Tổng quan luận án
Luận án Đầu tư từ ngân sách nhà nước cho nông nghiệp tỉnh Thái Bình của nghiên cứu sinh Đặng Thị Hoài được bảo vệ năm 2018 tại Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội, chuyên ngành Kinh tế Chính trị (mã số 62.02), dưới sự hướng dẫn của PGS.TS. Phạm Thị Hồng Điệp.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Tác giả xuất phát từ thực tế Thái Bình là tỉnh "thuần nông" với các sản phẩm đặc trưng như lúa, ngao và một số hoa màu, song nông nghiệp địa phương vẫn bộc lộ nhiều hạn chế: trồng trọt chủ yếu độc canh cây lúa, quy mô nhỏ, chăn nuôi manh mún, nông sản tiêu thụ chủ yếu trong tỉnh và một số tỉnh lân cận, chưa được xuất khẩu sang các thị trường khó tính. Đầu tư từ ngân sách nhà nước (NSNN) cho nông nghiệp tỉnh còn nhiều hạn chế: kết cấu hạ tầng chưa đồng bộ, đầu tư cho khoa học – công nghệ (KHCN) chưa cao, nhân lực nông nghiệp trình độ thấp, hoạt động xúc tiến thương mại nông sản chưa được chú trọng thỏa đáng.
Về phía học thuật, tác giả xác định khoảng trống rõ ràng: các công trình nghiên cứu trước chỉ đề cập đến vốn NSNN với tư cách là một trong nhiều nguồn vốn đầu tư cho nông nghiệp, chứ không nghiên cứu riêng biệt nguồn vốn NSNN; chưa có đánh giá kết quả đầu tư từ NSNN theo bốn nội dung lĩnh vực (nhân lực, KHCN, kết cấu hạ tầng, xúc tiến thương mại) ở cấp tỉnh; và chưa có công trình nào nghiên cứu riêng về đầu tư từ NSNN cho nông nghiệp tỉnh Thái Bình.
Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu là phân tích tình hình và đánh giá kết quả đầu tư từ NSNN cho nông nghiệp tỉnh Thái Bình, từ đó đề xuất giải pháp đầu tư phù hợp hơn, khắc phục những hạn chế còn tồn tại.
Hai câu hỏi nghiên cứu được đặt ra:
- Tình hình và kết quả đầu tư NSNN cho nông nghiệp của tỉnh Thái Bình trong thời gian qua (2006–2017) như thế nào?
- Giải pháp nào để đầu tư NSNN đạt hiệu quả cao và thực hiện được mục tiêu phát triển nông nghiệp của tỉnh Thái Bình trong thời gian tới (đến năm 2020)?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng: Vấn đề lý luận về đầu tư từ NSNN cho nông nghiệp và thực tiễn đầu tư NSNN cho nông nghiệp tỉnh Thái Bình.
- Phạm vi nội dung: Bốn lĩnh vực đầu tư từ NSNN cho nông nghiệp gồm nhân lực phục vụ nông nghiệp, KHCN phục vụ nông nghiệp, kết cấu hạ tầng nông nghiệp, và xúc tiến thương mại nông sản. Không tính đến yếu tố nguồn của ngân sách (trung ương hay địa phương).
- Phạm vi không gian: Địa bàn tỉnh Thái Bình.
- Phạm vi thời gian: Chủ yếu từ năm 2006 đến năm 2015 (hai nhiệm kỳ kế hoạch 5 năm phát triển kinh tế – xã hội); có cập nhật số liệu bổ sung đến năm 2016 và một số chỉ tiêu đến năm 2017. Mốc 2006 được chọn vì đây là năm khởi đầu kế hoạch 5 năm theo Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X và là năm Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu trước
Tác giả phân loại tài liệu thành hai nhóm lớn.
