học tập tốt hơn. Học sinh không chỉ nắm vững kiến thức mà còn phát triển kỹ năng giải quyết vấn đề.

4.2. Phản hồi từ học sinh và giáo viên

Phản hồi từ học sinh cho thấy họ cảm thấy hứng thú hơn với môn học khi được tham gia vào các hoạt động học tập sáng tạo. Giáo viên cũng nhận thấy sự tiến bộ rõ rệt trong khả năng tư duy và sáng tạo của học sinh.

V. Kết luận và hướng phát triển tương lai

Dạy học hình học phẳng theo hướng phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh chuyên toán là một xu hướng cần thiết trong giáo dục hiện đại. Việc áp dụng các phương pháp dạy học hiện đại sẽ giúp học sinh phát triển toàn diện hơn. Trong tương lai, cần tiếp tục nghiên cứu và cải tiến các phương pháp dạy học để đáp ứng tốt hơn nhu cầu của học sinh.

5.1. Tầm nhìn cho giáo dục hình học phẳng

Tầm nhìn cho giáo dục hình học phẳng là phát triển một chương trình học tập linh hoạt, sáng tạo và phù hợp với nhu cầu của học sinh. Cần tạo ra môi trường học tập khuyến khích sự sáng tạo và khám phá.

5.2. Đề xuất các giải pháp cải tiến

Cần đề xuất các giải pháp cải tiến trong việc thiết kế chương trình học và phương pháp dạy học. Việc đào tạo giáo viên về các phương pháp dạy học hiện đại cũng là một yếu tố quan trọng để nâng cao chất lượng giáo dục.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

24/07/2025
Luận án tiến sĩ dạy học hình học phẳng theo hướng phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh chuyên toán trung học phổ thông

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU. Lí do chọn đề tài. Tổng quan vấn đề nghiên cứu. Mục đích nghiên cứu.

Khách thể, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu. Giả thuyết khoa học. Nhiệm vụ nghiên cứu. Phƣơng pháp nghiên cứu.

Đóng góp của luận án. Những nội dung đƣa ra bảo vệ. Cấu trúc của luận án. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN.

Dạy học theo hƣớng phát triển năng lực ngƣời học. Dạy học theo hƣớng phát triển năng lực sáng tạo. Sự cần thiết của dạy học theo hướng phát triển năng lực sáng tạo. Vai trò của giáo viên trong dạy học theo hướng phát triển năng lực sáng tạo.

Giáo viên cần được hỗ trợ, tạo điều kiện để triển khai dạy học theo hướng phát triển năng lực sáng tạo. Một số đặc điểm của học sinh THPT chuyên và tiềm năng về sáng tạo. Một số thành tố của năng lực sáng tạo và biểu hiện năng lực sáng tạo của học sinh chuyên Toán trong học tập Hình học phẳng. Một số thành tố của năng lực sáng tạo.

Biểu hiện năng lực sáng tạo của học sinh trong học tập. Biểu hiện năng lực sáng tạo của học sinh chuyên Toán trong học tập Hình học phẳng. Cơ hội dạy học Hình học phẳng theo hƣớng phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh chuyên Toán trung học phổ thông. Thực trạng dạy học Hình học phẳng ở các trƣờng THPT chuyên theo hƣớng phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh.

Nội dung chương trình Hình học phẳng ở lớp 10 chuyên Toán. Tài liệu giáo khoa chuyên toán. Thực trạng dạy học. Một số phƣơng pháp, kĩ thuật sáng tạo có thể vận dụng trong dạy học Hình học phẳng.

Phương pháp SCAMPER. Các thủ thuật sáng tạo do Altshuller đề xuất. Dạy học theo định hướng giáo dục STEM. Dạy học Hình học bằng tiếng Anh .67 KẾT LUẬN CHƢƠNG 1.

MỘT SỐ BIỆN PHÁP DẠY HỌC .71 HÌNH HỌC PHẲNG THEO HƢỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SÁNG TẠO CHO HỌC SINH CHUYÊN TOÁN TRUNG HỌC PHỔ THÔNG. Định hƣớng xây dựng và thực hiện các biện pháp. Các biện pháp đề ra cần hướng đến mục tiêu giúp GV thực hiện được việc dạy học Hình học phẳng theo hướng PTNLST cho HS. Mỗi biện pháp cần được thực hiện thông qua một số hoạt động tương ứng của HS và GV.

