Luận văn kiểm soát vốn đầu tư công qua KBNN Nậm Pồ - Phạm Thanh Long

Tôi có thể giúp bạn tạo meta tags cho bài viết "Luận văn thạc sỹ kiểm soát vốn đầu tư công qua kho bạc nhà nước huyện nậm pồ tỉnh điện biên" như sau: {

Trường đại học

Đại học Kinh tế Quốc dân

Chuyên ngành

Quản lý kinh tế

Tác giả

Phạm Thanh Long

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2019

96
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về kiểm soát vốn đầu tư công qua kho bạc huyện Nậm Pồ

Kiểm soát vốn đầu tư công qua Kho bạc Nhà nước (KBNN) huyện Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên là hoạt động quản lý tài chính quan trọng nhằm đảm bảo hiệu quả, minh bạch trong sử dụng nguồn vốn từ ngân sách nhà nước. KBNN huyện Nậm Pồ thực hiện chức năng kiểm soát chi, thanh toán cho các dự án đầu tư công trên địa bàn theo quy định pháp luật. Hoạt động này góp phần ngăn chặn thất thoát, lãng phí vốn, đồng thời đảm bảo vốn được giải ngân đúng tiến độ, mục đích và theo kế hoạch đã phê duyệt. Tại huyện Nậm Pồ, vốn đầu tư công chủ yếu tập trung vào chương trình xây dựng nông thôn mới, cơ sở hạ tầng giáo dục, y tế và giao thông. Việc kiểm soát chặt chẽ giúp nâng cao trách nhiệm giải trình của chủ đầu tư, nhà thầu và cơ quan quản lý, từ đó nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư công trên địa bàn.

1.1. Khái niệm và vai trò của vốn đầu tư công

Vốn đầu tư công là nguồn tài chính từ ngân sách nhà nước được sử dụng để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo an sinh xã hội. Tại huyện Nậm Pồ, vốn đầu tư công đóng vai trò quan trọng trong thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương, cải thiện đời sống nhân dân và nâng cao năng lực hạ tầng. Vốn đầu tư công bao gồm vốn ngân sách trung ương, ngân sách địa phương và vốn từ các chương trình mục tiêu quốc gia. Việc quản lý và kiểm soát chặt chẽ nguồn vốn này giúp đảm bảo tính minh bạch, hiệu quả, ngăn chặn tình trạng tham nhũng, lãng phí. Tại KBNN huyện Nậm Pồ, vốn đầu tư công được kiểm soát thông qua quy trình thanh toán, quyết toán và giám sát chặt chẽ theo quy định pháp luật.

1.2. Chức năng và nhiệm vụ của Kho bạc Nhà nước huyện Nậm Pồ

KBNN huyện Nậm Pồ có chức năng quản lý, kiểm soát chi ngân sách nhà nước cho các dự án đầu tư công trên địa bàn. Nhiệm vụ chính bao gồm kiểm soát thanh toán vốn đầu tư theo kế hoạch, quyết toán dự án hoàn thành, giám sát việc sử dụng vốn đúng mục đích và đảm bảo tuân thủ pháp luật. KBNN huyện Nậm Pồ còn thực hiện vai trò trung gian thanh toán giữa ngân sách nhà nước và chủ đầu tư, nhà thầu. Hoạt động kiểm soát của KBNN góp phần nâng cao trách nhiệm giải trình, minh bạch trong quản lý tài chính công. Tại huyện Nậm Pồ, KBNN phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng để đảm bảo vốn đầu tư công được sử dụng hiệu quả, đúng tiến độ và mục đích đã đề ra.

