CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Một số đặc điểm của chương trình tổng thể 2018, chương trình sách giáo khoa hiện hành Hiện nay nhiều nước trên thế giới đã xây dựng chương trình toán học THCS theo định hướng: gắn toán học với nhu cầu cuộc sống, tích hợp các phân môn trong bộ môn toán, giảm nhẹ lý thuyết, coi trọng thực hành, trình bày hiện đại và làm rõ nét về phương pháp dạy học, lấy HS làm trung tâm cho tổ chức các hoạt động để từ đó phát triển năng lực HS. Ngày 05/5/2006, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành quyết định số 16/2006/QĐ-BGDĐT về CTGDPT hiện hành, bao gồm nội dung toàn bộ chương trình dạy và học ở bậc phổ thông, chương trình và chuẩn kiến thức, kỹ năng cho 23 môn học. Cũng cần nhắc lại là mục tiêu của môn Toán ở bậc THCS cần đạt được đối với kiến thức, kĩ năng, tư duy và thái độ là: không chỉ cung cấp cho các em kiến thức, phương pháp học toán phổ thông cơ bản và thiết thực; kiến tạo và rèn luyện các kỹ năng toán học (tính toán, sử dụng bảng số, máy tính bỏ túi (calculator), tiến hành các phép biến đổi đối với các biểu thức toán học, giải phương trình và bất phương trình, vẽ hình, xác định khoảng cách…), hình thành khả năng vận dụng kiến thức toán học vào đời sống và các môn học khác; rèn luyện các khả năng suy luận logic, quan sát, dự đoán, tưởng tượng không gian, khả năng sử dụng ngôn ngữ và các phẩm chất tư duy (linh hoạt, độc lập, sáng tạo); hình thành thói quen tự học, diễn đạt chính xác, sáng tạo ý tưởng… [4] Từ mục tiêu trên, Bộ Giáo dục và đào tạo cũng quy định những năng lực cần đạt ở môn toán THCS phù hợp với sự phát triển năng lực, trí tuệ của HS ở 6 mức độ từ đơn giản đến phức tạp: nhận biết, thông hiểu, vận dụng, phân tích, đánh giá và sáng tạo.
6 a) Tư tưởng của CTGDPT 2018 Về mục tiêu giáo dục: tiếp tục được xây dựng trên quan điểm coi mục tiêu giáo dục phổ thông là giáo dục con người toàn diện, giúp học sinh phát triển hài hòa về đức, trí, thể, mĩ. [3] Về phương châm giáo dục: kế thừa các nguyên lí giáo dục nền tảng như kiến thức được học phải gắn với thực tiễn, ứng dụng được trong thực tiễn; giáo dục toàn diện từ nhiều phía. [3] Về nội dung giáo dục: Kiến thức cốt lõi của các môn học trong CTGDPT 2018 chủ yếu là những kiến thức nền tảng, cơ bản, kế thừa từ CTGDPT 2006 nhưng được tổ chức, sắp xếp lại để định hướng cho học sinh phát triển phẩm chất và năng lực cá nhân một cách hiệu quả. Bên cạnh đó một số kiến thức mới được đưa thêm để cập nhật với thời đại mới – thời đại của khoa học – công nghệ.
[3] Về phương pháp giáo dục: CTGDPT mới đi theo định hướng nhằm phát huy tính tích cực, tự giác, sáng tạo của học sinh. [3] - GV cần phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, chú ý nhu cầu, năng lực nhận thức, cách thức học tập khác nhau của từng cá nhân học sinh. Cần tổ chức quá trình dạy học theo hướng kiến tạo, trong đó học sinh được tham gia tìm tòi, phát hiện, suy luận giải quyết vấn đề. Cần hướng dẫn học sinh đi từ cụ thể đến trừu tượng, từ dễ đến khó.
