Dạy Học Đọc Hiểu Văn Bản Tự Sự Ở Trung Học Phổ Thông Theo Quan Điểm Kiến Tạo

Bài viết khám phá phương pháp dạy học đọc hiểu văn bản tự sự ở trung học phổ thông theo quan điểm kiến tạo, nâng cao kỹ năng cho học sinh.

Chuyên ngành

Giáo Dục

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ

2021

143
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1.1. Lý do chọn đề tài

1.2. Mục đích nghiên cứu

1.3. Nhiệm vụ nghiên cứu

1.4. Đối tượng nghiên cứu

1.5. Phạm vi và giới hạn nghiên cứu

1.6. Phương pháp nghiên cứu

1.7. Giả thuyết khoa học

1.8. Dự kiến đóng góp của luận án

1.9. Bố cục của luận án

1. CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

1.1. Nghiên cứu về đọc hiểu văn bản và dạy học đọc hiểu VBTS

1.1.1. Ở nước ngoài

Tóm tắt

I. Tổng quan về dạy học đọc hiểu văn bản tự sự ở trung học phổ thông

Dạy học đọc hiểu văn bản tự sự (VBTS) ở trung học phổ thông (THPT) là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong chương trình giáo dục hiện nay. Việc áp dụng quan điểm kiến tạo trong dạy học không chỉ giúp học sinh (HS) phát triển năng lực đọc hiểu mà còn khuyến khích sự sáng tạo và tư duy phản biện. Theo chương trình giáo dục phổ thông 2018, việc dạy học cần tập trung vào việc phát triển phẩm chất và năng lực của HS, từ đó nâng cao chất lượng giáo dục.

1.1. Định nghĩa và vai trò của văn bản tự sự trong giáo dục

VBTS là một trong ba phương thức phản ánh đời sống của văn học, bên cạnh trữ tình và kịch. Nó đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển năng lực đọc hiểu cho HS, giúp các em tiếp cận và cảm nhận sâu sắc hơn về văn học.

1.2. Lý do cần đổi mới phương pháp dạy học đọc hiểu

Đổi mới phương pháp dạy học là cần thiết để đáp ứng yêu cầu phát triển phẩm chất và năng lực của HS. Việc áp dụng phương pháp dạy học kiến tạo sẽ giúp HS chủ động hơn trong việc tiếp nhận tri thức và phát triển tư duy độc lập.

II. Những thách thức trong dạy học đọc hiểu văn bản tự sự hiện nay

Mặc dù đã có nhiều đổi mới trong dạy học, nhưng vẫn còn nhiều thách thức trong việc dạy đọc hiểu VBTS ở THPT. Các yếu tố như áp lực kiểm tra đánh giá, thói quen giảng dạy truyền thống và sự thiếu đồng bộ trong các phương pháp dạy học đang cản trở quá trình này. Cần có những giải pháp cụ thể để khắc phục những vấn đề này.

2.1. Áp lực từ hệ thống kiểm tra đánh giá

Hệ thống kiểm tra đánh giá hiện tại thường tập trung vào việc ghi nhớ kiến thức thay vì phát triển kỹ năng đọc hiểu. Điều này dẫn đến việc HS không có cơ hội thực hành và phát triển tư duy phản biện.

2.2. Thói quen giảng dạy truyền thống

Nhiều giáo viên vẫn giữ thói quen giảng dạy truyền thống, tập trung vào việc truyền đạt kiến thức mà không khuyến khích HS tham gia vào quá trình học tập. Điều này làm giảm tính chủ động và sáng tạo của HS trong việc tiếp cận văn bản.

III. Phương pháp dạy học đọc hiểu văn bản tự sự theo quan điểm kiến tạo

Áp dụng phương pháp dạy học kiến tạo trong dạy đọc hiểu VBTS là một giải pháp hiệu quả. Phương pháp này khuyến khích HS tham gia tích cực vào quá trình học tập, từ đó giúp các em xây dựng ý nghĩa cho văn bản một cách chủ động. Việc sử dụng các hoạt động nhóm, thảo luận và phản hồi sẽ tạo ra môi trường học tập tích cực.

3.1. Tổ chức hoạt động nhóm trong dạy học

Hoạt động nhóm giúp HS trao đổi ý kiến, thảo luận và cùng nhau tìm hiểu văn bản. Điều này không chỉ phát triển kỹ năng giao tiếp mà còn giúp HS hiểu sâu hơn về nội dung văn bản.