II. Thực trạng kiểm soát vốn đầu tư công qua KBNN huyện Nậm Pồ

Từ năm 2014 đến 2018, KBNN huyện Nậm Pồ đã triển khai nhiều biện pháp kiểm soát vốn đầu tư công nhằm đảm bảo hiệu quả sử dụng nguồn vốn. Tuy nhiên, hoạt động kiểm soát vẫn đối mặt với nhiều thách thức như tình trạng chậm giải ngân, thiếu minh bạch trong hồ sơ thanh toán và tình trạng thanh toán sai quy định. KBNN huyện Nậm Pồ đã thực hiện kiểm soát chặt chẽ hồ sơ thanh toán khối lượng hoàn thành, từ chối thanh toán đối với các khoản chi không đúng quy định. Số liệu thống kê cho thấy, giai đoạn 2014-2018, KBNN huyện Nậm Pồ đã từ chối thanh toán 12,8 tỷ đồng do không đúng quy định, góp phần ngăn chặn thất thoát vốn đầu tư công. Bên cạnh đó, KBNN huyện Nậm Pồ cũng gặp khó khăn trong việc phối hợp với chủ đầu tư, nhà thầu do thiếu kinh nghiệm và hiểu biết về quy trình kiểm soát.

2.1. Đánh giá tình hình giải ngân vốn đầu tư công

Giai đoạn 2014-2018, huyện Nậm Pồ đã giải ngân thành công 567 tỷ đồng vốn đầu tư công, chiếm 89% kế hoạch giao. Tuy nhiên, tốc độ giải ngân chậm do quy trình thủ tục phức tạp, thiếu sự phối hợp giữa các bên liên quan. KBNN huyện Nậm Pồ đã chủ động rà soát, đẩy nhanh tiến độ giải ngân bằng cách đơn giản hóa thủ tục, tăng cường giám sát. Bên cạnh đó, tình trạng thanh toán sai quy định vẫn xảy ra, chủ yếu do chủ đầu tư không tuân thủ dự toán, hợp đồng. KBNN huyện Nậm Pồ đã từ chối thanh toán 12,8 tỷ đồng, tương đương 2,3% tổng vốn giải ngân, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.

2.2. Hạn chế trong công tác kiểm soát vốn đầu tư công

KBNN huyện Nậm Pồ còn gặp nhiều hạn chế trong công tác kiểm soát vốn đầu tư công như thiếu cán bộ có chuyên môn sâu, trang thiết bị kiểm soát chưa đầy đủ. Nhiều trường hợp chủ đầu tư, nhà thầu chưa nắm rõ quy định dẫn đến hồ sơ thanh toán không đúng quy định. Bên cạnh đó, tình trạng tham nhũng, lợi dụng kẽ hở pháp luật vẫn xảy ra, đòi hỏi KBNN huyện Nậm Pồ phải tăng cường giám sát, phối hợp chặt chẽ với cơ quan chức năng. Ngoài ra, việc thiếu minh bạch trong công tác quyết toán dự án cũng gây khó khăn trong công tác kiểm soát. KBNN huyện Nậm Pồ cần nâng cao năng lực cán bộ, ứng dụng công nghệ thông tin để cải thiện hiệu quả kiểm soát vốn đầu tư công.

III. Giải pháp nâng cao hiệu quả kiểm soát vốn đầu tư công

Để nâng cao hiệu quả kiểm soát vốn đầu tư công, KBNN huyện Nậm Pồ cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp như nâng cao năng lực cán bộ, ứng dụng công nghệ thông tin và tăng cường phối hợp liên ngành. KBNN huyện Nậm Pồ nên tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn cho cán bộ kiểm soát chi về quy định pháp luật, kỹ năng kiểm soát thanh toán. Bên cạnh đó, KBNN huyện Nậm Pồ cần đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, giám sát vốn đầu tư công. Giải pháp quan trọng khác là tăng cường phối hợp với chủ đầu tư, nhà thầu, cơ quan chức năng để đảm bảo tuân thủ quy định pháp luật. KBNN huyện Nậm Pồ cũng cần xây dựng cơ chế khen thưởng, kỷ luật rõ ràng nhằm nâng cao trách nhiệm của cán bộ kiểm soát. Ngoài ra, việc công khai minh bạch thông tin về vốn đầu tư công cũng góp phần nâng cao hiệu quả kiểm soát.