Không chỉ coi trọng tính logic của khoa học Toán học như một khoa học suy diễn, mà cần chú ý cách tiếp cận dựa trên vốn kinh nghiệm và sự trải nghiệm của học sinh. - GV cần linh hoạt trong việc vận dụng các phương pháp, kỹ thuật dạy học tích cực. Tuỳ theo mục tiêu, nội dung, đối tượng và điều kiện cụ thể mà có những hình thức tổ chức dạy học thích hợp như học cá nhân, học nhóm; học trong lớp, học ngoài lớp, tránh rập khuôn, máy móc. Kết hợp các hoạt động dạy học trong lớp học với hoạt động thực hành trải nghiệm, vận dụng kiến thức toán học vào thực tiễn.
Cần vận dụng kết hợp một cách đa dạng nhiều 7 hình thức (đánh giá quá trình, đánh giá tổng kết), nhiều phương pháp đánh giá (quan sát, ghi lại quá trình thực hiện, vấn đáp, trắc nghiệm khách quan, tự luận, thực hành, các dự án/sản phẩm học tập, thực hiện nhiệm vụ thực tiễn, tự đánh giá, đánh giá đồng đẳng,.) và vào những thời điểm thích hợp. - Việc đánh giá năng lực người học thông qua các bằng chứng biểu hiện kết quả đạt được trong quá trình thực hiện các hành động của người học. Điều quan trọng là giáo viên cần thiết kế, tổ chức các tình huống có vấn đề, để thông qua việc xử lý, giải quyết các tình huống có vấn đề đó mà người học bộc lộ, thể hiện năng lực của mình. Ngoài ra, cần lưu ý lựa chọn các phương pháp, công cụ đánh giá phù hợp.
Ví dụ, để đánh giá năng lực tư duy và lập luận toán học: Có thể sử dụng một số phương pháp, công cụ đánh giá như các câu hỏi (nói, viết), bài tập,. mà đòi hỏi người học phải trình bày, so sánh, phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá kiến thức; phải vận dụng kiến thức toán học để giải thích, lập luận. Khi giáo viên lên kế hoạch bài học cần thiết lập các tiêu chí đánh giá để đảm bảo ở cuối mỗi bài học, học sinh đã đạt được các yêu cầu cơ bản dựa trên các tiêu chí đã nêu, trước khi thực hiện các hoạt động học tập tiếp theo. Những năm gần đây, các phương pháp giáo dục mới như mô hình trường học hạnh phúc, lớp học đảo ngược, giáo dục STEM được hiện thực hóa trong các nhà trường và đem lại những kết quả nhất định.
Đa phần GV các cấp học phổ thông đã tiếp thu, hơn nữa đã vận dụng khá thành thạo các phương pháp giáo dục mới, tạo nên nhiều giờ học thú vị và cuốn hút HS. b) Những điểm mới của CTGDPT 2018 so với CTGDPT 2006 Để thực hiện mục tiêu đổi mới, CTGDPT 2018 vừa kế thừa và phát triển những ưu điểm của CTGDPT 2006, vừa khắc phục những hạn chế, bất cập của chương trình này. Những điểm cần khắc phục cũng chính là những khác biệt chủ yếu của CTGDPT 2018 so với CTGDPT 2006. Cụ thể: CTGDPT 2006 được xây dựng theo định hướng nội dung, nặng về truyền thụ 8 kiến thức, chưa chú trọng giúp học sinh vận dụng kiến thức học được vào thực tiễn.
Theo mô hình này, kiến thức vừa là “chất liệu”, “đầu vào” vừa là “kết quả”, “đầu ra” của quá trình giáo dục. Vì vậy, học sinh phải học và ghi nhớ rất nhiều nhưng khả năng vận dụng vào đời sống rất hạn chế. CTGDPT 2018 được xây dựng theo mô hình phát triển năng lực, thông qua những kiến thức cơ bản, thiết thực, hiện đại và các phương pháp tích cực hóa hoạt động của người học, giúp học sinh hình thành và phát triển những phẩm chất và năng lực mà nhà trường và xã hội kì vọng. Có thể nói rằng giáo dục không hiểu theo nghĩa chỉ để truyền thụ kiến thức mà phải hiểu theo hướng giáo dục sẽ giúp học sinh giải quyết được các vấn đề trong học tập và đời sống nhờ vận dụng hiệu quả và hợp lí những kiến thức đã học.