3.2. Khuyến khích phản hồi và thảo luận

Khuyến khích HS đưa ra ý kiến cá nhân và phản hồi về văn bản sẽ giúp các em phát triển tư duy phản biện. Việc thảo luận về các giá trị văn hóa và triết lý trong văn bản cũng giúp HS hình thành quan điểm riêng.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu trong dạy học

Việc áp dụng các phương pháp dạy học mới trong dạy đọc hiểu VBTS đã cho thấy những kết quả tích cực. Nhiều trường học đã thực hiện thành công các mô hình dạy học theo quan điểm kiến tạo, từ đó nâng cao chất lượng dạy học và phát triển năng lực đọc hiểu cho HS.

4.1. Mô hình dạy học thành công

Một số trường đã áp dụng mô hình dạy học tích cực, giúp HS phát triển năng lực tự học và khả năng đọc hiểu văn bản một cách hiệu quả. Các mô hình này đã được ghi nhận và đánh giá cao trong các hội thảo giáo dục.

4.2. Đánh giá kết quả học tập của học sinh

Kết quả học tập của HS sau khi áp dụng phương pháp dạy học mới cho thấy sự cải thiện rõ rệt trong năng lực đọc hiểu. HS không chỉ nắm vững kiến thức mà còn biết vận dụng vào thực tiễn.

V. Kết luận và triển vọng tương lai của dạy học đọc hiểu văn bản tự sự

Dạy học đọc hiểu VBTS theo quan điểm kiến tạo không chỉ là một xu hướng mà còn là một yêu cầu cấp thiết trong giáo dục hiện đại. Việc phát triển các phương pháp dạy học mới sẽ giúp HS không chỉ nắm vững kiến thức mà còn phát triển toàn diện các phẩm chất và năng lực cần thiết cho tương lai.

5.1. Tương lai của dạy học đọc hiểu

Trong tương lai, việc dạy học đọc hiểu sẽ tiếp tục được cải tiến và đổi mới. Các phương pháp dạy học hiện đại sẽ được áp dụng rộng rãi hơn, giúp HS phát triển toàn diện hơn.

5.2. Khuyến khích nghiên cứu và phát triển

Cần khuyến khích các nghiên cứu về dạy học đọc hiểu VBTS để tìm ra những phương pháp hiệu quả hơn. Việc chia sẻ kinh nghiệm và kết quả nghiên cứu sẽ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục.

09/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu và câu văn thứ nhất của truyện ngắn là câu văn thao túng toàn bộ sự định hướng phát triển mạch truyện và người đọc. Ngoài người kể chuyện ra, ta cần biết, còn tồn tại người tiếp nhận truyện kể. Nó là mắt xích trung gian giữa người kể chuyện và người đọc. Nó giúp vạch rõ hơn khuôn khổ truyện và xác định đặc trưng người kể góp phần nêu bật những yếu tố chủ đề và sự phát triển cốt truyện.

Bỏ qua người tiếp nhận truyện kể thì khó có thể hiểu những gì bên ngoài ngôn ngữ truyện”. Thành tựu nghiên cứu đọc hiểu Đọc hiểu như một lý thuyết đọc được phát triển từ Jonathal Culler và Tzevan Todorov với thi pháp cấu trúc thể loại và tác phẩm, thực chất là lý thuyết đọc. Không chỉ thế, xa hơn còn có thể kể tới những phác thảo của Roland Barthers về “Khối tạo nghĩa”, của Iuri Lotman về “Cấu trúc văn bản nghệ thuật”, của M.Fouucault về “từ và vật” và của M. Bakhtin về “đối thoại” trong đọc hiểu.

