mở đầu và câu văn thứ nhất của truyện ngắn là câu văn thao túng toàn bộ sự định hướng phát triển mạch truyện và người đọc. Ngoài người kể chuyện ra, ta cần biết, còn tồn tại người tiếp nhận truyện kể. Nó là mắt xích trung gian giữa người kể chuyện và người đọc. Nó giúp vạch rõ hơn khuôn khổ truyện và xác định đặc trưng người kể góp phần nêu bật những yếu tố chủ đề và sự phát triển cốt truyện.
Bỏ qua người tiếp nhận truyện kể thì khó có thể hiểu những gì bên ngoài ngôn ngữ truyện”. Thành tựu nghiên cứu đọc hiểu Đọc hiểu như một lý thuyết đọc được phát triển từ Jonathal Culler và Tzevan Todorov với thi pháp cấu trúc thể loại và tác phẩm, thực chất là lý thuyết đọc. Không chỉ thế, xa hơn còn có thể kể tới những phác thảo của Roland Barthers về “Khối tạo nghĩa”, của Iuri Lotman về “Cấu trúc văn bản nghệ thuật”, của M.Fouucault về “từ và vật” và của M. Bakhtin về “đối thoại” trong đọc hiểu.
Trực tiếp bàn về đọc hiểu chỉ thực sự bắt đầu từ cuối thế kỷ XX và lấn sang đầu thế kỷ XXI. Đó là những ánh hồi quang làm sống động lý thuyết và bổ sung trên cơ sở nghiên cứu, vận dụng của ngành lý luận phê bình văn học và giảng dạy văn học. Ngoài thi pháp cấu trúc, thành tựu nghiên cứu và vận dụng lý thuyết đọc hiểu còn chịu ảnh hưởng của các khuynh hướng phê bình mới Anh Mỹ năm 1920 - 1960, và trào lưu hiện tượng học cùng tiếp nhận văn học của R.Naumann, Schlented, Kopecsi, Khơrápchencô, Bôrit Mâylăc, Nguyễn Lai, Nguyễn Thanh Hùng, Trần Đình Sử, Huỳnh Vân, Hoàng Phong Tuấn… Cùng đó là thi pháp học của Bakhtin, Umbéctô Êcô, Đỗ Đức Hiểu, Trần Đình Sử, Phương Lựu… Nội dung lý thuyết đọc hiểu được nghiên cứu khá toàn diện trong những năm gần đây. Một số tác giả nước ngoài và Việt Nam đi sâu vào bản chất đọc hiểu và hành động đọc hiểu như Witser, Ingarden, Anderson, Winch, Nguyễn Thanh Hùng.
Một số khác lại tìm hiểu quá trình đọc như hệ thống lĩnh hội, tiếp nhận bao gồm cả sự hồi ứng của người đọc như Phan Trọng Luận, Nguyễn Thanh Hùng, Harvey, Goudvis, Rosenblatt, Phạm Thị Thu Hương, Hoàng Thị Mai… Xét từ bản chất đọc hiểu là quá trình nhận thức tích cực sáng tạo của người đọc, một số tác giả đã cố gắng làm rõ các giai đoạn và cấp độ nhận thức gắn liền với các dạng tư duy trong đọc hiểu văn bản như Bloom, Langer, Ruddell, Chapman, Meister, Nguyễn Thị Hồng Nam. Đối với họ, lý thuyết nhận thức và lý thuyết biểu hiện được vận dụng thường xuyên để người đọc chủ động giải mã thông điệp nghệ thuật và kiến tạo ý nghĩa cho văn bản. 14 Xuất phát từ lý thuyết diễn ngôn và dụng học văn học các tác giả Winch, Anderson, nhóm nghiên cứu đọc [167], hay Rosenblatt, Goudvis, Birch, Diệp Quang Ban… đều chỉ ra các nhân tố quan trọng chi phối trực tiếp kết quả đọc hiểu văn bản. Những nhân tố đó là văn cảnh, ngữ cảnh, bối cảnh tri thức, bối cảnh văn hóa, xã hội, chính trị luôn là một áp lực đối với người đọc, văn bản và tác giả.
