Luận án tiến sĩ dạy học đại số ở trường trung học phổ thông theo hướng phát triển năng lực giao tiếp toán học cho học sinh

Luận án tiến sĩ nghiên cứu dạy học đại số ở trường trung học phổ thông theo hướng phát triển năng lực giao tiếp toán học cho, phát triển phương pháp mới, đánh giá hiệu quả ứng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2023

221
3
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Dạy học đại số

Dạy học đại số là một phần quan trọng trong chương trình toán học trung học phổ thông. Nó không chỉ giúp học sinh nắm vững kiến thức toán học mà còn phát triển các kỹ năng tư duy logic và giải quyết vấn đề. Trong bối cảnh giáo dục hiện đại, việc dạy học đại số cần hướng tới phát triển năng lực giao tiếp toán học, giúp học sinh tự tin hơn trong việc sử dụng ngôn ngữ toán học để diễn đạt ý tưởng và giải thích các khái niệm.

1.1 Phương pháp dạy học

Phương pháp dạy học đóng vai trò then chốt trong việc phát triển năng lực giao tiếp toán học. Các phương pháp như học tập hợp tác, thảo luận nhóm và giải quyết vấn đề được khuyến khích áp dụng. Những phương pháp này không chỉ giúp học sinh hiểu sâu hơn về kiến thức mà còn rèn luyện kỹ năng giao tiếp, tương tác và phản biện.

1.2 Kỹ năng giao tiếp

Kỹ năng giao tiếp trong toán học bao gồm khả năng sử dụng ngôn ngữ toán học để trình bày, giải thích và đánh giá các ý tưởng. Việc rèn luyện kỹ năng này giúp học sinh tự tin hơn trong việc thảo luận và chia sẻ ý kiến, đồng thời phát triển khả năng tư duy phản biện và sáng tạo.

II. Phát triển năng lực

Phát triển năng lực là mục tiêu cốt lõi của giáo dục hiện đại, đặc biệt là trong lĩnh vực toán học. Năng lực giao tiếp toán học không chỉ giúp học sinh hiểu và vận dụng kiến thức mà còn giúp họ phát triển các kỹ năng xã hội cần thiết. Việc phát triển năng lực này cần được thực hiện thông qua các hoạt động học tập tích cực và sáng tạo.

2.1 Năng lực toán học

Năng lực toán học bao gồm khả năng tư duy logic, giải quyết vấn đề và sử dụng công cụ toán học. Việc phát triển năng lực này đòi hỏi sự kết hợp giữa kiến thức lý thuyết và thực hành, giúp học sinh không chỉ hiểu mà còn biết cách ứng dụng kiến thức vào thực tế.

2.2 Giao tiếp trong học tập

Giao tiếp trong học tập là yếu tố quan trọng giúp học sinh phát triển năng lực toán học. Thông qua các hoạt động thảo luận, trình bày và phản biện, học sinh có cơ hội rèn luyện kỹ năng giao tiếp và tư duy phản biện, từ đó nâng cao hiệu quả học tập.

III. Học sinh trung học

Học sinh trung học là đối tượng chính của nghiên cứu này. Ở độ tuổi này, học sinh đang trong giai đoạn phát triển mạnh mẽ về nhận thức và kỹ năng xã hội. Việc phát triển năng lực giao tiếp toán học không chỉ giúp các em học tốt môn toán mà còn chuẩn bị cho các em những kỹ năng cần thiết trong cuộc sống và công việc tương lai.

3.1 Học sinh cấp 2

Học sinh cấp 2 là nhóm đối tượng cần được quan tâm đặc biệt trong việc phát triển năng lực giao tiếp toán học. Ở giai đoạn này, các em cần được hướng dẫn và rèn luyện các kỹ năng cơ bản như sử dụng ngôn ngữ toán học, trình bày ý tưởng và thảo luận nhóm.

3.2 Giáo dục trung học

Giáo dục trung học cần tập trung vào việc phát triển toàn diện năng lực của học sinh, bao gồm cả năng lực toán học và kỹ năng giao tiếp. Các phương pháp giáo dục hiện đại cần được áp dụng để tạo môi trường học tập tích cực và sáng tạo cho học sinh.

IV. Toán học phổ thông

Toán học phổ thông là nền tảng quan trọng giúp học sinh phát triển tư duy logic và kỹ năng giải quyết vấn đề. Trong chương trình giáo dục phổ thông, toán học không chỉ là môn học bắt buộc mà còn là công cụ giúp học sinh phát triển các kỹ năng cần thiết cho cuộc sống và công việc tương lai.

4.1 Toán học trung học

Toán học trung học bao gồm các nội dung đại số, hình học và giải tích. Việc học toán ở cấp trung học không chỉ giúp học sinh nắm vững kiến thức mà còn rèn luyện kỹ năng tư duy và giải quyết vấn đề, từ đó phát triển năng lực toán học toàn diện.