3.1. Nâng cao năng lực cán bộ kiểm soát chi

KBNN huyện Nậm Pồ cần tổ chức các khóa đào tạo, tập huấn chuyên sâu về quy định pháp luật, quy trình kiểm soát vốn đầu tư công cho cán bộ. Nội dung đào tạo bao gồm kỹ năng kiểm tra hồ sơ thanh toán, phát hiện sai phạm, xử lý vi phạm. KBNN huyện Nậm Pồ cũng nên khuyến khích cán bộ tham gia các hội thảo, diễn đàn chuyên ngành để cập nhật kiến thức mới. Bên cạnh đó, KBNN huyện Nậm Pồ cần xây dựng cơ chế đánh giá, khen thưởng cán bộ có thành tích xuất sắc trong công tác kiểm soát. Việc nâng cao năng lực cán bộ sẽ góp phần nâng cao hiệu quả kiểm soát vốn đầu tư công, ngăn chặn thất thoát, lãng phí.

3.2. Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý vốn

KBNN huyện Nậm Pồ nên triển khai hệ thống quản lý vốn đầu tư công bằng công nghệ thông tin nhằm nâng cao tính minh bạch, hiệu quả. Hệ thống này cho phép theo dõi, giám sát vốn đầu tư công theo thời gian thực, phát hiện sớm các sai phạm. KBNN huyện Nậm Pồ cũng cần xây dựng cơ sở dữ liệu liên thông giữa các cơ quan chức năng để chia sẻ thông tin, phối hợp xử lý vi phạm. Ngoài ra, việc ứng dụng công nghệ thông tin còn giúp đơn giản hóa thủ tục hành chính, rút ngắn thời gian giải ngân. KBNN huyện Nậm Pồ cần đầu tư trang thiết bị, phần mềm phù hợp để triển khai hệ thống quản lý vốn đầu tư công hiệu quả.

IV. Kết luận và khuyến nghị cho hoạt động kiểm soát vốn

Kiểm soát vốn đầu tư công qua KBNN huyện Nậm Pồ đóng vai trò quan trọng trong đảm bảo hiệu quả, minh bạch sử dụng nguồn vốn ngân sách. Qua phân tích thực trạng, KBNN huyện Nậm Pồ đã đạt được nhiều kết quả tích cực nhưng vẫn còn những hạn chế cần khắc phục. Để nâng cao hiệu quả kiểm soát, KBNN huyện Nậm Pồ cần tiếp tục nâng cao năng lực cán bộ, ứng dụng công nghệ thông tin và tăng cường phối hợp liên ngành. KBNN huyện Nậm Pồ cũng cần xây dựng cơ chế giám sát, đánh giá hiệu quả hoạt động kiểm soát vốn đầu tư công. Bên cạnh đó, việc công khai minh bạch thông tin về vốn đầu tư công sẽ góp phần nâng cao trách nhiệm giải trình của các bên liên quan. Kết quả nghiên cứu này có thể làm tài liệu tham khảo cho các huyện có điều kiện tương tự trong công tác quản lý vốn đầu tư công.

4.1. Đánh giá kết quả và hạn chế sau nghiên cứu

Nghiên cứu đã đánh giá toàn diện hoạt động kiểm soát vốn đầu tư công qua KBNN huyện Nậm Pồ giai đoạn 2014-2018. Kết quả cho thấy KBNN huyện Nậm Pồ đã đạt được nhiều thành tựu như giải ngân thành công 89% kế hoạch vốn, từ chối thanh toán 12,8 tỷ đồng do không đúng quy định. Tuy nhiên, hoạt động kiểm soát vẫn đối mặt với nhiều thách thức như thiếu cán bộ chuyên môn, trang thiết bị chưa đầy đủ, tình trạng tham nhũng vẫn xảy ra. KBNN huyện Nậm Pồ cần khắc phục những hạn chế này để nâng cao hiệu quả kiểm soát vốn đầu tư công. Nghiên cứu cũng chỉ ra những bài học kinh nghiệm quý báu cho các huyện có điều kiện tương tự.

