Chương 1: Một số lý luận về đầu tư trực tiếp nước ngoài vào du lịch của một địa phương Chương 2: Thực trạng đầu tư trực tiếp nước ngoài vào du lịch tỉnh Quảng Ninh Chương 3: Định hướng và một số giải pháp nhằm tăng cường đầu tư trực tiếp nước ngoài vào du lịch tỉnh Quảng Ninh. 6 CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI VÀO DU LỊCH CỦA MỘT ĐỊA PHƢƠNG 1. Khái niệm và đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài vào du lịch 1. Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài 1.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là một phương thức thâm nhập thị trường nước ngoài với sự kiểm soát cao. Công ty đầu tư vốn cổ phần hoặc vốn vào các quốc gia khác nhằm mục đích xây dựng hoặc mua lại các nhà máy sản xuất, các công ty con, văn phòng bán hàng hoặc các cơ sở cần thiết khác. Quyền sở hữu ở nước ngoài về các cơ sở nhà xưởng cho phép công ty duy trì sự hiện diện của mình và bảo đảm sự kết nối trực tiếp với khách hàng và đối tác.Về phương diện này, FDI là một dạng vốn cổ phần hay quyền sở hữu của việc thâm nhập vào thị trường nước ngoài.Việc hiện diện ở nước sở tại là rất cấp bách khi mà các hoạt động chuỗi giá trị quan trọng phải được tiến hành trên thị trường.Đầu tư trực tiếp nước ngoài là phương thức thâm nhập có liên quan chặt chẽ nhất với doanh nghiệp đa quốc gia.” Theo tổ chức Thương mại Thế giới, đầu tư trực tiếp nước ngoài xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó.Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác.Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh. Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay được gọi là "công ty mẹ" và các tài sản được gọi là "công ty con" hay "chi nhánh công ty".
Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài “Trong kinh tế học cổ điển, David Ricardo phân biệt tư bản cố định với tư bản để quay vòng.Đối với một doanh nghiệp, chúng đều là tư bản hoặc vốn.” “Karl Marx bổ sung một sự phân biệt mà thường bị lẫn với khái niệm của 7 Ricardo. Trong học thuyết kinh tế chính trị của Marx, tư bản lưu động là khoản đầu tư của nhà tư bản vào lực lượng sản xuất, là nguồn tạo ra giá trị thặng dư.Nó được coi là “lưu động” vì lượng giá trị mà nó tạo ra khác với lượng giá trị nó tiêu dùng, có nghĩa là tạo ra giá trị mới. Nói một cách khác, tư bản cố định là khoản đầu tư vào yếu tố sản xuất không phải con người như máy móc, nhà xưởng, những tư bản, mà theo Marx, chỉ tạo ra lượng giá trị để thay thế chính bản thân chúng. Nó được coi là cố định theo nghĩa giá trị đầu tư ban đầu và giá trị thu hồi ở dạng các hàng hóa do chúng tạo ra là không đổi.” -“Đầu tư và tích tụ tư bản trong kinh tế học cổ điển là việc tạo ra tư bản mới.Để khởi động quá trình đầu tư, hàng hóa phải được tạo ra nhưng không để tiêu dùng ngay, thay vào đó, chúng trở thành công cụ sản xuất để tạo ra hàng hóa khác.Đầu tư liên quan chặt chẽ với tiết kiệm, nhưng không phải là một.
Theo Keynes, tiết kiệm là không sử dụng ngay thu nhập vào hàng hóa hoặc dịch vụ, trong khi đó đầu tư là việc tiêu dùng khoản tiết kiệm đó vào những hàng hóa vốn.” -“Nhà kinh tế học Áo Eugen von Bohm-Bawerk cho rằng tích tụ tư bản được xác định bằng quá trình tái đầu tư tư bản. Bởi tư bản theo định nghĩa của ông là hàng hóa có thứ bậc cao, hoặc hàng hóa để tạo ra hàng hóa khác và thu hồi giá trị của chúng từ hàng hóa được tạo ra trong tương lai. Du lịch Ngày nay,“du lịch đã trở thành một hiện tượng kinh tế xã hội phổ biến không chỉ ở các nước phát triển mà còn ở cả các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam.Tuy nhiên, không chỉ ở nước ra mà cả nhiều nước trên thế giới cũng chưa thống nhất.Về khái niệm và nội dung đó có rất nhiều định nghĩa khác nhau về du lịch.” Theo Tổ chức du lịch thế giới (WTO): “ Du lịch bao gồm tất cả những hoạt động của một cá nhân đi đến và lưu lại không quá 12 tháng với mục đích kiếm tiền thường xuyên”. Theo Michel Coltmant: “Du lịch là mối quan hệ tương tác giữa bốn nhóm nhân tố: khách du lịch, các tổ chức cung ứng du lịch, chính quyền nơi đến du lịch, 8 dân cư tại nơi du lịch để thống nhất hoạt động du lịch nhằm mục đích nâng cao chất lượng cuộc sống của con người”.
Tuyên bố LaHay về du lịch viết: “ Du lịch là hoạt động tất yếu của con người và của xã hội hiện đại. Bởi lẽ du lịch đã trở thành một hình thức quan trọng trong việc sử dụng thời gian nhàn rỗi của con người, đồng thời là phương tiện giao lưu trong mối quan hệ giữa con người với con người”. Qua các định nghĩa về du lịch nêu trên ta nhận thấy nổi lên một số điểm chủ yếu: - Hoạt“động du lịch của con người ở ngoài nơi làm việc thường xuyên của họ. - Hoạt động vận chuyển hầu như trong tất cả mọi trường hợp đi du lịch đều có sự tham gia của một phương tiện giao thông nào đó.