4.2 Giáo dục toán học

Giáo dục toán học cần hướng tới việc phát triển năng lực giao tiếp toán học cho học sinh. Các phương pháp giáo dục hiện đại cần được áp dụng để tạo môi trường học tập tích cực và sáng tạo, giúp học sinh không chỉ hiểu mà còn biết cách ứng dụng kiến thức vào thực tế.

01/03/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 1. Trên thế giới Thật khó để xác định mốc thời gian cụ thể để lấy làm căn cứ hệ thống lại các lí luận, kết quả đạt được của các nhà nghiên cứu, nhà GD về NL GTTH cũng như việc phát triển NL GTTH cho đối tượng HS từ tiểu học đến trung học cơ sở rồi THPT.

Tuy nhiên, bắt đầu từ năm 1989, giai đoạn DH để phát triển NL này được quan tâm trên bình diện rộng. Điều này được thể hiện qua các kết quả nghiên cứu về NL GTTH được Hội đồng Giáo viên Toán học Quốc gia (NCTM) của Mỹ công bố vào năm 1989 [77]. Cho đến hiện tại đã có nhiều nhà nghiên cứu nghiên cứu về NL GTTH vào khoảng trên dưới ba thập kỉ. Các công trình này nghiên cứu về NL GTTH trên phương diện lí luận, vai trò của nó trong quá trình học toán của HS; mối quan hệ của nó với những NL toán học khác; cũng như một vài nghiên cứu ban đầu về mô hình GTTH.

Nổi bật đó là công trình của các nhà GD ở Mỹ, Indonesia, Malaysia… NL GTTH được phân chia thành các chỉ báo bên cạnh các biểu hiện của các chỉ báo đó (xem NCTM, 1989, 2000, 2003; Greenes và Schulman, 1996; Kennedy &Tip, 1994; Qohar, 2003). NCTM (1989), NCTM (2000), NCTM (2003) mô tả NL GTTH thông qua một bộ gồm 4 chỉ báo. Trong khi, Kennedy & Tipps (1994) đề xuất NL GTTH của HS gồm 3 chỉ báo; Abd. Qohar and Summaro.

Utari (2013) mô tả NL GTTH của HS gồm 6 chỉ báo. Bên cạnh việc mô tả NL GTTH thông qua các bộ chỉ báo, một số nhà nghiên cứu lại chỉ tiếp cận khái niệm GTTH. TIPS4RM (2005) cho rằng “GTTH là quá trình thể hiện ý tưởng và hiểu biết toán học bằng cách sử dụng các con số, hình ảnh và từ ngữ, trong nhiều đối tượng bao gồm giáo viên, đồng nghiệp, nhóm hoặc lớp học”. Hay như Bộ GD Ontario (2005) mô tả, “GTTH là quá trình bộc lộ các ý tưởng, giải pháp và hiểu biết toán học bằng lời, trực quan, bằng văn bản, sử dụng số, kí hiệu, hình ảnh, đồ thị, sơ đồ và từ ngữ” [82, tr.

10 Song song với việc phân tích sâu về nội hàm, các tác giả trên cũng khẳng định GTTH là một quá trình thiết yếu để học toán (xem Polya, 1973; NTCM, 1989; NTCM, 2000; Wichelt, 2009; Lim & Chew, 2007; Pourdavood & Wachira, 2016; Samson, 2019). “Qua GTTH HS phản ánh, làm rõ, mở rộng ý tưởng và hiểu biết của mình về các mối quan hệ toán học và lập luận toán học; ngược lại bản thân toán học lại là một ngôn ngữ, công cụ giao tiếp chính xác và rõ ràng” [91]. Theo Ezrailson và các cộng sự (2006), 20% là tỉ lệ tri thức đọng lại khi HS tham gia nghe, 30% là con số ứng với những gì HS thấy và đạt tới 50% nếu HS vừa thấy và nghe. Tuy nhiên, khi HĐ học tập của HS được GV tổ chức tập trung vào GT và tương tác, HS sẽ lưu lại tận 90% những nội dung mà HS đề cập đến khi thảo luận hay tranh luận.

Rõ ràng, nhận định trên cho thấy “GT là một yếu tố quan trọng trong nâng cao chất lượng học tập của HS” [52]. Trên cơ sở các mô tả chung về NL GTTH, qua quá trình nghiên cứu các nhà khoa học đã đánh giá NL GTTH của HS khi HS học những nội dung cụ thể như giải quyết bài toán đại số, GQVĐ khi học hình học của những đối tượng HS cụ thể. Các kết quả chính được tìm thấy trong ([66], [89], [92], [96]): GTTH có đóng góp quan trọng trong quá trình học tập toán của HS, giúp HS cải thiện kết quả học tập, hiểu khái niệm hơn và giảm lo lắng trong quá trình học toán. NL GTTH cũng được khẳng định có liên quan mật thiết đến NL GQVĐ của HS.