4.2. Khuyến nghị chính sách và hướng nghiên cứu tiếp theo

KBNN huyện Nậm Pồ cần xây dựng chính sách khen thưởng, kỷ luật rõ ràng nhằm nâng cao trách nhiệm của cán bộ kiểm soát. KBNN huyện Nậm Pồ cũng nên đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý vốn đầu tư công. Bên cạnh đó, nghiên cứu đề xuất tiếp tục nghiên cứu về mô hình kiểm soát vốn đầu tư công tiên tiến, ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong giám sát. KBNN huyện Nậm Pồ cần phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng để xây dựng cơ chế giám sát, đánh giá hiệu quả hoạt động kiểm soát vốn đầu tư công. Kết quả nghiên cứu có thể làm tài liệu tham khảo cho các huyện có điều kiện tương tự trong công tác quản lý vốn đầu tư công.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

20/05/2026
Luận văn thạc sỹ kiểm soát vốn đầu tư công qua kho bạc nhà nước huyện nậm pồ tỉnh điện biên

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CỞ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ KIỂM SOÁT VỐN ĐẦU TƯ CÔNG QUA KHO BẠC NHÀ NƯỚC 1.1 Vốn đầu tư công 1.1 Khái niệm và đặc điểm của vốn đầu tư công a) Khái niệm Cho đến nay, chủ yếu vẫn có hai quan điểm khác nhau về đầu tư công, bởi đầu tư công là khái niệm có nội hàm rất khác nhau tùy theo góc nhìn của từng đối tượng. Quan điểm thứ nhất cho rằng, đầu tư công là toàn bộ nội dung liên quan đến đầu tư sử dụng vốn nhà nước, bao gồm hoạt động đầu tư hoặc hỗ trợ đầu tư sử dụng vốn nhà nước không nhằm mục đích thu lợi nhuận vào các chương trình, dự án phục vụ phát triển kinh tế - xã hội (gọi tắt là nhóm 1); các hoạt động đầu tư, kinh doanh sử dụng vốn nhà nước, đặc biệt là quản lý các hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước (gọi tắt là nhóm 2). Quan điểm thứ hai khẳng định, đầu tư công chỉ bao gồm các hoạt động đầu tư bằng vốn nhà nước cho các dự án, chương trình không vì mục tiêu thu lợi nhuận, tức là giới hạn trong phạm vi các hoạt động đầu tư thuộc nhóm 1. Dù cách hiểu, cách diễn đạt có những khác nhau, song điểm chung nhất là hoạt động đầu tư có nguồn vốn của nhà nước (từ ngân sách nhà nước, do nhà nước vay, nhà nước bảo lãnh khoản vay.

Hơn nữa, không thể loại bỏ việc đầu tư vốn nhà nước cho các hoạt động kinh doanh dưới hình thức cấp vốn, cho vay, bảo lãnh khoản vay cho các tập đoàn, tổng công ty nhà nước ra khỏi phạm vi đầu tư công để không bị luật điều chỉnh. Bởi vậy, để làm rõ và thống nhất khái niệm vốn đầu tư công trong luận văn này, chúng ta sẽ sử dụng một khái niệm thống nhất trên cơ sở tổng hợp các khái niệm khác nhau. Đến nay Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã chỉnh lý dự thảo theo hướng vốn đầu tư công quy định tại Luật Đầu tư công. Theo điều 4, Luật Đầu tư công năm 2014 quy định: 7 Đầu tư công là hoạt động đầu tư của Nhà nước vào các chương trình, dự án xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và đầu tư vào các chương trình, dự án phục vụ phát triển kinh tế - xã hội Hoạt động đầu tư công bao gồm lập, thẩm định, quyết định chủ trương đầu tư; lập, thẩm định, quyết định chương trình, dự án đầu tư công; lập, thẩm định, phê duyệt, giao, triển khai thực hiện kế hoạch đầu tư công; quản lý, sử dụng vốn đầu tư công; theo dõi và đánh giá, kiểm tra, thanh tra kế hoạch, chương trình, dự án đầu tư công.