Ngành du lịch là ngành cung cấp các dịch vụ về lữ hành, vận chuyển, lưu trú, ăn uống, vui chơi giải trí, thông tin, hướng dẫn và các dịch vụ khác nhằm đáp ứng nhu cầu của khách du lịch. Ngành kinh doanh du lịch có những đặc điểm chung của dịch vụ: Sản phẩm du lịch chủ yếu thỏa mãn nhu cầu thứ yếu cao cấp của du khách. Nhu cầu du lịch chỉ được đặt ra khi người ta có thời gian nhàn rỗi, có thu nhập cao. Nguời ta sẽ đi du lịch nhiều hơn nếu thu nhập tăng và ngược lại sẽ họ cắt giảm nếu thu nhập bị giảm xuống gồm các đặc điểm của dịch vụ đó là:” - Tính chất vô hình của dịch vụ: Sản phẩm du lịch về cơ bản là vô hình (không cụ thể).
Thực ra nó là một kinh nghiệm du lịch hơn là một món hàng cụ thể.Mặc dù trong cấu thành sản phẩm du lịch có hàng hóa. Tuy nhiên sản phẩm du lịch là không cụ thể nên dễ dàng bị sao chép, bắt chước (những chương trình du lịch, cách trang trí phòng đón tiếp…). Việc làm khác biệt hóa sản phẩm mang tính cạnh tranh khó khăn hơn trong kinh doanh hàng hóa. - Tính chất đúng thời điểm và không thể dự trữ, không thoả mãn hai điều kiện này dịch vụ trở nên không có giá trị.
- Phụ thuộc vào nhiều yếu tố: Không gian, thời gian, trạng thái tâm lý, hoàn cảnh của các bên tham gia. nên chất lượng dịch vụ mang tính chất không đồng đều. 9 - Do tính“chất không thể dự trữ và không đồng đều nên gặp khó khăn trong việc tiêu chuẩn hoá dịch vụ. Tuy nhiên vẫn có thể xác định được một mức độ phục vụ nhất định nào đó bởi vì„sản phẩm du lịch chủ yếu là dịch vụ như dịch vụ vận chuyển, dịch vụ lưu trú, dịch vụ ăn uống….Do đó về cơ bản sản phẩm du lịch không thể tồn kho, dự trữ được và rất dễ hỏng.
Ngoài ra sản phẩm du lịch còn có một đặc điểm khác: Sản phẩm du lịch do nhiều nhà tham gia cung ứng; Việc tiêu dùng sản phẩm du lịch mang tính thời vụ; Sản phẩm du lịch nằm ở xa nơi cư trú của khách du lịch.” - Dịch vụ không thể tồn tại độc lập mà gắn liền với người tạo dịch vụ. Khác với hàng hoá, dịch vụ là sự gắn chặt song hành giữa dịch vụ với người tạo ra dịch vụ. Đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài vào du lịch 1. Bổ sung cho nguồn vốn trong nước Nguồn“vốn để phát triển kinh tế có thể được huy động ở trong nước hoặc từ nước ngoài, tuy nhiên nguồn vốn trong nước thường có hạn, nhất là đối với những nước đang phát triển như Việt Nam (có tỷ lệ tích luỹ thấp, nhu cầu đầu tư cao nên cần có một số vốn lớn để phát triển kinh tế).
Vì vậy, nguồn vốn đầu tư nước ngoài ngày càng giữ vai trò quan trọng đối với sự phát triển của mỗi quốc gia. Hoạt động đầu tư nước ngoài là kênh huy động vốn lớn cho phát triển kinh tế, trên cả giác độ vĩ mô và vi mô. Trên giác độ vĩ mô, FDI tác động đến quá trình tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phúc lợi xã hội cho con người, là ba khía cạnh để đánh giá sự phát triển kinh tế của một quốc gia. Trên giác độ vi mô, FDI có tác động mạnh mẽ đến năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước, vấn đề lưu chuyển lao động giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước.
Đầu tư nước ngoài là nhân tố quan trọng và khẳng định rõ vai trò của mình trong việc đóng góp vào sự phát triển kinh tế của Việt Nam. FDI có vai trò trực tiếp thúc đẩy sản xuất, bổ sung vốn trong nước, tiếp thu công nghệ và bí quyết quản lý, tham gia mạng lưới sản xuất toàn cầu, tăng số lượng việc làm và đào tạo nhân công, tăng nguồn thu cho ngân sách.” 10 FDI nói“chung và FDI du lịch nói riêng là đầu tư tư nhân với mục đích hàng đầu là tìm kiếm lợi nhuận của các nước nhận đầu tư, nhất là các nước đang phát triển cần lưu ý điều này khi tiến hành thu hút FDI, phải xây dựng cho mình hành lang pháp lý đủ mạnh và các chính sách thu hút FDI hợp lý để hướng FDI vào phục vụ cho các mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội của nước mình, tránh tình trạng FDI chỉ phục vụ cho mục đích tìm kiếm lợi nhuận của các chủ đầu tư. Tiếp thu công nghệ và bí quyết quản lý FDI du lịch thường kèm theo chuyển giao công nghệ cho các nước tiếp nhận đầu tư. Tiếp“thu công nghệ là việc ứng dụng và phát triển các dụng cụ, máy móc, nguyên liệu và quy trình để giúp đỡ giải quyết những vấn đề của con người.
Với tư cách là hoạt động con người, công nghệ diễn ra trước khi có khoa học và kỹ nghệ.