Nhóm nghiên cứu về đầu tư từ NSNN đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế – xã hội:
Bird và Wallich (1993), Decentralization of the Socialist State. A Regional and Sectoral Study, The World Bank, khẳng định việc cung ứng dịch vụ công và sử dụng hợp lý nguồn tài chính từ ngân sách của các chính quyền địa phương sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế địa phương. David Alan Aschauer (1998), "How Big Should the Public Capital Stock Be?" và Aschauer (2000), "Do states optimize? Public capital and economic growth", Annals of Regional Science, 34, xác định mối quan hệ phi tuyến giữa đầu tư vốn công và tăng trưởng kinh tế tại 48 tiểu bang Hoa Kỳ, đồng thời kết luận đầu tư từ vốn công bổ sung cho đầu tư tư nhân và có tác động tích cực đến tăng trưởng. Nguyễn Khắc Minh (2008), Tăng trưởng chuyển đổi cơ cấu và chính sách kinh tế ở Việt Nam thời kỳ đổi mới, NXB Khoa học và Kỹ thuật, phân tích số liệu 34 tỉnh giai đoạn 2000–2005, chỉ ra tính phi hiệu quả trong chi tiêu công ở Việt Nam thời kỳ này. Hoàng Thị Chinh Thon (2010), "Tác động của chi tiêu công tới tăng trưởng kinh tế tại các địa phương ở Việt Nam", Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách, ĐHQG HN, phân biệt chi đầu tư phát triển (tác dụng dài hạn) với chi thường xuyên (tạo môi trường vĩ mô). Phó Thị Kim Chỉ và cộng sự (2013), "Hiệu quả đầu tư công: nhìn từ tác động của nó đến tăng trưởng kinh tế", Trung tâm Thông tin và Dự báo KT-XH Quốc gia, kết luận hiệu quả đầu tư công ở Việt Nam liên tục giảm sút và tác động đến GDP ngắn hạn nhiều hơn dài hạn. Trần Nguyễn Ngọc Anh Thư và cộng sự (2014), "Tác động của đầu tư công đối với tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam: Góc nhìn thực nghiệm từ mô hình ARDL", Tạp chí Phát triển và Hội nhập, số 19/2014, kiểm tra hiệu ứng giai đoạn 1988–2012 và kết luận đầu tư công không có ý nghĩa thống kê trong ngắn hạn nhưng thúc đẩy tăng trưởng trong dài hạn, và mức độ tác động kém hơn so với khu vực tư nhân trong nước và FDI. Mai Đình Lâm (2015), "Tác động của chi ngân sách đến tăng trưởng kinh tế của địa phương: Nghiên cứu trường hợp các tỉnh thành phía Nam", Tạp chí Phát triển & Hội nhập, số 24, dùng phương pháp Pooled OLS, Fixed Effects (FE) và Random Effects (RE) phân tích 19 tỉnh thành phía Nam.
Ngoài ra còn có các luận án: Bùi Mạnh Cường (2012), "Nâng cao hiệu quả đầu tư phát triển từ nguồn vốn NSNN ở Việt Nam"; Trịnh Quân Được (2001), "Giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư phát triển công nghiệp từ nguồn vốn NSNN", ĐHKTQD; Trần Văn Lâm (2009), "Hoàn thiện quản lý chi NSNN nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh", Học viện Tài chính; Tô Thiện Hiền (2012), "Nâng cao hiệu quả quản lý NSNN tỉnh An Giang giai đoạn 2011–2015 và tầm nhìn đến 2020"; Nguyễn Thị Thanh Nhàn (2012), "Quản lý đầu tư phát triển từ NSNN trên địa bàn thành phố Hải Phòng".