Trực tiếp bàn về đọc hiểu chỉ thực sự bắt đầu từ cuối thế kỷ XX và lấn sang đầu thế kỷ XXI. Đó là những ánh hồi quang làm sống động lý thuyết và bổ sung trên cơ sở nghiên cứu, vận dụng của ngành lý luận phê bình văn học và giảng dạy văn học. Ngoài thi pháp cấu trúc, thành tựu nghiên cứu và vận dụng lý thuyết đọc hiểu còn chịu ảnh hưởng của các khuynh hướng phê bình mới Anh Mỹ năm 1920 - 1960, và trào lưu hiện tượng học cùng tiếp nhận văn học của R.Naumann, Schlented, Kopecsi, Khơrápchencô, Bôrit Mâylăc, Nguyễn Lai, Nguyễn Thanh Hùng, Trần Đình Sử, Huỳnh Vân, Hoàng Phong Tuấn… Cùng đó là thi pháp học của Bakhtin, Umbéctô Êcô, Đỗ Đức Hiểu, Trần Đình Sử, Phương Lựu… Nội dung lý thuyết đọc hiểu được nghiên cứu khá toàn diện trong những năm gần đây. Một số tác giả nước ngoài và Việt Nam đi sâu vào bản chất đọc hiểu và hành động đọc hiểu như Witser, Ingarden, Anderson, Winch, Nguyễn Thanh Hùng.

Một số khác lại tìm hiểu quá trình đọc như hệ thống lĩnh hội, tiếp nhận bao gồm cả sự hồi ứng của người đọc như Phan Trọng Luận, Nguyễn Thanh Hùng, Harvey, Goudvis, Rosenblatt, Phạm Thị Thu Hương, Hoàng Thị Mai… Xét từ bản chất đọc hiểu là quá trình nhận thức tích cực sáng tạo của người đọc, một số tác giả đã cố gắng làm rõ các giai đoạn và cấp độ nhận thức gắn liền với các dạng tư duy trong đọc hiểu văn bản như Bloom, Langer, Ruddell, Chapman, Meister, Nguyễn Thị Hồng Nam. Đối với họ, lý thuyết nhận thức và lý thuyết biểu hiện được vận dụng thường xuyên để người đọc chủ động giải mã thông điệp nghệ thuật và kiến tạo ý nghĩa cho văn bản. 14 Xuất phát từ lý thuyết diễn ngôn và dụng học văn học các tác giả Winch, Anderson, nhóm nghiên cứu đọc [167], hay Rosenblatt, Goudvis, Birch, Diệp Quang Ban… đều chỉ ra các nhân tố quan trọng chi phối trực tiếp kết quả đọc hiểu văn bản. Những nhân tố đó là văn cảnh, ngữ cảnh, bối cảnh tri thức, bối cảnh văn hóa, xã hội, chính trị luôn là một áp lực đối với người đọc, văn bản và tác giả.

Khuynh hướng chung của dụng học văn học là không chỉ dựa vào ngữ nghĩa để tìm nghĩa của văn bản đọc mà chủ yếu dựa vào hành động suy luận diễn giải, một cách đọc hiểu xem xét ngôn ngữ và việc sử dụng ngôn ngữ tác phẩm để làm gì chứ không phải biết ngôn ngữ là cái gì. Họ không chỉ phân tích diễn ngôn tác phẩm có ý nghĩa gì mà tìm hiểu tác phẩm có ý nghĩa như thế nào đối với người đọc và xã hội. Những tác giả này cho rằng không có một thứ ý nghĩa biệt lập nào lại tồn tại trong văn bản mà là sự tiềm ẩn của nhiều nghĩa mang đặc quyền được ưu tiên và được thừa nhận từ trước, chi phối ý nghĩa tác phẩm. Nhìn nhận về lợi ích của việc cụ thể hóa quá trình đọc hiểu văn bản và xét trên quan điểm phương pháp luận sư phạm nhiều tác giả đã chú ý làm sinh động hóa phương pháp dạy học đọc hiểu một cách đồng bộ.

Trong đó tạo nên sự kết nối hợp lý để hướng dẫn học sinh tự lực đọc hiểu bằng những ma trận, bản đồ tư duy, kỹ năng đọc, chiến thuật đọc, mô hình đọc hiểu, cấp độ đọc hiểu cho HS phổ thông. Đáng kể là sự đề xuất ba cấp độ đọc của Trần Đình Sử, mô hình đọc hiểu tác phẩm văn chương theo thể loại và kỹ năng đọc hiểu của Nguyễn Thanh Hùng. Ngoài ra còn có chiến thuật đọc hiểu của Phạm Thị Thu Hương và các cấp độc đọc hiểu của Hoàng Hòa Bình và Nguyễn Thị Hồng Nam. Tóm lại, lý thuyết đọc hiểu tác phẩm văn chương và cách vận dụng chúng trong nhà trường không chỉ giới hạn trong hành động đọc, cấp độ đọc, chiến thuật đọc để hiểu ý nghĩa cũng như giá trị của văn bản đọc mà còn giúp học sinh mở rộng kiến thức về đặc điểm của tác phẩm văn chương, về tính mở để tự hoàn thành cùng hiệu quả biết cách đọc của công chúng.