Khuynh hướng chung của dụng học văn học là không chỉ dựa vào ngữ nghĩa để tìm nghĩa của văn bản đọc mà chủ yếu dựa vào hành động suy luận diễn giải, một cách đọc hiểu xem xét ngôn ngữ và việc sử dụng ngôn ngữ tác phẩm để làm gì chứ không phải biết ngôn ngữ là cái gì. Họ không chỉ phân tích diễn ngôn tác phẩm có ý nghĩa gì mà tìm hiểu tác phẩm có ý nghĩa như thế nào đối với người đọc và xã hội. Những tác giả này cho rằng không có một thứ ý nghĩa biệt lập nào lại tồn tại trong văn bản mà là sự tiềm ẩn của nhiều nghĩa mang đặc quyền được ưu tiên và được thừa nhận từ trước, chi phối ý nghĩa tác phẩm. Nhìn nhận về lợi ích của việc cụ thể hóa quá trình đọc hiểu văn bản và xét trên quan điểm phương pháp luận sư phạm nhiều tác giả đã chú ý làm sinh động hóa phương pháp dạy học đọc hiểu một cách đồng bộ.
Trong đó tạo nên sự kết nối hợp lý để hướng dẫn học sinh tự lực đọc hiểu bằng những ma trận, bản đồ tư duy, kỹ năng đọc, chiến thuật đọc, mô hình đọc hiểu, cấp độ đọc hiểu cho HS phổ thông. Đáng kể là sự đề xuất ba cấp độ đọc của Trần Đình Sử, mô hình đọc hiểu tác phẩm văn chương theo thể loại và kỹ năng đọc hiểu của Nguyễn Thanh Hùng. Ngoài ra còn có chiến thuật đọc hiểu của Phạm Thị Thu Hương và các cấp độc đọc hiểu của Hoàng Hòa Bình và Nguyễn Thị Hồng Nam. Tóm lại, lý thuyết đọc hiểu tác phẩm văn chương và cách vận dụng chúng trong nhà trường không chỉ giới hạn trong hành động đọc, cấp độ đọc, chiến thuật đọc để hiểu ý nghĩa cũng như giá trị của văn bản đọc mà còn giúp học sinh mở rộng kiến thức về đặc điểm của tác phẩm văn chương, về tính mở để tự hoàn thành cùng hiệu quả biết cách đọc của công chúng.
Sự tác động qua lại giữa kí hiệu nghệ thuật và hành động đọc hiểu tạo ra hiệu quả đó. Từ tác phẩm tưởng như đơn nghĩa đối với cấu trúc bền vững, bạn đọc - học sinh sẽ chinh phục nó với rất nhiều tiếp điểm được lý giải và quy chiếu ý nghĩa phù hợp thỏa đáng mà không làm mất đi giá trị ổn định của tác phẩm và giá trị mở ra ở người đọc. Có thể tạm thời tìm nơi cư ngụ nghĩa tác phẩm trên mặt bằng hiển hiện của ngôn từ tác phẩm. Ý nghĩa là sự giao thoa giữa điều muốn bày tỏ của nhà văn với hiệu quả thẩm mỹ của văn bản nghệ thuật cũng có thể hiểu là ý nghĩa toát ra từ cơ cấu hình tượng tác phẩm.
Nghĩa lý của tác phẩm là nguồn cội dẫn đến những hồ nghi để phủ định sai lầm trong nhận thức giản đơn, ngây thơ về cuộc sống. Cuối cùng là nghĩa tình với hiệu ứng thấu cảm của tâm hồn có nguồn gốc sâu xa trong thanh lọc qua sự bùng nổ cảm xúc trái chiều để tạo ra sự hài lòng với niềm vui mới ở người đọc. Nghiên cứu về tự sự học Nghiên cứu về tự sự học và dạy học đọc hiểu văn tự sự ở đây cần thấy mối liên hệ không hoàn toàn giống nhau giữa truyện kể và tác phẩm văn xuôi tự sự hiện đại được phát triển trên cơ sở truyện kể truyền thống. Ở nước ngoài Các nhà nghiên cứu thường nhắc đến những đóng góp lý thuyết quan trọng của V.
Propp về truyện cổ tích thần kỳ. Propp nghiên cứu “hình thái học của truyện cổ tích” và đưa ra khái niệm “phân tích một truyện cổ tích” và cách đọc hiểu truyện cổ tích thần kỳ theo hình thái học. Vấn đề trung tâm của truyện kể truyền thống hay tác phẩm văn xuôi tự sự sau này được nhấn mạnh vào hình tượng nhân vật. Propp đã chỉ ra đặc trưng của nhân vật trong truyện cổ tích là nhân vật chức năng được giao phó để thực hiện chức năng đó bằng hành động.