Nhóm nghiên cứu về đầu tư từ NSNN cho nông nghiệp:
Simon Williams (1965), Private Investment in World Agriculture, Harvard Business, khẳng định vai trò của NSNN trong giai đoạn đầu công nghiệp hóa nông nghiệp. Juro Teranishi và Yutaka Kosai (chủ biên, 1965), Kinh nghiệm cải cách kinh tế của Nhật Bản, NXB Khoa học Xã hội, trình bày kinh nghiệm Nhật Bản đầu tư NSNN vào nghiên cứu và phát triển nông nghiệp, cải tạo giao thông nông thôn sau Thế chiến thứ II. Shenggen Fan, Babatunde Omilola, Melissa Lambert (2009), "Public Spending for Agriculture in Africa: Trends and Composition", khảo sát các cam kết Maputo (2003) về tăng đầu tư NSNN cho nông nghiệp tối thiểu 10% tổng ngân sách quốc gia tại các nước Châu Phi. Helder Zavale và các cộng sự (2011), "The Structure and Trends of Public Expenditure on Agriculture in Mozambique", nhấn mạnh đầu tư nông nghiệp bền vững cần gắn với hạ tầng, y tế, giáo dục nông thôn và đổi mới thể chế. Paul Heisey, Sun Ling Wang, Keith Fuglie (2011), "Public Agricultural Research Spending and Future U.S. Agricultural Productivity Growth: Scenarios for 2010–2050", mô phỏng tổng năng suất nông nghiệp Hoa Kỳ đến năm 2050 theo các kịch bản đầu tư R&D khác nhau. Stephen Akroyd (2012), "Review of Public Spending to Agriculture", Joint DFID–World Bank Study, chứng minh mối quan hệ tỷ lệ thuận giữa tăng trưởng kinh tế, giảm đói nghèo và đầu tư của Chính phủ cho nông nghiệp. World Bank (2007), "Review of Public Spending to Agriculture", đề xuất mô hình khuyến khích người nghèo tham gia phát triển thị trường nông nghiệp.
Trong nước: Phạm Thị Khanh (2003), "Huy động vốn cho phát triển nông nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng"; Đặng Thanh Sơn (2009), "Cơ chế tài chính phát triển ngành thủy sản khu vực Đồng bằng sông Cửu Long", ĐHKT TP. Hồ Chí Minh; Trần Viết Nguyên (2015), "Nâng cao hiệu quả vốn đầu tư cho phát triển nông nghiệp tỉnh Thừa Thiên Huế", ĐHKT, ĐH Huế; Phạm Văn Hiệp (2015), "Huy động vốn đầu tư phát triển khoa học công nghệ trong nông nghiệp ở Việt Nam"; Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn (2015), đề tài cấp Bộ về các yếu tố làm giảm tốc độ tăng trưởng ngành nông nghiệp; Vũ Văn Hùng (2013), "Chính sách của Nhà nước đối với tiêu thụ nông sản trong quá trình thực hiện cam kết với WTO", NXB ĐHQG HN.
Tác giả cũng dẫn chiếu Trần Mai Chi (2000) về kinh nghiệm đầu tư NSNN cho nông nghiệp của Đài Loan (vốn NSNN đầu tư cho nông nghiệp chiếm 14% GDP và 78,4% tổng vốn đầu tư cho nông nghiệp giai đoạn 1951–1955, tăng trưởng nông nghiệp trung bình 4,2%–5,2%/năm) và Hàn Quốc; Đặng Quang Vinh (2009) về chính sách tài chính nông nghiệp của Trung Quốc; Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (2014) với số liệu đầu tư từ NSNN cho khu vực nông nghiệp nông thôn giai đoạn 2006–2014 đạt 33.522 tỷ đồng, vốn trái phiếu Chính phủ cho thủy lợi chiếm khoảng 36.096 tỷ đồng.
Khoảng trống luận án giải quyết
Bốn khoảng trống chính được xác định: (1) Chưa có nghiên cứu nào phân loại và đánh giá đầu tư NSNN cho nông nghiệp theo bốn lĩnh vực (nhân lực, KHCN, hạ tầng, xúc tiến thương mại) thay vì phân theo tiểu ngành nông, lâm, thủy sản; (2) Chưa xem xét mối quan hệ giữa vốn NSNN và mức độ tăng trưởng, phát triển của ngành nông nghiệp; (3) Chưa có công trình riêng biệt về đầu tư NSNN cho nông nghiệp tỉnh Thái Bình; (4) Chưa xây dựng khung tiêu chí đánh giá kết quả đầu tư NSNN cho nông nghiệp ở cấp tỉnh.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Lý thuyết, khái niệm và khung phân tích
Luận án tiếp cận dưới góc độ Kinh tế Chính trị, trên nền tảng phương pháp luận của Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử.
