CHƯƠNG 1. TÒNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN cứu, cơ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỤC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐÓI VỚI HOẠT ĐỘNG ĐẦU Tư TRỰC TIẾP RA NƯỚC NGOÀI 1. Tống quan tình hình nghiên cứu 1. Một số công trình liên quan đến đề tài Cùng với xu thế hội nhập quốc tế sâu rộng và sự phát triển nhanh chóng của cộng đồng DN VN, vấn đề OFDI và quản lý hoạt động OFDI ngày càng trở nên cấp thiết và đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, nâng tầm vị thế quốc gia trên trường quốc tế.
Thời gian gần đây, làn sóng đầu tư của DN VN ra nước ngoài ngày càng gia tăng, tập trung vào các thị trường kề cận, giàu tiềm năng như Lào, Campuchia, Myanmar, do đó, vấn đề OFDI và quản lý hoạt động OFDI hiện đang trở thành nội dung nghiên cứu quan trọng cùa nhiều tổ chức, cá nhân cả trong và ngoài nước. Đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề OFDI và quản lý hoạt động OFDI trên các lĩnh vực, thị trường khác nhau. Trong đó, liên quan đến chủ đề và nội dung của luận văn, có thể kể tới một số công trình nổi bật như sau: - Nguyễn Thị Tý đã nghiên cứu năm 2011 về Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam (Luận văn thạc sỹ Kinh tế chính trị, trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội). Đề tài đà nghiên cứu làm rõ một vấn đề quan trọng trong chính sách đầu tư của nhà nước VN đối với hoạt động đầu tư ra nước ngoài, tình hình đầu tư ra nước ngoài của DNVN.
Nghiên cứu của tác giả đà chỉ rõ hệ thống văn bản pháp lý quản lý và thúc đẩy hoạt động đầu tư ra nước ngoài của Chính phủ và một số vấn đề liên quan đến phân cấp quản lý hoạt động cấp phép, kiểm tra, giám sát đầu tư ra nước ngoài ờ cấp Trung ương và cấp địa phương. Đặc biệt, tác giả đã chỉ ra những kết quả đạt được và bất cập, hạn chế trong hệ thống chính sách, văn bản pháp luật và bộ máy quản lý hoạt động quản lý đầu tư ra nước ngoài của VN. Tuy nhiên, đề tài mới tập trung vào các chính sách, văn bản pháp luật về quản lý đối với hoạt động OFDI nói chung, chưa đi sâu vào từng thị trường cụ thể và chưa tập trung phân tích phân cấp bộ máy quản lý. 5 - Nguyễn Thị Ngọc Mai đã nghiên cứu năm 2017 về Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Việt Nam: Nhân tố tảc động và hàm ý chính sách (Luận án tiến sỹ chuyên ngành Kinh tế quốc tế, trường Đại học Ngoại thương).
Đề tài đã đi sâu phân tích, nghiên cứu những nhân tố có tác động thúc đẩy và những nhân tố gây cản trở tới dòng vốn đầu tư trực tiếp ra nước ngoài cúa VN, từ đó, đưa ra hàm ý chính sách thúc đẩy dòng vốn này. Ngoài ra, luận án đã phát hiện ra các nhân tố mới tác động tới OFDI của VN như thương mại, quy mô thị trường, các hiệp định song phương, đa phương, chính sách ưu đãi đầu tư, chi phí nguyên vật liệu sản xuất. Tuy nhiên, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu các nhân tố tác động tới quy mô dòng vốn OFD1 của VN và không nghiên cứu sâu về các nhân tố tác động tới hiệu quả, hướng đầu tư hay lĩnh vực đầu tư. - Vũ Thị Lan đã nghiên cứu năm 2016 về Đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam vào một số nước ASEAN: Thực trạng và giải pháp (Luận văn thạc sỹ Kinh tế quốc tế, trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội).
Đe tài đã nghiên cứu một cách khá toàn diện hoạt động đàu tư trực tiếp nước ngoài của VN vào các nước ASEAN trong giai đoạn 2005 - 2013, trong đó chỉ ra một số vấn đề còn tồn tại trong công tác quản lý nhà nước đối với lĩnh vực này và nhấn mạnh tới các giải pháp có liên quan. Tuy nhiên, nghiên cứu của tác giả tập trung vào thời điếm năm 2013, cách hiện nay 07 năm, tình hình kinh tế trong nước và quan hệ VN - Myanmar hiện nay đã có nhiều thay đổi, do đó cần những nghiên cứu cập nhật hơn để bổ sung cho đề tài này. - Quách Mạnh Hồng đã nghiên cứu năm 2006 về Pháp luật về hình thức đầu tư ra nước ngoài của cloanh nghiệp Việt Nam (Luận văn thạc sỹ Luật học, trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội). Đề tài đã có những đánh giá sâu sắc về thực trạng quy định pháp luật của VN về hình thức đầu tư ra nước ngoài của DN trong nước và phân tích một số vấn đề liên quan đến những hình thức đầu tư ra nước ngoài chưa được đề cập hoặc chưa được điều chỉnh bởi hệ thống pháp luật.