Các tác giả viện giải: khi HS có KN GTTH tốt, HS hiểu các khái niệm được truyền đạt bằng cả lời nói và viết. Những KN này hỗ trợ HS, giúp HS có thể GQVĐ (Paridjo, 2017; Masfingatin và các cộng sự, 2019). Như vậy HS có KN GTTH tốt thì sẽ có KN GQVĐ tốt, tuy nhiên ở chiều ngược lại, KN GQVĐ hỗ trợ như thế nào tới KN GTTH thì chưa được các tác giả đề cập tới. Một số nghiên cứu về vai trò của GTTH cũng có thể tìm thấy trong các công trình của Roland G.

Pourdavood & Patrick Wachira (2016) hay Laney Samson (2019). Kết quả của các nhà nghiên cứu trên, dù tổng quát hay cụ thể, đều cho thấy mối quan hệ giữa GTTH và quá trình học 11 toán cũng như mối quan hệ giữa KN GTTH với một số KN khác, từ đó khẳng định KN GTTH tốt là cần thiết đối với mỗi HS nếu muốn học tốt môn toán. Những kết quả nghiên cứu trên là cơ sở và cũng là động lực để việc nghiên cứu về nội hàm NL GTTH chuyển sang nghiên cứu các giải pháp để phát triển KN GTTH cũng như đề xuất mô hình DH GTTH trên một số tình huống và đối tượng HS cụ thể. Học tập dựa trên vấn đề, học tập theo ngữ cảnh, học tập dựa trên các HĐ nghiên cứu được coi là những mô hình học tập giúp cải thiện KN GTTH cho HS.

Riyati và Suparman (2019) khẳng định học tập dựa trên vấn đề là một mô hình học tập có thể cải thiện KN GTTH [97]. Tương tự, Nartani, Hidayat, Sumiyati (2015) đã nghiên cứu về GT theo ngữ cảnh tại trường tiểu học và khẳng định học theo ngữ cảnh có thể cải thiện đáng kể KN GTTH cho HS theo một số chỉ báo được đề xuất tại bài báo [76]. Nhóm tác giả Kembara, Rozak và Hadian (2018) đã quan tâm tới HĐ nghiên cứu của HS và coi đây như là một HĐ học tập giúp cải thiện KN 4C của HS (Communication, Collaboration, Critical Thinking and Creativity) tức là các KN (GT, hợp tác, tư duy phản biện và sáng tạo) [63]. Công trình cho ta góc nhìn cụ thể hơn về cách phát triển NL GTTH là bài báo “Communication: A Vital Skill of Mathematics” viết bởi Wichelt (2009).

Trong bài báo này, tác giả đã trực tiếp nghiên cứu quá trình giảng dạy của mình qua việc đặt HS trước những câu hỏi mở và hướng dẫn HS tham gia vào các cuộc thảo luận toán học, tập trung vào việc sử dụng từ vựng toán học một cách chính xác, tức là tạo môi trường để HS luyện tập KN GTTH. Tác giả khẳng định việc này làm cho kết quả học tập của HS được tốt hơn cũng như GV cần tham gia tích cực vào các HĐ tương tác trong lớp học, yêu cầu HS bảo vệ câu trả lời của mình bằng các lí lẽ và khích lệ các HS khác tham gia vào quá trình thảo luận đó. Vai trò của thảo luận một lần nữa cũng được đề cập trong kết quả nghiên cứu của Pourdavood và Wachira (2016). Với việc khẳng định mô hình học tập phát triển KN GTTH của HS là mô hình học tập trong đó HS tích cực tham 12 gia HĐ khám phá, tương tác, hợp tác và xây dựng để đạt được kiến thức mới, Qohar (2011) đã cho ta cách nhìn tổng quan về cách thức DH để phát triển KN GTTH cho HS.

Và mặc dù NL GTTH được mô tả bằng khái niệm hay thông qua các bộ chỉ báo nhưng các nhà khoa học GD đã cố gắng để mô tả chi tiết các biểu hiện NL GTTH của HS trong những tình huống cụ thể: trình bày chứng minh bằng văn bản; giải quyết các bài toán đại số hay các bài toán hình học bằng phương pháp GQVĐ ([70], [88], [92]). Chẳng hạn, Pantaleon và các cộng sự (2018) đã đề xuất các HĐ GTTH trong chứng minh là: (1) giải thích những gì đã hiểu, (2) mô tả phương pháp được sử dụng, (3) trình bày ý tưởng dưới dạng hình vẽ và kí hiệu, (4) giải thích nội dung/ ý nghĩa của một biểu diễn và (5) truyền đạt lập luận. Đồng thời, các tác giả cũng khẳng định biểu hiện NL GTTH trong chứng minh hình học và chứng minh đại số có sự khác nhau [88]. Một cách tiếp cận để nghiên cứu về GTTH dựa trên sự chủ động của HS khi tham gia vào các HĐ chia sẻ thông tin, học tập, thảo luận.