Về khái niệm vốn, tác giả dẫn hai định nghĩa: "Vốn là tài sản tạo ra thu nhập và bản thân nó cũng được cái khác tạo ra" (Penguin Reference, 1995) và vốn là "một trong ba yếu tố đầu vào phục vụ sản xuất (lao động, đất đai, vốn)" (I. Pôlianxki, 1994). Định nghĩa làm việc về đầu tư từ NSNN được lấy từ Phô Thị San Sa May (2014): đầu tư từ NSNN là việc vốn từ nguồn NSNN được bỏ ra để thực hiện các hoạt động đầu tư nhằm tăng thêm tài sản tài chính, tài sản vật chất, tài sản trí tuệ và nguồn nhân lực cho toàn bộ nền kinh tế.
Về ngành nông nghiệp, luận án dẫn các định nghĩa của Chu Tiến Quang (2005), Nguyễn Thế Nhã (2002), Đỗ Kim Chung (2009); đối với vốn trong nông nghiệp, luận án dẫn Đinh Phi Hồ (2012) và Trần Viết Nguyên (2015). Mô hình Harrod–Domar và hệ số ICOR (Incremental Capital-Output Ratio) được dùng để lượng hóa vai trò của vốn đối với tăng trưởng nông nghiệp.
Luận án xây dựng một khung phân tích riêng gồm: (i) nội dung đầu tư từ NSNN theo bốn lĩnh vực; (ii) các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả đầu tư (thuộc về quản lý – sử dụng NSNN; về quy mô, tốc độ tăng trưởng, cơ cấu đầu tư; về khả năng hấp thụ khoản đầu tư từ NSNN); (iii) tiêu chí đánh giá kết quả đầu tư theo từng lĩnh vực và theo tổng thể (tăng trưởng nông nghiệp ổn định, chuyển dịch cơ cấu hợp lý, phát huy thế mạnh địa phương).
Phương pháp nghiên cứu
Luận án kết hợp phương pháp nghiên cứu truyền thống của Kinh tế Chính trị với phương pháp hiện đại, kết hợp định tính và định lượng:
- Phương pháp trừu tượng hóa khoa học: gạt bỏ các yếu tố không cơ bản như tập quán canh tác, thổ nhưỡng, khí hậu, và các khoản đầu tư ngoài NSNN.
- Phương pháp phân tích – tổng hợp: diễn giải kết quả thu thập số liệu và mô hình xử lý để rút ra những tác động cơ bản của đầu tư NSNN đến nông nghiệp Thái Bình.
- Phương pháp thống kê, so sánh, đối chiếu: đánh giá tác động theo các giai đoạn khác nhau và so sánh giữa đầu tư NSNN với các ngành khác.
- Phương pháp phỏng vấn sâu: tham vấn các chuyên gia hoạt động trong ngành nông nghiệp tại Thái Bình để đánh giá chiều hướng (thuận hay nghịch) của mối quan hệ giữa đầu tư NSNN và phát triển nông nghiệp.
- Phương pháp biểu đồ, đồ thị: trình bày kết quả số liệu, làm rõ quy luật vận động của đối tượng nghiên cứu.