Biện pháp đề xuất phải có tính khả thi, phù hợp với chương trình môn học, điều kiện cơ sở vật chất của các trường THPT chuyên. Một số biện pháp dạy học Hình học phẳng theo hƣớng phát triển năng lực sáng tạo cho HS chuyên toán THPT. Nhóm biện pháp thứ nhất: Hình thành và rèn luyện cho HS một số kĩ năng tìm ra ý tưởng mới, cách giải quyết mới trong học tập Hình học phẳng. Nhóm biện pháp thứ hai: Sử dụng các câu hỏi, bài tập, chủ đề dạy học có tính mở để HS có cơ hội tìm tòi, khám phá và ST.

Nhóm biện pháp thứ ba: DH Hình học phẳng với sự hỗ trợ của các phần mềm vẽ hình động; tổ chức đa dạng các hoạt động học tập, trải nghiệm, khám phá và giải trí toán học để nuôi dưỡng đam mê môn học cho HS .114 KẾT LUẬN CHƢƠNG 2. THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM. Mục đích và nhiệm vụ thực nghiệm sƣ phạm. Mục đích thực nghiệm.

Nhiệm vụ của thực nghiệm. Tổ chức thực nghiệm sƣ phạm. Quy trình thực nghiệm sư phạm. Tổ chức thực nghiệm sư phạm.

Nội dung thực nghiệm sư phạm. Các phương pháp đánh giá kết quả thực nghiệm. Đánh giá kết quả thực nghiệm. Thực nghiệm thăm dò.

Thực nghiệm chính thức .132 KẾT LUẬN CHƢƠNG 3 .146 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ .148 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN .151 TÀI LIỆU THAM KHẢO.163 DANH MỤC BẢNG Bảng 3. Thông tin lớp dạy mẫu và lớp TN. Bảng tiến trình vận dụng thủ thuật “Đảo ngược”. Thống kê số nhóm hoàn thành các HĐ.

Thống kê số nhóm thực hiện thành công các HĐ. Thống kê số HS đề xuất được bài toán mới. Thống kê số đề xuất có giá trị về chiến thuật chơi của các nhóm:. Thống kê số nhóm thực hiện thành công các HĐ.

Thống kê số lượng HS có các biểu hiện của NLST thông qua bài kiểm tra ở trường THPT Chuyên Hùng Vương trước và sau TN. Thống kê số lượng HS có các biểu hiện của NLST thông qua bài kiểm tra ở trường THPT Chuyên Chu Văn An trước và sau TN. Thông tin các học sinh trong nghiên cứu tường hợp. Thống kê việc làm bài của HS đối với bài kiểm tra Hình học có nhiều cách giải.

Thống kê mức độ biểu hiện các thành tố NLST của 5 HS trước TN và sau TN. Lí do chọn đề tài Lịch sử phát triển của nhân loại đã trải qua ba cuộc cách mạng công nghiệp, mỗi cuộc cách mạng đều bắt đầu từ các phát minh vĩ đại và kết quả là có bƣớc đột phá về kinh tế, xã hội, văn hóa, khoa học kĩ thuật và công nghệ. Cách mạng công nghiệp lần thứ tƣ (cách mạng 4.0) đang diễn ra đƣợc cho là cuộc cách mạng về kĩ thuật số, internet vạn vật, trí tuệ nhân tạo và phân tích dữ liệu lớn. Việc đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng các yêu cầu của cách mạng 4.0 đòi hỏi phải có sự đột phá trong giáo dục.

Thay vì chú trọng truyền thụ kiến thức (một chiều), giáo dục và đào tạo cần hình thành, PT các loại hình NL để ngƣời học có thể vận dụng vào cuộc sống, đáp ứng các yêu cầu của của thực tiễn, hƣớng nghiệp và phát triển. DH theo định hƣớng PTNL ngƣời học đã trở thành một yêu cầu cấp thiết và là xu hƣớng chung của giáo dục ở nhiều quốc gia trên thế giới. Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ƣơng Đảng Cộng sản Việt Nam (khóa XI) đã thông qua “Nghị quyết số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế nhằm chuyển nền giáo dục nặng về truyền thụ kiến thức sang nền giáo dục PT toàn diện cả về phẩm chất và NL, hài hòa đức, trí, thể, mỹ, phát huy tốt nhất tiềm năng của mỗi HS” [2]. Trên cơ sở đó, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 88/2014/QH13 ngày 28 tháng 11 năm 2014 về đổi mới CT, sách giáo khoa giáo dục phổ thông, góp phần đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo.