Sự tác động qua lại giữa kí hiệu nghệ thuật và hành động đọc hiểu tạo ra hiệu quả đó. Từ tác phẩm tưởng như đơn nghĩa đối với cấu trúc bền vững, bạn đọc - học sinh sẽ chinh phục nó với rất nhiều tiếp điểm được lý giải và quy chiếu ý nghĩa phù hợp thỏa đáng mà không làm mất đi giá trị ổn định của tác phẩm và giá trị mở ra ở người đọc. Có thể tạm thời tìm nơi cư ngụ nghĩa tác phẩm trên mặt bằng hiển hiện của ngôn từ tác phẩm. Ý nghĩa là sự giao thoa giữa điều muốn bày tỏ của nhà văn với hiệu quả thẩm mỹ của văn bản nghệ thuật cũng có thể hiểu là ý nghĩa toát ra từ cơ cấu hình tượng tác phẩm.

Nghĩa lý của tác phẩm là nguồn cội dẫn đến những hồ nghi để phủ định sai lầm trong nhận thức giản đơn, ngây thơ về cuộc sống. Cuối cùng là nghĩa tình với hiệu ứng thấu cảm của tâm hồn có nguồn gốc sâu xa trong thanh lọc qua sự bùng nổ cảm xúc trái chiều để tạo ra sự hài lòng với niềm vui mới ở người đọc. Nghiên cứu về tự sự học Nghiên cứu về tự sự học và dạy học đọc hiểu văn tự sự ở đây cần thấy mối liên hệ không hoàn toàn giống nhau giữa truyện kể và tác phẩm văn xuôi tự sự hiện đại được phát triển trên cơ sở truyện kể truyền thống. Ở nước ngoài Các nhà nghiên cứu thường nhắc đến những đóng góp lý thuyết quan trọng của V.

Propp về truyện cổ tích thần kỳ. Propp nghiên cứu “hình thái học của truyện cổ tích” và đưa ra khái niệm “phân tích một truyện cổ tích” và cách đọc hiểu truyện cổ tích thần kỳ theo hình thái học. Vấn đề trung tâm của truyện kể truyền thống hay tác phẩm văn xuôi tự sự sau này được nhấn mạnh vào hình tượng nhân vật. Propp đã chỉ ra đặc trưng của nhân vật trong truyện cổ tích là nhân vật chức năng được giao phó để thực hiện chức năng đó bằng hành động.

Nói chung khi nhận biết chức năng hãy bỏ qua một bên nhân vật hành động nào mà dựa vào ý nghĩa của bản thân hành động. Trong tiến trình hành động, bản thân hành động này được xem xét để xác định và đánh giá ý nghĩa của nó đối với nhân vật chính và đối với tiến trình hành động. Thành tựu lớn lao của V. Propp đã hé mở ra những nội dung lý thuyết và cách vận dụng chúng trong việc đọc hiểu truyện kể.

Trước hết là đọc ra từng yếu tố hợp thành kết cấu truyện để xác định ý nghĩa của nó, rồi phải đọc tiếp từ nghĩa kết cấu đơn giản đến cấu trúc hình thức nghệ thuật mà hiểu ý nghĩa. Hiểu nghĩa chỉ cần trả lời câu hỏi là gì? Với sự phân giải. Còn đọc hiểu ý nghĩa phải bắt đầu trả lời câu hỏi vì sao tác giả lại vận dụng những tình tiết, biến cố như thế trong kết cấu hình thức tự sự để người đọc suy luận ra ý nghĩa. Ở Đức, hai anh em Grimm với những truyện cổ tích được sưu tập đã minh chứng cho lý thuyết truyện kể và gián tiếp góp phần hiểu lý thuyết truyện kể.