Nguồn tư liệu và dữ liệu
Số liệu sơ cấp và thứ cấp được thu thập từ: Cục Thống kê tỉnh Thái Bình (Niên giám Thống kê Thái Bình), Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Thái Bình, Ủy ban Nhân dân tỉnh Thái Bình, Sở Tài chính tỉnh Thái Bình, Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Thái Bình. Dữ liệu được tổng hợp và xử lý bằng phần mềm Excel để lập bảng biểu và tính toán các chỉ tiêu nghiên cứu.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu về đầu tư từ NSNN và đầu tư từ NSNN cho ngành nông nghiệp
Chương này hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo ba nhóm: nghiên cứu tác động của đầu tư từ NSNN đối với tăng trưởng kinh tế; nghiên cứu tác động của đầu tư từ NSNN đối với phát triển kinh tế – xã hội; và nghiên cứu về đầu tư từ NSNN cho ngành nông nghiệp (theo nội dung đầu tư và theo các yếu tố ảnh hưởng). Trên cơ sở đó, chương xác định bốn vấn đề mà luận án có thể tham khảo kế thừa và bốn vấn đề mà các công trình trước chưa hoặc ít đề cập, làm nền tảng xác định những câu hỏi nghiên cứu luận án cần trả lời. Tiểu kết khẳng định hầu hết nghiên cứu đều đánh giá cao vai trò của NSNN đối với nông nghiệp song đều chưa phân tích đầy đủ tác động của từng nội dung đầu tư (nhân lực, KHCN, hạ tầng, xúc tiến thương mại) ở cấp tỉnh.
Chương 2: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về đầu tư từ NSNN cho ngành nông nghiệp
Chương này xây dựng khung lý thuyết gồm bốn mảng: (1) khái niệm, đặc điểm, phân loại vốn NSNN và vai trò của đầu tư từ NSNN; (2) khái niệm và đặc điểm của ngành nông nghiệp, sự cần thiết của đầu tư từ NSNN cho nông nghiệp; (3) nội dung đầu tư từ NSNN theo bốn lĩnh vực và những yếu tố ảnh hưởng; (4) tiêu chí đánh giá kết quả đầu tư. Phần kinh nghiệm quốc tế điểm lại bài học từ Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc, Trung Quốc và châu Phi về cách phân bổ vốn NSNN cho nông nghiệp, trong đó nổi bật là kinh nghiệm Đài Loan (vốn NSNN cho nông nghiệp giai đoạn 1951–1955 chiếm 14% GDP và 78,4% tổng vốn đầu tư nông nghiệp, tăng trưởng bình quân 4,2%–5,2%/năm). Kinh nghiệm trong nước rút ra từ một số địa phương làm cơ sở đề xuất bài học cho Thái Bình, trong đó bài học quan trọng nhất được xác định là: xác định đúng lĩnh vực cần đầu tư và phân bổ vốn đầu tư từ NSNN cho nông nghiệp để tăng năng suất và kích thích đầu tư từ những nguồn vốn khác.
Chương 3: Thực trạng đầu tư từ NSNN cho nông nghiệp tỉnh Thái Bình
Đây là chương phân tích thực trạng, được cấu trúc theo ba phần.
Phần 1: Đặc điểm tự nhiên, kinh tế – xã hội và khái quát tình hình phát triển nông nghiệp tỉnh Thái Bình. Các biểu đồ phản ánh tốc độ tăng trưởng GDP nông nghiệp từ 2006 đến 2017, đóng góp của các tiểu ngành vào tăng trưởng và cơ cấu sản xuất nông nghiệp 2006–2017.
Phần 2: Tình hình đầu tư từ NSNN cho nông nghiệp, gồm bốn nhánh gắn với từng bảng số liệu cụ thể:
| Lĩnh vực |
Nội dung dữ liệu bảng số liệu |
| Nhân lực |
Vốn NSNN cho tập huấn, tuyên truyền kỹ thuật nuôi trồng; kinh phí đào tạo nghề cho nông dân; vốn đào tạo cán bộ quản lý, khuyến nông |
| KHCN |
Vốn NSNN cho các lĩnh vực trong nội dung KHCN phục vụ nông nghiệp |
| Kết cấu hạ tầng |
Vốn NSNN cho hệ thống thủy lợi; vốn xây mới, cải tạo, nâng cấp cơ sở vật chất khác |
| Xúc tiến thương mại |
Vốn đầu tư từ NSNN cho hoạt động xúc tiến thương mại nông sản |
Bảng tổng hợp so sánh vốn đầu tư từ NSNN toàn tỉnh với vốn NSNN cho nông nghiệp qua các năm. Các biểu đồ thể hiện tỷ trọng NSNN cho nông nghiệp trong tổng vốn NSNN và tỷ trọng NSNN cho nông nghiệp trong tổng vốn cho nông nghiệp.
