CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP TỪ NƯỚC NGOÀI (FDI) 1. Khái niệm và đặc điểm đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI) 1. Khái niệm đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI) Trong bài nghiên cứu này, ta cần làm rõ hai khái niệm “đầu tư nước ngoài” và “đầu tư trực tiếp”. Đứng trên góc độ của toàn nền kinh tế, vốn đầu tư bao gồm nguồn vốn đầu tư trong nước và nguồn vốn đầu tư nước ngoài.
Khái niệm “Đầu tư nước ngoài” lần đầu tiên được đề cập đến trong các giáo trình tư pháp và kinh tế quốc tế, trước tiên là ở Pháp năm 1955, sau đó được sử dụng trong các cuộc hội thảo bàn về hợp tác kinh tế thế giới và chính thức đi vào các hiệp định, Luật về đầu tư. Tuy nhiên, những khái niệm này cũng không ngừng được bổ sung, chỉnh lý cho sát với thực tế hơn. Theo Luật Đầu tư năm 2014, đầu tư nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt động đầu tư. Mặt khác, nếu phân loại đầu tư theo quan hệ quản lý của chủ đầu tư, vốn đầu tư bao gồm “đầu tư trực tiếp” và “đầu tư gián tiếp”.
Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư. Theo đó, ta có thể kết hợp hai khái niệm trên để đưa ra định nghĩa về “đầu tư trực tiếp từ nước ngoài”. Ta có thể tìm hiểu một số khái niệm về hình thức đầu tư này trên quan điểm của các tổ chức trên thế giới như sau. Theo Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF): “FDI là đầu tư có lợi ích lâu dài của một doanh nghiệp tại một nước khác (nước nhận đầu tư) không phải nước mà doanh nghiệp đang hoạt động (nước đi đầu tư) với mục đích quản lý một cách có hiệu quả doanh nghiệp”.
Hội nghị Liên Hợp Quốc về thương mại và phát triển (UNCTAD) cũng đưa ra một khái niệm về FDI. Theo đó, luồng vốn FDI bao gồm vốn được cung cấp (trực tiếp hoặc thông qua các công ty liên quan khác) bởi nhà đầu tư trực tiếp từ nước ngoài cho các doanh nghiệp FDI, hoặc vốn mà nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài nhận được từ doanh nghiệp FDI. Cụ thể, FDI gồm 3 bộ phận: vốn cổ phần, thu nhập tái đầu tư và các khoản vay trong nội bộ công ty. 5 Trong khi đó, Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam đầu tiên năm 1987 đã đưa ra khái niệm “Đầu tư trực tiếp từ nước ngoài là việc tổ chức, cá nhân nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền nước ngoài hoặc bất kỳ tài sản nào được Chính phủ Việt Nam chấp thuận để hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hoặc thành lập xí nghiệp liên doanh hoặc doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài theo quy định của luật này”.
Các tài sản này có thể là thiết bị, máy móc, nhà xưởng, công trình xây dựng hoặc giá trị quyền sở hữu công nghiệp, bí quyết kĩ thuật, quy trình công nghệ, dịch vụ kỹ thuật. Như vậy, FDI, xét theo định nghĩa pháp lý của Việt Nam, là hoạt động bỏ vốn đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài vào lãnh thổ Việt Nam với điều kiện họ phải tham gia quản lý hoạt động đầu tư đó. Tuy nhiên, khái niệm nêu trong Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam chủ yếu đề cập đến xuất xứ của nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, không đề cập trực tiếp hai vấn đề cốt lõi của FDI là quyền kiểm soát và lợi ích khống chế. Từ những quan niệm trên, FDI có thể được hiểu là sự di chuyển vốn quốc tế dưới hình thức vốn sản xuất thông qua việc nhà đầu tư ở một nước đưa vốn vào một nước khác để đầu tư, đồng thời trực tiếp tham gia quản lý, điều hành, tổ chức sản xuất, tận dụng ưu thế về vốn, trình độ công nghệ hay kinh nghiệm quản lý nhằm mục đích thu lợi nhuận.
Đặc điểm của đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI) Thứ nhất, FDI gắn liền với việc di chuyển tiền và tài sản giữa các quốc gia. FDI làm tăng lượng tiền và tài sản của nền kinh tế nước nhận đầu tư, làm giảm lượng tiền và tài sản của nước đi đầu tư. Tài sản ở đây bao gồm tài sản hữu hình (máy móc, thiết bị, công nghệ, nguyên vật liệu…), tài sản vô hình (sáng chế, nhãn hiêụ, bí quyết kỹ thuật, kinh nghiệm và kỹ năng quản lý). FDI không chỉ di chuyển vốn thuần túy, mà còn bao gồm chuyển giao công nghệ, cơ chế bảo hộ quyền sở hữu của nhà đầu tư về các đối tượng sở hữu.
Thứ hai, FDI được tiến hành thông qua thành lập các doanh nghiệp mới, mua lại các chi nhánh, doanh nghiệp hiện có, hoặc tiến hành các hoạt động hợp 6 nhất và chuyển nhượng doanh nghiệp. Điều đó cho thấy hoạt động FDI có thể diễn ra theo nhiều hình thức và phương thức đa dạng. Một nước có thể khai thác tính đa dạng của các hình thức và phương thức đầu tư để tăng cường thu hút vốn FDI từ nước ngoài. Việc thành lập và phát triển các thị trường tài chính, đặc biệt là thị trường chứng khoán là điều kiện thúc đẩy sự gia tăng nhanh chóng dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Thứ ba, FDI là người chủ sở hữu hoàn toàn ( sở hữu 100% vốn đầu tư) hoặc đồng chủ sở hữu vốn với một tỷ lệ nhất định đủ mức khống chế và trực tiếp tham gia quản lý hoạt động của doanh nghiệp. Tỷ lệ sở hữu vốn được khống chế từ 10% trở lên trong tổng số vốn của doanh nghiệp theo luật pháp từng nước quy định. Đây là yếu tố quyết định đến tính chất trực tiếp của nhà đầu tư nước ngoài trong việc đưa ra các quyết định đầu tư và quản trị doanh nghiệp. Việc bảo đảm tỷ lệ sở hữu ở mức khống chế còn là cơ sở để các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trở thành những chi nhánh của các công ty của nước đầu tư.