Quan điểm này được thể hiện một cách thống nhất trong cả nội dung, phương pháp và đánh giá kết quả giáo dục của CTGDPT 2018. Một điểm mới cũng cần nhắc đến là chương trình mới vừa bảo đảm định hướng thống nhất và những nội dung cốt lõi, bắt buộc đối với học sinh toàn quốc lại vừa trao quyền chủ động lựa chọn, bổ sung và triển khai một số nội dung giáo dục phù hợp với đối tượng giáo dục, điều kiện của địa phương, nhà trường. Chương trình giáo dục phổ thông hiện hành thiếu tính mở nên hạn chế khả năng chủ động và sáng tạo của địa phương và nhà trường cũng như của tác giả SGK và giáo viên. c) Đối với chương trình 2018, mục tiêu chủ yếu của môn Toán ở bậc THCS yêu cầu như sau: - Góp phần hình thành và phát triển năng lực toán học của học sinh với các yêu cầu cần đạt: khi lập luận nêu và trả lời được câu hỏi, giải quyết vấn đề và trình bày lập luận hợp lí để giải quyết vấn đề, chứng minh được mệnh đề toán học cơ bản; xây dựng và ứng dụng mô hình toán học (lập được công thức toán học, phương trình đại số, biểu diễn biểu đồ, hình vẽ.) để mô tả nội dung của một số bài toán thực tiễn không quá phức tạp; ghi nhớ và sử dụng kí hiệu, 9 ngôn ngữ toán học cùng với ngôn ngữ đời thường để biểu đạt các nội dung toán học đồng thời thể hiện cách thức tư duy và các bước lập luận; thể hiện được ý tưởng cũng như kết hợp với việc sử dụng công cụ, phương tiện để thực hiện một nhiệm vụ học tập.
[4] - Nội dung môn Toán ở chương trình hiện hành tinh giản hơn nhiều so với chương trình 2006, đặt trọng tâm vào tính ứng dụng thiết thực, gắn kiến thức với các hoạt động, sự việc trong đời sống thực tế. Có thể nói đến những kiến thức và kĩ năng toán học cơ bản về 3 mạch kiến thức chính là Số và Đại số; Hình học và đo lường; Thống kê và Xác suất được xây dựng theo cấu trúc “đồng tâm xoáy ốc” (đồng tâm, mở rộng và nâng cao dần). Số và Đại số: Hệ thống số (HS được học từ tập hợp số tự nhiên đến tập hợp số thực); thực hiện tính toán và sử dụng công cụ tính toán như máy tính bỏ túi, ngôn ngữ Excel; ngôn ngữ và kí hiệu đại số; biến đổi biểu thức đại số, thành lập và giải phương trình, hệ phương trình, bất phương trình; phát triển năng lực mô hình hoá để có thể mô tả một số quá trình và hiện tượng trong thực tiễn thông qua các bài toán. Một mục tiêu quan trọng của việc học phân môn Số và Đại số là góp phần phát triển tư duy logic, khả năng suy luận và hình thành, khai thác khả năng sử dụng các thuật toán đơn giản của HS.
Hình học và Đo lường: Nội dung Hình học và Đo lường ở cấp học này bao gồm Hình học trực quan và Hình học phẳng. Hình học trực quan tiếp tục cung cấp ngôn ngữ, kí hiệu, mô tả (ở mức độ trực quan) những đối tượng của thực tiễn (hình phẳng, hình khối); tạo lập một số mô hình hình học thông dụng; tính toán một số yếu tố hình học; phát triển trí tưởng tượng không gian; giải quyết một số vấn đề thực tiễn đơn giản gắn với Hình học và Đo lường.