Theo Brendefur và Frykholm (2000), có 4 hình thức thực hành GT trong lớp học: một chiều, đóng góp, phản ánh và hướng dẫn, theo cấp bậc từ thấp lên cao [43]. Trong đó GT một chiều là hình thức GT tồn tại trong các lớp học lâu nay mà ta hay gọi là hình thức DH lấy GV làm trung tâm. Trong môi trường như thế, GV thường chiếm ưu thế trong các cuộc thảo luận, tự mình thuyết trình, đặt các câu hỏi đóng và tạo được ít cơ hội cho HS có thể truyền đạt ý tưởng, chiến lược và tư duy của họ. Đó là GT một chiều phổ biến và nó không còn phù hợp cho các lớp học hiện nay.

GT đóng góp tập trung vào sự tương tác giữa các HS với nhau và giữa GV và HS trong đó cuộc trò chuyện được giới hạn ở hỗ trợ hoặc chia sẻ, thường ít hoặc không có suy nghĩ sâu sắc. Hai hình thức GT tiếp theo là GT phản xạ và hướng dẫn. Trong đó, GT phản xạ tương tự như GT đóng góp, tuy nhiên thay vì nó chỉ tập trung vào việc chia sẻ chiến lược, ý tưởng và giải pháp giữa HS với bạn bè và GV thì GV và HS 13 sử dụng các cuộc trò chuyện đó như là bàn đạp để khám phá sâu hơn về toán học sau đó kết quả của các cuộc trò chuyện này được HS phản ánh lại như một kết quả của sự khám phá của họ. Hình thức này thường xuất hiện khi HS cố gắng biện minh hoặc bác bỏ phỏng đoán do các HS khác đưa ra hoặc ngay cả do GV đưa ra.

Hình thức GT cuối cùng là hình thức GT hướng dẫn, liên quan nhiều hơn đến tương tác giữa HS và GV với tiền đề ban đầu là GT phản ảnh, sau khi tư duy của HS được bộc lộ, GV bắt đầu có thông tin về quá trình tìm hiểu khám phá và hạn chế của HS và đưa ra các hướng dẫn. Các cuộc đối thoại này được lặp đi lặp lại, những cuộc trao đổi đóng vai trò là công cụ GT và như một phương tiện để GV hỗ trợ và duy trì HĐ toán học của HS. Kết quả phân loại này rất có giá trị khi các nhà nghiên cứu GD muốn tác động vào quá trình GT ở trong lớp học thông qua việc hướng dẫn GV cách đặt câu hỏi, ra nhiệm vụ trong từng trường hợp GT cụ thể và đánh giá kết quả thu được.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Dạy học đại số phát triển năng lực giao tiếp toán học cho học sinh trung học" tập trung vào việc nâng cao khả năng giao tiếp toán học của học sinh thông qua phương pháp dạy học đại số. Tài liệu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phát triển kỹ năng giao tiếp trong toán học, giúp học sinh không chỉ hiểu sâu về các khái niệm mà còn có khả năng diễn đạt và trao đổi ý tưởng một cách hiệu quả. Điều này không chỉ hỗ trợ trong việc học toán mà còn phát triển kỹ năng mềm cần thiết cho tương lai.

Để mở rộng thêm kiến thức về các phương pháp dạy học và phát triển năng lực học sinh, bạn có thể tham khảo tài liệu Ứng dụng sơ đồ tư duy trong dạy học chủ đề tam giác bằng nhau theo hướng phát triển năng lực giao tiếp toán học cho học sinh lớp 7, nơi trình bày cách sử dụng sơ đồ tư duy để cải thiện khả năng giao tiếp toán học. Ngoài ra, tài liệu Dạy học chủ đề hàm số ở trung học cơ sở theo hướng phát triển năng lực giải quyết vấn đề thực tiễn sẽ cung cấp thêm góc nhìn về việc giải quyết vấn đề trong toán học. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về Luận văn dạy học giải quyết vấn đề chủ đề phương trình bậc hai và một số bài toán liên quan, giúp bạn nắm bắt cách tiếp cận giải quyết vấn đề trong toán học một cách hiệu quả hơn. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng hiểu biết và áp dụng vào thực tiễn dạy học.