Phần 3: Đánh giá kết quả đầu tư. Các bảng về lao động làm việc trong nông nghiệp, lao động qua đào tạo qua các năm; thu nhập bình quân đầu người ngành nông nghiệp và khu vực nông thôn Thái Bình; giá trị và cơ cấu sản xuất phân theo khu vực kinh tế (theo giá thực tế); giá trị sản xuất ngành nông nghiệp theo tiểu ngành qua các năm; cơ cấu giá trị sản xuất ngành nông nghiệp theo tiểu ngành từ 2006 đến 2016. Biểu đồ mức tăng thu nhập bình quân đầu người ngành nông nghiệp, khu vực nông thôn và toàn tỉnh. Phần này cũng làm rõ ưu điểm và hạn chế của đầu tư NSNN cho nông nghiệp tỉnh Thái Bình, cùng nguyên nhân của các hạn chế đó. Một số kết quả nổi bật được ghi nhận gồm: phát triển nguồn nhân lực phục vụ nông nghiệp, bước đầu ứng dụng công nghệ cao (VietGAP, GAHP), đồng bộ hóa và nâng cấp kết cấu hạ tầng, hỗ trợ ban đầu cho xúc tiến thương mại nông sản, tăng trưởng nông nghiệp ổn định và chuyển dịch cơ cấu hợp lý.
Chương 4: Phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư từ NSNN cho ngành nông nghiệp tỉnh Thái Bình
Chương này phân tích bối cảnh mới (thách thức và cơ hội) tác động đến nông nghiệp Thái Bình, nêu xu hướng phát triển và định hướng, mục tiêu phát triển nông nghiệp đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất năm nhóm giải pháp: (1) tăng cường đầu tư từ NSNN cho phát triển nguồn nhân lực phục vụ nông nghiệp để tăng năng suất lao động; (2) ưu tiên đầu tư từ NSNN cho nghiên cứu và ứng dụng KHCN; (3) duy trì và ổn định nguồn đầu tư từ NSNN để duy tu, cải tạo, nâng cấp và xây dựng mới kết cấu hạ tầng; (4) hỗ trợ từ NSNN cho hoạt động xúc tiến thương mại nông sản nhằm mở rộng thị trường, nâng cao giá trị nông sản; (5) một số giải pháp khác nhằm làm tăng hiệu quả đầu tư nói chung và đầu tư từ NSNN nói riêng.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án tự xác định bốn nhóm đóng góp:
-
Về lý luận: Bổ sung và làm mới một số khía cạnh lý luận về đầu tư từ NSNN cho nông nghiệp, cụ thể là xây dựng khung lý thuyết để phân tích nội dung đầu tư, các yếu tố ảnh hưởng và tiêu chí đánh giá kết quả của đầu tư từ NSNN cho nông nghiệp theo bốn lĩnh vực (nhân lực, KHCN, hạ tầng, xúc tiến thương mại) thay vì phân theo tiểu ngành.
-
Về kinh nghiệm quốc tế và trong nước: Phân tích kinh nghiệm đầu tư NSNN cho nông nghiệp của một số quốc gia và địa phương trong nước, rút ra bài học quan trọng nhất là xác định đúng lĩnh vực cần đầu tư và phân bổ vốn để tăng năng suất và kích thích đầu tư từ các nguồn vốn khác.
-
Về thực trạng và đánh giá: Trên cơ sở phân tích giai đoạn 2006–2017, luận án khẳng định một số kết quả mà Thái Bình đạt được từ đầu tư NSNN cho nông nghiệp, đồng thời chỉ ra những hạn chế và nguyên nhân.