Vốn đầu tư công: Là nguồn vốn được sử dụng cho các hoạt động đầu tư của Nhà nước vào xây dựng kết cấu hạ tầng, các chương trình, dự án phục vụ phát triển kinh tế xã hội, bao gồm: vốn NSNN, vốn công trái quốc gia, vốn trái phiếu chính phủ (TPCP), vốn trái phiếu chính quyền địa phương, vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài, vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước, vốn từ nguồn thu để lại cho đầu tư nhưng chưa đưa vào cân đối NSNN, các khoản vốn vay khác của ngân sách địa phương để đầu tư. b) Đặc điểm của vốn đầu tư công: Thứ nhất, vốn đầu tư công gắn với hoạt động của NSNN nói chung và hoạt động chi NSNN nói riêng, gắn với quản lý và sử dụng vốn đầu tư theo phân cấp về chi NSNN cho đầu tư phát triển. Do đó, việc hình thành, phân phối, quản lý sử dụng và thanh quyết toán nguồn vốn này được thực hiện chặt chẽ theo quy định của Luật Đầu tư công và các văn bản hướng dẫn hiện hành. Thứ hai, vốn đầu tư công được sử dụng để đầu tư cho nhiều lĩnh vực đầu tư công nên việc đánh giá hiệu quả sử dụng nguồn vốn mang tính toàn diện, trên cơ sở đánh giá tác động cả về kinh tế, xã hội và môi trường.

Thứ ba, vốn đầu tư công gắn với các quy trình đầu tư và dự án, chương trình đầu tư công, các chương trình mục tiêu, chương trình mục tiêu quốc gia rất chặt chẽ từ lúc chuẩn bị đầu tư, thiết kế quy hoạch, thực hiện dự án đến lúc kết thúc dự án, nghiệm thu và đưa vào sử dụng. Thứ tư, vốn đầu tư công gồm nhiều loại. Căn cứ nguồn hình thành, nội dung đầu tư, … mà có thể sử dụng nhiều cách phân loại vốn đầu tư công khác nhau. 8 Thứ năm, chủ thể sử dụng vốn đầu tư công bao gồm: các cơ quan Nhà nước và các tổ chức nước ngoài, nhưng trong đó đối tượng sử dụng nguồn vốn này chủ yếu vẫn là các cơ quan Nhà nước.2 Vai trò của vốn đầu tư công Trong nền kinh tế quốc dân, vốn đầu tư công có vai trò quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội.

Vai trò đó thể hiện trên các mặt sau: Một là, góp phần quan trọng vào việc xây dựng và phát triển cơ sở vật chất kĩ thuật, hình thành kết cấu hạ tầng chung. Thông qua việc duy trì và phát triển hoạt động đầu tư công, vốn đầu tư công góp phần quan trọng vào việc thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế, tái tạo và tăng cường năng lực sản xuất, tăng thu nhập quốc dân và tổng sản phẩm xã hội. Hai là, góp phần quan trọng vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, hình thành những ngành mới, tăng cường chuyên môn hóa và phân công lao động xã hội. Thông qua việc phát triển kết cấu hạ tầng để tạo môi trường thuận lợi, tạo sự lan tỏa đầu tư và phát triển kinh doanh, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.

Ba là, có vai trò quan trọng trong việc giải quyết các vấn đề xã hội như giảm nghèo, phát triển vùng sâu, vùng xa. Thông qua việc đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng, các cơ sở sản xuất kinh doanh và các công trình văn hóa xã hội góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập, cải thiện và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân ở nông thôn, vùng sâu vùng xa.3 Phân loại vốn đầu tư công * Căn cứ nguồn hình thành, có thể phân loại vốn đầu tư công thành: - Vốn ngân sách nhà nước, vốn công trái quốc gia, vốn trái phiếu Chính phủ. - Vốn trái phiếu chính quyền địa phương, vốn từ nguồn thu để lại cho đầu tư nhưng chưa đưa vào cân đối ngân sách nhà nước, các khoản vốn vay khác của ngân sách địa phương để đầu tư. - Vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước.