Nói chung khi nhận biết chức năng hãy bỏ qua một bên nhân vật hành động nào mà dựa vào ý nghĩa của bản thân hành động. Trong tiến trình hành động, bản thân hành động này được xem xét để xác định và đánh giá ý nghĩa của nó đối với nhân vật chính và đối với tiến trình hành động. Thành tựu lớn lao của V. Propp đã hé mở ra những nội dung lý thuyết và cách vận dụng chúng trong việc đọc hiểu truyện kể.
Trước hết là đọc ra từng yếu tố hợp thành kết cấu truyện để xác định ý nghĩa của nó, rồi phải đọc tiếp từ nghĩa kết cấu đơn giản đến cấu trúc hình thức nghệ thuật mà hiểu ý nghĩa. Hiểu nghĩa chỉ cần trả lời câu hỏi là gì? Với sự phân giải. Còn đọc hiểu ý nghĩa phải bắt đầu trả lời câu hỏi vì sao tác giả lại vận dụng những tình tiết, biến cố như thế trong kết cấu hình thức tự sự để người đọc suy luận ra ý nghĩa. Ở Đức, hai anh em Grimm với những truyện cổ tích được sưu tập đã minh chứng cho lý thuyết truyện kể và gián tiếp góp phần hiểu lý thuyết truyện kể.
Gần gũi với lý thuyết tự sự học hiện đại phải kể đến công trình “Thi pháp văn xuôi” của Todorov [148]. Đóng góp quan trọng của tác giả là tìm hiểu những biến đổi, chuyển dạng của kể chuyện tập trung vào sự sáng tạo hình thức tự sự một cách nghệ thuật và vạch ra con đường đọc truyện kể từ thế giới tưởng tượng của tác giả trong tác phẩm văn xuôi tự sự đến thế giới tưởng tượng của người đọc để đồng sáng tạo ra một truyện kể theo điểm nhìn và năng lực hư cấu của người đọc. Tiếp đến là công trình “Chính mình như một người khác” của P. Ricoeur [124] đã đi sâu nghiên cứu tính cách nhân vật dựa vào tính ổn định về các trạng thái tinh thần bộc lộ liên tục có thể đo đếm và cảm nhận được sự phong phú của tính cách để phân biệt nhân vật chính và nhân vật phụ.
Ricoeur cũng khẳng định “bản sắc nhân vật là cấu tố quan trọng nhất trong tác phẩm tự sự. Những mưu toan làm biến mất nhân vật thì cũng có nghĩa là làm mất đi đặc sắc của truyện kể”. Ricoeur ủng hộ nghệ thuật ngôn ngữ miêu tả xen vào lời kể để tạo ra “sự lạ hóa” trong lời kể như Sklovsky (Nga) và A. Robbe (Pháp) đã khởi xướng.
Sự bất ngờ là L. Vygotxky [164], một nhà tâm lý học kiệt xuất đã đóng góp cho tự sự học những phát hiện mới như đọc tác phẩm truyện kể để thanh lọc tâm hồn. Sự thanh tâm ấy có được do những xúc cảm đối nghịch trong khi đọc truyện kể, vượt qua cảm xúc bình thường của người đọc đã tiếp nhận những cảm xúc thẩm mỹ do hình thức nghệ thuật truyện kể tác động để người đọc đạt tới bản chất tốt đẹp của con người. Vygotxky khẳng định vai trò nhận thức và sức sáng tạo trong văn học nghệ thuật với 16 hai quan điểm lý luận: “nghệ thuật như một sự nhận thức” và “nghệ thuật như một thủ pháp”.
Vygotxky là nhà tâm lý học nghệ thuật tài năng bên cạnh một nhà tâm lý học phát triển danh tiếng vì ông chính là một người đọc chuyên nghiệp về văn học kinh điển, đọc Lép Tônxtôi, Crưcốp, Bunhin, Seechpia, Létxing… với một khả năng am hiểu tinh tường. Trên thế giới, người ta đã nghiên cứu sâu đặc trưng thể loại tự sự có liên quan đến đọc hiểu để sau này A.