-
Về đề xuất chính sách: Đưa ra các kiến nghị và giải pháp thực hiện đầu tư từ NSNN cho nông nghiệp tại địa phương nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư và thực hiện mục tiêu phát triển ngành nông nghiệp tỉnh Thái Bình theo định hướng đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Luận án không trình bày phần hạn chế nghiên cứu riêng biệt theo cấu trúc thông thường. Dựa trên phạm vi nghiên cứu đã xác định, có thể ghi nhận một số giới hạn nội tại: phương pháp trừu tượng hóa khoa học loại trừ các yếu tố như tập quán canh tác, thổ nhưỡng, khí hậu và các khoản đầu tư ngoài NSNN, do đó kết quả phân tích phản ánh tác động riêng của NSNN mà không xét tổng hòa các yếu tố. Phạm vi không gian chỉ bao gồm tỉnh Thái Bình, không đủ cơ sở để khái quát hóa cho các tỉnh đồng bằng sông Hồng hoặc các tỉnh có đặc điểm nông nghiệp tương tự. Dữ liệu số liệu được thu thập chủ yếu từ các cơ quan hành chính nhà nước cấp tỉnh, chưa có điều tra trực tiếp hộ nông dân về hiệu quả thụ hưởng từng khoản đầu tư NSNN.
Giá trị tham khảo
Luận án hữu ích cho các nhóm đối tượng sau:
- Nghiên cứu sinh và giảng viên chuyên ngành Kinh tế Chính trị, Kinh tế Nông nghiệp, Tài chính Công có thể tham khảo khung phân tích bốn lĩnh vực đầu tư NSNN cho nông nghiệp và hệ thống tiêu chí đánh giá kết quả được xây dựng ở Chương 2.
- Cán bộ hoạch định chính sách tại các Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Sở Tài chính, Sở Kế hoạch và Đầu tư các tỉnh đồng bằng sông Hồng có thể tham khảo cách phân bổ cơ cấu vốn NSNN và phần đánh giá ưu điểm – hạn chế ở Chương 3.
- Nhà nghiên cứu về phát triển nông thôn và nông nghiệp địa phương có thể sử dụng phần tổng quan tài liệu ở Chương 1 như một điểm tổng hợp có hệ thống các công trình trong và ngoài nước về đầu tư NSNN cho nông nghiệp tính đến năm 2018.
- Cán bộ quản lý cấp tỉnh tại Thái Bình và các tỉnh thuần nông lân cận có thể tham khảo các giải pháp định hướng đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 ở Chương 4.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án phân chia nội dung đầu tư từ NSNN cho nông nghiệp thành những lĩnh vực nào và tại sao chọn cách phân chia đó?
Luận án phân chia thành bốn lĩnh vực: (1) nhân lực phục vụ nông nghiệp, (2) KHCN phục vụ nông nghiệp, (3) kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp, và (4) hoạt động xúc tiến thương mại nông sản. Tác giả giải thích rằng đây là bốn nội dung cơ bản và chủ yếu mà NSNN đầu tư vào nông nghiệp, đồng thời là những lĩnh vực có ảnh hưởng, tác động nhiều nhất đến sự phát triển của ngành và tạo cơ sở để thu hút vốn đầu tư tư nhân vào nông nghiệp. Cách phân chia này khác với các nghiên cứu trước thường phân theo tiểu ngành (nông, lâm, thủy sản).
2. Phạm vi thời gian nghiên cứu chính của luận án là giai đoạn nào và lý do chọn mốc thời gian đó?
Phạm vi thời gian chính là từ năm 2006 đến năm 2015, với cập nhật bổ sung đến năm 2016 và một số số liệu đến năm 2017. Tác giả chọn năm 2006 vì đây là năm bắt đầu kế hoạch 5 năm phát triển kinh tế – xã hội theo Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X và là năm Việt Nam gia nhập WTO, tạo ra những thách thức và thuận lợi mới cho nông nghiệp. Khoảng thời gian 10 năm (2006–2015) bao gồm hai nhiệm kỳ kế hoạch 5 năm, đủ dài để phân tích xu hướng và thu thập số liệu thống kê.
3. Luận án sử dụng những phương pháp thu thập và xử lý số liệu cụ thể nào?
Số liệu được thu thập từ các cơ quan nhà nước cấp tỉnh gồm Cục Thống kê (Niên giám Thống kê Thái Bình), Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, UBND tỉnh, Sở Tài chính, Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Thái Bình. Bên cạnh đó, tác giả thực hiện phỏng vấn sâu với các chuyên gia hoạt động trong ngành nông nghiệp tại Thái Bình. Dữ liệu thu thập được xử lý bằng phần mềm Excel để tính toán, tổng hợp, lập bảng biểu và biểu đồ phục vụ phân tích.