Với những chủ trƣơng nêu trên, đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo ở Việt Nam đang hƣớng đến mục tiêu hình thành và PT phẩm chất, NL ngƣời học. Trên tinh thần đó, CT GDPT mới đƣợc xây dựng theo định hƣớng PT phẩm chất và NL ngƣời học; chú trọng tạo môi trƣờng học tập và rèn luyện giúp HS PT hài hoà về thể chất và tinh thần, trở thành ngƣời học tích cực, tự tin, có khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; có ý thức rõ ràng về lựa chọn nghề nghiệp và học tập suốt đời; có những phẩm chất tốt đẹp và NL cần thiết để trở thành ngƣời công dân có trách nhiệm, ngƣời lao động có văn hoá, cần cù, ST, đáp ứng nhu cầu PT cá nhân và yêu cầu của đất nƣớc trong thời đại mới [7]. 2 Vấn đề tiếp theo đƣợc đặt ra là cần xác định các NL mà HS cần đạt sau khi kết thúc các bậc học, nhất là bậc THPT để các em có thể tiếp tục học lên đại học, cao đẳng, học nghề hoặc tham gia lao động. Nghiên cứu các NL cần thiết của con ngƣời trong thế kỉ XXI, David Finegold và Alexis Spencer Notabartolo [91] đã đề xuất danh mục gồm 14 NL trong đó NLST, đổi mới đƣợc xếp ở vị trí hàng đầu.

Khung NL trong CT GDPT ở rất nhiều quốc gia, nhƣ: Anh, Úc, Singapore, Malaysia, Nga, Hoa Kì, Phần Lan, Hàn Quốc… đều khẳng định ST là một trong những NL cần đạt của ngƣời học [52]. Theo nghiên cứu của Beghetto (2005), vấn đề ST trong giáo dục không chỉ là một cơ hội, mà là một điều cấp thiết. Với những lợi ích mà ST mang đến, ngƣời ta kì vọng vào một nền giáo dục tôn vinh sự ST. Tuy nhiên, dƣờng nhƣ những nỗ lực đƣa ST lên vị trí trung tâm của giáo dục đã bị lu mờ bởi những ƣu tiên khác và yêu cầu về lịch trình của GV và HS [119].

Ở Việt Nam, mục tiêu của GDPT là giúp HS PT toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kĩ năng cơ bản, PT NL cá nhân, tính năng động và ST, hình thành nhân cách con ngƣời Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tƣ cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho HS tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc [45]. CT GDPT tổng thể ban hành kèm theo Thông tƣ số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26/12/2018 của Bộ trƣởng Bộ Giáo dục và Đào tạo nêu rõ: Giải quyết vấn đề và ST là một trong những NL cốt lõi mà HS phổ thông cần đạt đƣợc [7]. Đối với các trƣờng THPT chuyên, “Mục tiêu của trƣờng chuyên là phát hiện những HS có tƣ chất thông minh, đạt kết quả xuất sắc trong học tập và PT năng khiếu của các em về một số môn học trên cơ sở đảm bảo giáo dục phổ thông toàn diện; giáo dục các em thành ngƣời có lòng yêu nƣớc, tinh thần vƣợt khó, tự hào, tự tôn dân tộc; có khả năng tự học, nghiên cứu khoa học và ST; có sức khỏe tốt để tiếp tục đào tạo thành nhân tài đáp ứng yêu cầu PT đất nƣớc”, [8]. HS chuyên Toán ở các trƣờng THPT chuyên là những HS có tƣ chất thông minh, nhận thức nhanh; trí nhớ tốt; say mê học tập; khả năng tự học tốt; khả năng khái quát cao; có cá tính rõ rệt; biết hợp tác; cần cù, nhẫn nại, vƣợt khó; chấp nhận thách thức; tự tin cao [27] - những biểu hiện ban đầu về NLST.

Nói cách khác, HS chuyên Toán THPT có tiềm năng ST, vì vậy DH theo hƣớng PT NLST cho các em là rất cần thiết. Đặc biệt, trong bối cảnh hiện nay, cả thế giới đang hƣớng tới một nền kinh tế tri 3 thức, việc tăng cƣờng “hàm lƣợng chất xám” trong các sản phẩm xã hội là một yêu cầu bắt buộc theo quy luật cạnh tranh.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