* Căn cứ vào lĩnh vực đầu tư công bao gồm: - Vốn đầu tư cho các chương trình, dự án kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội. 9 - Vốn đầu tư phục vụ hoạt động của cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội. - Vốn đầu tư và hỗ trợ hoạt động cung cấp sản phẩm, dịch vụ công ích. - Vốn đầu tư của Nhà nước tham gia thực hiện dự án theo hình thức đối tác công tư (PPP) * Căn cứ vào tiêu thức phân bổ vốn, có thể phân loại thành: - Vốn đầu tư theo ngành, lĩnh vực.

- Vốn đầu tư theo chương trình mục tiêu. - Vốn đầu tư theo chương trình mục tiêu quốc gia. - Vốn trả nợ khối lượng, … * Căn cứ vào giai đoạn thực hiện chương trình, dự án, ta có: - Vốn thiết kế quy hoạch. - Vốn chuẩn bị đầu tư, giải phóng mặt bằng.

- Vốn chuẩn bị thực hiện dự án - Vốn thực hiện dự án * Căn cứ vào cơ chế quản lý từng chương trình, dự án, ta có: - Vốn đầu tư cho các công trình an ninh quốc phòng. - Vốn đầu tư cho các công trình theo cơ chế đặc thù. - Vốn đầu tư công trình khẩn cấp. - Vốn đầu tư công trình tạm,… 1.2 Kiểm soát vốn đầu tư công qua kho bạc nhà nước (KBNN) 1.1 Khái niệm, mục tiêu và nguyên tắc kiểm soát vốn đầu tư công qua KBNN 1.1 Khái niệm kiểm soát vốn đầu tư công qua KBNN Kiểm soát là một chức năng của quản lý nhà nước (QLNN) về kinh tế.

Kiểm soát vốn đầu tư công qua KBNN là một nội dung, một yếu tố của chức năng trên, do đó trước hết cần bắt đầu từ khái niệm kiểm soát trong quản lý nhà nước về kinh tế. Giáo trình QLNN về kinh tế của trường Đại học Kinh tế Quốc dân (2009, NXB Giáo dục) định nghĩa: “Kiếm soát trong QLNN về kinh tế là tổng thể những hoạt động của Nhà nước để phát hiện, phòng ngừa và xử lý những sai sót, những khó khăn cũng như những cơ hội phát triển kinh tế nhằm bảo đảm cho các hoạt 10 động trong nền kinh tế kinh tế tuân thủ đúng luật pháp, định hướng kế hoạch và hiệu quả” Kiểm soát vốn đầu tư công qua KBNN là việc kiểm tra, xem xét các căn cứ, điều kiện cần và đủ theo quy định của Nhà nước để xuất quỹ NSNN chi trả theo yêu cầu của chủ đầu tư về các khoản kinh phí thực hiện chương trình, dự án công, bảo đảm cho vốn đầu tư công được giải ngân đúng chính sách nhà nước và các quy định của pháp luật, bảo đảm sử dụng vốn hiệu quả. Các yếu tố cơ bản của khái niệm nêu trên khẳng định: - Chủ thể kiểm soát ở đây là KBNN. Hệ thống KBNN được tổ chức theo mô hình tản quyền và hoạt động theo nguyên tắc ngành dọc từ KBNN trung ương, KBNN tỉnh cho đến KBNN huyện.

Trong đó KBNN huyện trực thuộc KBNN tỉnh; KBNN tỉnh trực thuộc KBNN trung ương. - Đối tượng kiểm soát: vốn đầu tư công. - Mục đích của kiểm soát: bảo đảm tính hiệu lực và hiệu quả trong sử dụng vốn đầu tư công. - Phương thức kiểm soát: Nội dung kiểm soát vốn đầu tư công qua KBNN từng cấp được xác định theo thẩm quyền do pháp luật quy định.

Công cụ kiểm soát đó là: bộ máy tổ chức, văn bản pháp luật, các chế độ, định mức do Nhà nước quy định, các nguyên tắc, quy trình và hình thức kiểm soát.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