4. Kinh nghiệm quốc tế nào được coi là có giá trị tham chiếu lớn nhất và bài học nào được rút ra cho Thái Bình?
Trong số các quốc gia được khảo sát, kinh nghiệm Đài Loan giai đoạn 1951–1955 (vốn NSNN cho nông nghiệp chiếm 14% GDP và 78,4% tổng vốn đầu tư nông nghiệp, tăng trưởng bình quân 4,2%–5,2%/năm) và kinh nghiệm Nhật Bản trong đầu tư nghiên cứu phát triển nông nghiệp, cải tạo giao thông nông thôn sau Thế chiến thứ II được trình bày chi tiết hơn cả. Bài học quan trọng nhất mà tác giả rút ra là: phải xác định đúng lĩnh vực cần đầu tư và phân bổ vốn đầu tư từ NSNN cho nông nghiệp để tăng năng suất và kích thích đầu tư từ những nguồn vốn khác; đồng thời phải kiên trì chính sách, không cắt giảm vốn NSNN cho nông nghiệp giữa chừng để tập trung cho công nghiệp – dịch vụ (bài học từ sai lầm của cả Đài Loan và Hàn Quốc).
5. Tác giả xác định những hạn chế nào trong đầu tư NSNN cho nông nghiệp tỉnh Thái Bình giai đoạn 2006–2017?
Những hạn chế được chỉ ra gồm: kết cấu hạ tầng nông nghiệp chưa đồng bộ; đầu tư cho KHCN chưa cao; nhân lực nông nghiệp trình độ thấp, tỷ lệ lao động chưa hoặc không qua đào tạo là chủ yếu; sản xuất vẫn dựa vào kinh nghiệm; nông sản đưa ra thị trường chủ yếu ở dạng chưa chế biến hoặc mới qua sơ chế, giá trị chưa cao; hoạt động xúc tiến thương mại cho riêng ngành nông nghiệp chưa được chú trọng đầu tư thỏa đáng. Ở cấp độ quốc gia, Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn (2015) cũng chỉ ra rằng nguồn vốn ngân sách cho nông nghiệp chủ yếu tập trung vào thủy lợi (75,6% năm 2013), trong khi KHCN chỉ chiếm 0,8% và giáo dục đào tạo nhân lực là 1,5% — dữ liệu này được tác giả sử dụng làm bối cảnh so sánh cho trường hợp Thái Bình.
Kết luận
Luận án của Đặng Thị Hoài (2018) cung cấp một phân tích có hệ thống về đầu tư từ ngân sách nhà nước cho nông nghiệp tỉnh Thái Bình giai đoạn 2006–2017, trong đó đóng góp nổi bật về mặt lý luận là việc xây dựng khung phân tích đầu tư NSNN theo bốn lĩnh vực (nhân lực, KHCN, hạ tầng, xúc tiến thương mại) thay vì cách phân chia truyền thống theo tiểu ngành. Nghiên cứu được thực hiện theo hướng hỗn hợp, kết hợp phân tích thống kê số liệu chuỗi thời gian 10 năm với phỏng vấn sâu chuyên gia, dưới góc độ tiếp cận Kinh tế Chính trị. Bên cạnh việc ghi nhận những kết quả đạt được, luận án chỉ ra các hạn chế còn tồn tại trong cơ cấu và hiệu quả đầu tư NSNN tại địa phương và đề xuất năm nhóm giải pháp định hướng đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030. Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu chuyên biệt về vấn đề đầu tư NSNN cho nông nghiệp tỉnh Thái Bình và có thể là tài liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu về tài chính công nông nghiệp cấp tỉnh cũng như các cơ quan hoạch định chính sách phát triển nông nghiệp tại các tỉnh đồng bằng sông Hồng.