Gần gũi với lý thuyết tự sự học hiện đại phải kể đến công trình “Thi pháp văn xuôi” của Todorov [148]. Đóng góp quan trọng của tác giả là tìm hiểu những biến đổi, chuyển dạng của kể chuyện tập trung vào sự sáng tạo hình thức tự sự một cách nghệ thuật và vạch ra con đường đọc truyện kể từ thế giới tưởng tượng của tác giả trong tác phẩm văn xuôi tự sự đến thế giới tưởng tượng của người đọc để đồng sáng tạo ra một truyện kể theo điểm nhìn và năng lực hư cấu của người đọc. Tiếp đến là công trình “Chính mình như một người khác” của P. Ricoeur [124] đã đi sâu nghiên cứu tính cách nhân vật dựa vào tính ổn định về các trạng thái tinh thần bộc lộ liên tục có thể đo đếm và cảm nhận được sự phong phú của tính cách để phân biệt nhân vật chính và nhân vật phụ.

Ricoeur cũng khẳng định “bản sắc nhân vật là cấu tố quan trọng nhất trong tác phẩm tự sự. Những mưu toan làm biến mất nhân vật thì cũng có nghĩa là làm mất đi đặc sắc của truyện kể”. Ricoeur ủng hộ nghệ thuật ngôn ngữ miêu tả xen vào lời kể để tạo ra “sự lạ hóa” trong lời kể như Sklovsky (Nga) và A. Robbe (Pháp) đã khởi xướng.

Sự bất ngờ là L. Vygotxky [164], một nhà tâm lý học kiệt xuất đã đóng góp cho tự sự học những phát hiện mới như đọc tác phẩm truyện kể để thanh lọc tâm hồn. Sự thanh tâm ấy có được do những xúc cảm đối nghịch trong khi đọc truyện kể, vượt qua cảm xúc bình thường của người đọc đã tiếp nhận những cảm xúc thẩm mỹ do hình thức nghệ thuật truyện kể tác động để người đọc đạt tới bản chất tốt đẹp của con người. Vygotxky khẳng định vai trò nhận thức và sức sáng tạo trong văn học nghệ thuật với 16 hai quan điểm lý luận: “nghệ thuật như một sự nhận thức” và “nghệ thuật như một thủ pháp”.

Vygotxky là nhà tâm lý học nghệ thuật tài năng bên cạnh một nhà tâm lý học phát triển danh tiếng vì ông chính là một người đọc chuyên nghiệp về văn học kinh điển, đọc Lép Tônxtôi, Crưcốp, Bunhin, Seechpia, Létxing… với một khả năng am hiểu tinh tường. Trên thế giới, người ta đã nghiên cứu sâu đặc trưng thể loại tự sự có liên quan đến đọc hiểu để sau này A.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Dạy Học Đọc Hiểu Văn Bản Tự Sự Ở Trung Học Phổ Thông Theo Quan Điểm Kiến Tạo" trình bày những phương pháp và chiến lược dạy học hiệu quả nhằm nâng cao khả năng đọc hiểu văn bản tự sự cho học sinh trung học phổ thông. Tài liệu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc áp dụng quan điểm kiến tạo trong giảng dạy, giúp học sinh không chỉ tiếp thu kiến thức mà còn phát triển tư duy phản biện và khả năng tự học.

Độc giả sẽ tìm thấy nhiều lợi ích từ tài liệu này, bao gồm cách thức tổ chức lớp học, phương pháp đánh giá và các hoạt động học tập tương tác, từ đó tạo ra môi trường học tập tích cực và sáng tạo. Để mở rộng thêm kiến thức, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn quản lý ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học ở các trường trung học cơ sở huyện hoằng hoá tỉnh thanh hoá theo hướng chuyển đổi số, nơi cung cấp cái nhìn sâu sắc về việc ứng dụng công nghệ trong giáo dục.

Ngoài ra, tài liệu Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục ảnh hưởng của phương pháp dạy học theo vấn đề đến kiến thức khái niệm của học sinh về chủ đề phân tích cũng sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về ảnh hưởng của các phương pháp dạy học đến sự phát triển kiến thức của học sinh. Cuối cùng, tài liệu Sáng kiến vận dụng phương pháp dạy học dự án khi dạy phần giáo dục kinh tế môn giáo dục kinh tế và pháp luật 10 nhằm phát huy năng lực sáng tạo của học sinh ở trường thpt nam đàn 2 sẽ cung cấp thêm những ý tưởng sáng tạo trong việc dạy học, giúp bạn phát triển kỹ năng giảng dạy của mình.

Những tài liệu này không chỉ mở rộng kiến thức mà còn cung cấp những góc nhìn đa dạng về phương pháp dạy học hiện đại, giúp bạn nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập.