CHƯƠNG 1 TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU VE ĐẦU TU TU NGAN SACH NHA NUOC VA DAU TU TU NGAN SÁCH NHÀ NƯỚC CHO NGANH NONG NGHIỆP 1. Những nghiên cứu về đầu tư từ NSNN cho phát triển kinh tế - xã hội 1. Những nghiên cứu tác động của đầu tư từ NSNN đối với tăng trưởng kinh tế Bird an Wallich (1993), Decentraliztion of the Socialist State. A Regional and Sectoral Study, Washington D.C: The World Bank.
Trong nghiên cứu nay, tác giả khang định: Việc cung ứng dich vụ công nói chung và sử dụng nguồn tài chính từ ngân sách một cách hợp lý của các chính quyền địa phương sẽ thúc đây tăng trưởng kinh tế cho các địa phương. Với những lợi thế về việc nắm rõ đặc điểm của địa phương minh, các chính quyên sẽ có những quyết định dùng khoản ngân sách được phân bé dé đầu tư vào ngành nào mà địa phương mình có lợi thế, như nên đầu tư nguồn vốn khan hiếm này vào công nghiệp, nông nghiệp hay đôi khi là phát triển ngành du lịch.từ đó phát huy lợi thế sẵn có đồng thời tạo đà thúc đây phát triển. Khoản ngân sách dau tư có thé được rút bớt theo thời gian nếu khoản đầu tư ban đầu tạo ra được hiệu ứng đầu tư tích cực từ các khu vực khác trong thời gian sau đó. David Alan Aschauer (1998), “How Big Should the Public Capital Stock Be?” No 43, 1998.
Khi nghiên cứu về mối quan hệ giữa khoản đầu tư của Chính phủ với tăng trưởng kinh tế tại 48 tiểu bang của Hoa Kỳ, tác giả nhận định rang: Mối quan hệ giữa đầu tư từ vốn công và tăng trưởng kinh tế là mối quan hệ phi tuyến. Tại các nước phát triển như Mỹ thi tăng trưởng kinh tế có thé được tăng lên bang cách tăng đầu tư vốn công và chuyền hướng từ chi tiêu Chính phủ không tiêu thụ sang chỉ tiêu cho đầu tư công. Trong nghiên cứu của mình tác giả cho biết, tỷ lệ đầu tư của Chính phủ đang thiếu hụt nên phải tăng vốn công, sự tăng vốn công sẽ có ảnh hưởng tích cực cả tĩnh và động đến tăng trưởng kinh tế. Ảnh hưởng tĩnh là những tác động ban đầu về sản lượng, việc làm, năng suất lao động.
Cũng trong nghiên cứu của mình năm 2000 “Do states optimize? Public capital and economic growth”, Annals of regional science, 34. Tác giả van khang định mỗi quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế va dau tư từ ngân sách của chính phủ là mối quan hệ phi tuyến. Tuy nhiên, đầu tu từ vốn công sẽ bổ sung cho dau tư tư nhân và do đó khoản dau tư này có tác động tích cực và có ý nghĩa thống kê đối với tăng trưởng kinh tế. Mặc dù vậy, tác giả cũng không rút ra được kết luận chắc chắn nào từ nghiên cứu này.
Nguyễn Khắc Minh (2008), Tăng trưởng chuyên đổi cơ cấu và chính sách kinh tế ở Việt Nam thời kỳ đổi mới, NXB Khoa học và Kỹ Thuật, HN Trong nghiên cứu này, tác giả đã thu thập số liệu của 34 tỉnh trong khoảng từ năm 2000 - 2005, với những phân tích từ số liệu thu thập đã chỉ ra tính phi hiệu quả trong chỉ tiêu công, nghĩa là dù chi đầu tư hay chi thường xuyên thì việc chi tiêu ngân sách ở Việt Nam trong giai đoạn 2000 - 2005 không có tác động tích cực ở những tỉnh mà tác giả nghiên cứu. Năm 2010, Hoàng Thị Chinh Thon trong "Tác động của chi tiêu công tới tăng trưởng kinh tế tại các địa phương ở Việt Nam", Trung tâm nghiên cứu kinh tế và chính sách, Đại học Kinh tế, ĐHQG HN, đã chỉ ra rằng: trong chỉ tiêu công gồm có chi đầu tư, chi thường xuyên và các khoản chi khác, thì chi đầu tư phát triển tạo năng lực sản xuất, có tác dụng dài hạn cho tăng trưởng kinh tế. Trong khi chỉ thường xuyên là những khoản chỉ đảm bảo cung cấp hàng hóa - dịch vụ về hành chính, pháp luật.tạo môi trường vĩ mô cho hoạt động sản xuất, đàu tư kinh doanh của doanh nghiệp. Như vậy, chi tiêu công nói chung có tác động tích cực đối với nền kinh tế mặc dù cơ cấu chi có những tác động khác nhau.
Phó Thị Kim Chỉ và cộng sự (2013), "Hiệu quả đầu tư công: nhìn từ tác động của nó đến tăng trưởng kinh tế", Trung tâm thông tin và dự báo KT- XH Quốc gia — Bộ kế hoạch va Đầu tư. Qua nghiên cứu của minh tác giả đã đưa ra những kết luận như: Đầu tư công có vai trò quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam, tuy nhiên việc đánh giá hiệu quả của đầu tư công qua các chỉ tiêu vĩ mô chưa có tính thống nhất cao. Đặc biệt việc áp dụng công cụ định lượng dé đánh giá hiệu quả của đầu tư công ở Việt Nam rất hạn chế. Qua các phương pháp định lượng dé đánh giá hiệu 10 quả của đầu tư công ở Việt Nam hiện nay tác giả đã rút ra một số kêt luận: Hiệu quả đầu tư công ở Việt Nam trong thời gian qua liên tục giảm sút, nhưng tốc độ giảm sút ít hơn trong 5 năm trở lại đây; Hiệu quả đầu tư công thấp hơn hiệu quả toàn nền kinh tế; Đầu tư công tác động đến tăng trưởng GDP trong ngăn hạn nhiều hơn trong dai hạn.
Trần Nguyễn Ngọc Anh Thư và cộng sự (2014), "Tác động của đầu tư công đối với tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam: Góc nhìn thực nghiệm từ mô hình ARDL", Tạp chí Phát triển và hội nhập, số 19/2014. Trong nghiên cứu của mình, tác giả kiểm tra hiệu ứng của đầu tư công đối với tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong giai đoạn 1988 — 2012. Trên cơ sở mô hình đa biến được phác họa từ hàm sản xuất bằng cách tiếp cận phân phối trễ tự hồi quy, nghiên cứu cho thấy: Đầu tư công có tác động đối với tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn không có ý nghĩa thống kê, nhưng có tác động thúc đây tăng trưởng trong dài hạn. Tuy nhiên, mức độ tác động của đầu tư công lên tăng trưởng kinh tế là kém nhất so với các thành phần vốn đầu tư khác như khu vực tư nhân trong nước hay khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI).
Từ đó, tác giả đã có một số khuyến nghị về chính sách đối với đầu tư công ở Việt Nam trong thời gian tói. Mai Đình Lâm (2015), “Tác động của chỉ ngân sách đến tăng trưởng kinh tế của địa phương: Nghiên cứu trường hợp các tỉnh thành phía Nam”, Tạp chí Phát triển & Hội nhập, số 24, tháng 9, 10/2015. Trong nghiên cứu này, tác giả đã sử dụng phương pháp ước lượng dạng Pools OLS, hiệu ứng cô định (Fixed Effects — FE) và hiệu ứng ngẫu nhiên (Random Effects -RE) dé đánh giá tác động của chi tiêu ngân sách lên tăng trưởng kinh tế địa phương tại 19 tỉnh, thành phía Nam của Việt Nam. Kết qua phân tích thự nghiệm cho thay chi ngân sách có tác động dương lên tăng trưởng kinh tế, khi phân tích thành chi thường xuyên và chỉ đầu tư, trong đó chỉ thường xuyên tăng trưởng dương nhưng chưa tìm thấy mối quan hệ giữa chỉ đầu tư và tăng trưởng kinh tế của địa phương.
Từ những nghiên cứu này cho thấy, khoản đầu tư từ NSNN nói riêng và đầu tư công nói chung đa phần có tác động tích cực tới tăng trưởng kinh tế, mặc dù 11 trong ngắn hạn và dài hạn thì khoản dau tư này có những tác động khác nhau. Cũng như vậy, với việc phân chia cơ cấu đầu tư (chi thường xuyên hay chi đầu tư) cũng sẽ gây ra những hiệu ứng khác nhau. từ những nghiên cứu trên gợi mở sự quan tâm của tác giả: Xem xét khoản đầu tư từ NSNN đã đầu tư như thế nào (đầu tư vào ngành nào, ngắn hạn hay dài hạn, đầu tư vào khâu nào) để đạt mức độ tăng trưởng cao nhất. Những nghiên cứu tác động của đầu tư từ NSNN đối với phát triển kinh tế - xã hội CIEM(2013), Thông tin chuyên đề, “Đầu tư công, nợ công và mức độ bền vững ngân sách ở Việt Nam”, Trung tâm thông tin tư liệu, số 5/2013 đã nghiên cứu và chỉ ra rằng: Đầu tư công nói chung và khoản dau tư tư từ NSNN nói riêng không chỉ là động lực cho tăng trưởng kinh tế mà góp phần quan trọng trong việc thúc đây phát triển kinh tế xã hội nói chung: Vì thông qua các khoản đầu tư này hệ thống kết cau hạ tầng trong nước được đầu tư và phát triển, tạo sức lan tỏa, góp phan cải thiện môi trường đầu tư, riêng khoản đầu tư từ NSNN được ưu tiên cho các dự án kết cấu hạ tầng, giao thông quan trọng, có ý nghĩa chiến lược của đất nước.
Bên cạnh đó, NSNN được cơ cấu lại dé tăng chi cho giáo dục-đào tạo, KHCN, y tế, văn hóa. góp phần nâng cao nguồn lực con người, tạo nền tảng cho phát triển bền vững. Tại những thời điểm kinh tế suy thoái, đầu tư tư nhân và đầu tư nước ngoài suy giảm thi khoản đầu tư từ NSNN luôn phát huy vai trò của mình trong việc duy trì ôn định kinh tế vĩ mô. Bùi Mạnh Cường (2012), Luận án Ts “Nâng cao hiệu quả đầu tư phát triển từ nguồn vốn ngân sách nhà nước ở Việt Nam”, tác giả đã khang định: Nguồn vốn đầu tư từ NSNN có tác động tích cực đến đến sự phát triển kinh tế - xã hội.
Thông qua hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả đầu tư phát triển như sau: Về mặt xã hội: Góp phan nâng cao mức sống người dân, tạo việc làm, xóa đói giảm nghèo, bình ôn gid cả, kiềm chế lạm phát, tăng năng suất lao động, phát triển sư nghiệp giáo dục, y tế, văn hóa, xã hội. Về mặt môi trường: hạn chế mức độ gia tăng ô nhiễm môi trường, cải thiện chất lượng môi trường và đảm bảo cân băng môi trường sinh thái. 12 Về phát triển bền vững: đóng góp vào phát triển bền vững hệ thống kinh tế, đảm bảo duy trì sự tăng trưởng đầu tư phát triển từ nguồn vốn NSNN và mức độ nợ công, quản lý bền vững tài nguyên, bền vững đa dạng sinh học, đóng góp vào khoa học công nghệ. Nguyễn Công Nghiệp (2010), Bàn về hiệu quả quản lý vốn đầu tư từ NSNN, Tạp chí Tài chính, số 5/ 2010.
Đã khái quát hiệu quả tổng quan của quản lý vốn dau tư từ NSNN là tạo ra cơ sở vật chất nền tang và các yếu t6 đầu vào khác cho các ngành nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội theo định hướng phát triển của Nhà nước cả trong ngắn hạn và dài hạn với chi phí tối ưu nhất và hiệu qua cao nhất.