Do đó, đề tài đã có những đóng góp quan trọng trong việc khái quát cơ sở pháp lý của hoạt động đầu tư ra nước ngoài của DN VN, tạo tiền đề cho các nghiên cứu tiếp theo về chủ đề này. 6 - Nguyên Trường Tứ đã nghiên cứu năm 2014 vê Đâu tư trực tiêp ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam trong bổi cảnh hội nhập kinh tế quốc tế (Luận vãn Thạc sỹ Kinh tế Quốc tế, trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội). Luận vãn đã tập trung vào việc luận giải các nguyên nhân làm thay đổi tư duy, nhận thức về chính sách đối ngoại trong thời kỳ đổi mới của Việt Nam, cũng như hệ thống hóa lại những chuyển biến về nội dung chính sách đối ngoại trong giai đoạn từ năm 1989 - 2012; luận giải về khái niệm, đặc điểm, và hình thức của đầu tư trực tiếp ra nước ngoài; phân tích mối quan hệ liên quan giữa chính sách đối ngoại và hoạt động OFDI. Đồng thời, phân tích sâu hơn các tác động của chính sách đối ngoại đến hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các doanh nghiệp trong từng thời kì nhất định, qua từng chính sách cụ thể.
Trên cơ sờ đó, luận văn đã đề xuất các giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động OFDI của DN VN, cũng như xây dựng các chính sách đối ngoại phù hợp với thực tiễn hội nhập kinh tế quốc tế của VN trong giai đoạn hiện nay. - Đặng Phương Linh đã nghiên cứu năm 2018 về Đầu tư trực tiếp của Việt Nam ra nước ngoài và một số vấn đề đặt ra (bài báo khoa học, Tạp chí Tài chính). Bài viết đã đưa ra cái nhìn tổng thể về hoạt động OFDI của DN VN từ trước tới nay, trong đó, chỉ rõ hành lang pháp lý quản lý hoạt động này của cơ quan chức năng qua từng thời kỳ và đánh giá sơ lược về đóng góp của OFDI đối với tăng trưởng kinh tế VN. Bên cạnh đó, tác giả đã đưa ra các giải pháp đối với Chính phủ và DN VN để thúc đẩy hoạt động OFDI, tập trung vào các vấn đề xây dựng chiến lược đầu tư dài hạn, cải cách thủ tục hành chính và đẩy mạnh hoạt động xúc tiến đầu tư.
- Nguyễn Hải Đăng đà nghiên cứu năm 2012 về Đầu tư của các doanh nghiệp Việt Nam ra nước ngoài trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế (Luận án Tiến sỹ Kinh tế chính trị, trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội). Tác giả đã thu thập tài liệu để hệ thống và làm rõ một số vấn đề lý luận về hoạt động OFDI trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, nhất là OFDI từ các nước đang phát triển. Luận văn đã có sự tổng hợp số liệu, phân tích thực trạng đầu tư ra nước ngoài của DN VN và đánh giá tổng thể về những kết quả đạt được, hạn chế còn tồn tại, 7 nhât là trong công tác QLNN. Thông qua đó, tác giả đã đưa ra nhiêu giải pháp thúc đẩy hoạt động OFDI của DN VN trong tình hình mới, tuy nhiên, nội dung này chưa đề cập sâu tới việc tăng cường công tác QLNN, nhất là các vấn đề liên quan tới hành lang pháp lý.
- Nguyễn Cẩm Nhung và Nguyễn Thị Hải Lê đã nghiên cứu năm 2014 về Quan hệ đầu tư của ASEAN trong bối cảnh hình thành AEC 2015 (báo cáo khoa học, Tham luận tại Hội thảo quốc tế AEC - lần III do trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội tố chức). Bài viết này phân tích và đánh giá quan hệ đầu tư của ASEAN trong bối cảnh hình thành Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC), đặc biệt tập trung vào phân tích quan hệ đầu tư nội khối và ngoại khối của ASEAN giai đoạn 1995-2013. số liệu chỉ ra rằng, tỷ trọng đầu tư ngoại khối vào ASEAN vẫn luôn giữ vai trò chủ đạo trong tổng dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào ASEAN. ASEAN kỳ vọng sẽ trở thành một công xưởng sản xuất chung với nguồn lực thống nhất, đặc biệt là nguồn nhân lực có kỹ năng với giá còn tương đối rẻ sau khi AEC được hình thành vào cuối 2015.
Điều này sẽ giúp ASEAN trở thành một khu vực hấp dẫn hơn nữa đối với các nhà đầu tư từ các nước phát triển và các nước thành viên cũng sẽ được hưởng lợi từ điều này. Bài viết đúc rút ra một số hàm ý cho Việt Nam trong chiến lược thay đổi cơ cấu sàn xuất và mô hình tăng trưởng để đón nhận các cơ hội đầu tư hiệu quả trong bối cảnh mới này - Nguyễn Thị Bích Ngọc đã nghiên cứu năm 2020 về Đầu tư của các doanh nghiệp Việt Nam ra nước ngoài trong quá trĩnh hội nhập kinh tế quốc tế (bài báo khoa học, Tạp chí Tài chính). Bài viết đã đánh giá tổng quan về tình hình OFDI của DN VN tại các thị trường nước ngoài từ trước tới nay và phân tích cụ thể xu hướng đầu tư trong thời gian gần đây. Ngoài ra, tác giả đã chỉ ra những rủi ro, thách thức đối với hoạt động OFDI của DN VN, từ đó, kiến nghị các giải pháp đối với cơ quan quản lý, DN.
Tuy nhiên, đề tài chưa phân tích cụ thế những nội dung liên quan đến công tác QLNN đối với hoạt động OFDI và một số vấn đề liên quan tới các thị trường đầu tư trọng điểm của DN VN, trong đó có thị trường Myanmar.