Đây là yếu tố làm tăng tính chất toàn cầu của mạng lưới các công ty đi đầu tư và tạo cơ sở để các công ty đó thực hiện hoạt động chu chuyển vốn, hàng hóa trong nội bộ công ty, tránh được hàng rào thuế quan, tiết kiệm chi phí giao dịch. Thứ tư, FDI chủ yếu là hoạt động đầu tư của tư nhân với mục tiêu cơ bản thu lợi nhuận ( trừ một số doanh nghiệp nhà nước và một ít đầu tư của chính phủ). Hoạt động FDI diễn ra khi có thị trường đầu tư có khả năng tạo lợi nhuận cao, nghĩa là có chênh lệch về tỷ suất lợi nhuận cao, nghĩa là có chênh lệch về tỷ suất lợi nhuận đầu tư do tính quy luật cân bằng giữa cung và cầu về vốn đầu tư và chi phí. Điều này phân biệt FDI và ODA.
Các khoản ODA của các chính phủ gắn với những cam kết và rằng buộc chặt chẽ giữa các nước viện trợ và nước nhận viện trợ, chịu sự chi phối đáng kể bởi quan hệ chính trị giữa hai nước. Thứ năm, FDI bảo đảm cho nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài tham gia kiểm soát, điều hành quá trình đầu tư và kinh doanh của doanh nghiệp. Việc điều hành và trực tiếp ra quyết định đầu tư là điều kiện để nhà đầu tư thực hiện được chiến 7 lựơc kinh doanh của họ một cách chủ động và tối ưu. Tuy nhiên, trên thực tế thường nảy sinh khoảng lệch giữa mục tiêu thu hút vốn đầu tư của chính phủ với chiến lược kinh doanh của nhà đầu tư, vì trong một số trường hợp, mục tiêu của chính phủ không phù hợp với chiến lược kinh doanh của nhà đầu tư.
Đặc trưng này đòi hỏi chính phủ tiếp nhận đầu tư chủ động quy hoạch phát triển các ngành, các vùng và có các chính sách hấp dẫn phù hợp với từng ngành, lĩnh vực để thu hút FDI. Cuối cùng, đầu tư nước ngoài chủ yếu do các công ty xuyên quốc gia (TNCs) thực hiện. Đây là những tập đoàn có hệ thống các chi nhánh sản xuất ở nước ngoài, có tiềm lực lớn về vốn, công nghệ các nhãn hiệu sản phẩm có uy tín có danh tiếng lớn trên toàn cầu, đội ngũ các nhà quản lý có trình độ cao, có khả năng điều hành các hoạt động sản xuất phân phối trên toàn cầu, có năng lực cạnh tranh cao. Các nước đang phát triển và các doanh nghiệp của họ có thể tiếp cận từ các TNCs thông qua hoạt động đầu tư trực tiếp để thu hút nguồn vốn lớn, công nghệ nguồn, đội ngũ cán bộ quản lý có trình độ chuyên môn cao, cải thiện năng lực cạnh tranh và năng động hóa các quan hệ giao dịch.
Các công ty đa quốc gia thường thuộc các nước công nghiệp phát triển, do đó dòng vốn đầu tư trực tiếp ban đầu xuất phát từ các nước công nghiệp và tạo nên những xu hướng chính trong hoạt động FDI. Các hình thức đầu tư trực tiếp từ nước ngoài 1. Phân loại theo quy định của các Tổ chức quốc tế Theo các tổ chức quốc tế như WTO, IMF, OECD, các hình thức FDI có thể xem xét từ góc độ mục đích gồm như đầu tư mới và M&A, đầu tư theo chiều ngang, chiều dọc, hoặc xem xét từ động cơ FDI là tìm kiếm nguồn lực, thị trường, hiệu quả và tài sản chiến lược trong đó FDI tìm kiếm hiệu quả được sự quan tâm lớn nhất do tác động lớn nhất đến tăng trưởng kinh tế. (1) Xét theo mục đích đầu tư, FDI được chia thành 4 loại chính: - Đầu tư mới (Greenfield Investment): Nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoài được sử dụng để xây dựng các doanh nghiệp mới hoặc phát triển thêm các doanh nghiệp có sẵn trong nước.
Đây là phương thức các quốc gia nhận FDI thích nhất vì 8 tạo thêm được công ăn việc làm cho người trong nước, nâng cao sản lượng chuyển giao kỹ thuật cao cấp, đồng thời tạo được mối liên hệ với thị trường thế giới. - Mua lại và sáp nhập (Merger and Acquisition): là hình thức FDI trong đó hai hay nhiều doanh nghiệp có vốn FDI đang hoạt động sáp nhập vào nhau hoặc một doanh nghiệp này (có thể đang hoạt động ở nước nhận đầu tư hay ở nước ngoài) mua lại một doanh nghiệp có vốn FDI ở nước nhận đầu tư. Hình thức này không nhất thiết dẫn tới tăng khối lượng đầu tư vào.