phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng: Chƣơng 1: Điều kiện thu hút đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài (FDI) ở thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh Chƣơng 2: Tình hình đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài (FDI) ở thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 1990 - 2014 Chƣơng 3: Kinh tế - xã hội thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh dƣới tác động của đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài (FDI). Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 9 http://www.vn Chƣơng 1 ĐIỀU KIỆN THU HÚT ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI Ở THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH 1. Một số khái niệm Đầu tƣ là việc nhà đầu tƣ bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tƣ theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan [28, tr. Đầu tƣ trực tiếp là hình thức đầu tƣ do nhà đầu tƣ bỏ vốn đầu tƣ và tham gia quản lý hoạt động đầu tƣ [28, tr.
Đầu tƣ nƣớc ngoài là việc nhà đầu tƣ nƣớc ngoài đƣa vào Việt Nam vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt động đầu tƣ [28, tr. Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài (Foreign Direct Investment - FDI), có nhiều khái niệm khác nhau. Khái niệm của Quỹ Tiền tệ Thế giới (IMF) cho rằng FDI là một hoạt động đầu tƣ đƣợc thực hiện nhằm đạt đƣợc những lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động trên lãnh thổ của một nền kinh tế khác nền kinh tế nƣớc chủ đầu tƣ, mục đích của chủ đầu tƣ là giành quyền quản lý thực sự doanh nghiệp [25, tr. Khái niệm của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD): Đầu tƣ trực tiếp là hoạt động đầu tƣ đƣợc thực hiện nhằm thiết lập các mối quan hệ kinh tế lâu dài với một doanh nghiệp đặc biệt là những khoản đầu tƣ mang lại khả năng tạo ảnh hƣởng đối với việc quản lý doanh nghiệp nói trên bằng cách: Thành lập hoặc mở rộng một doanh nghiệp hoặc một chi nhánh thuộc toàn quyền quản lý của chủ đầu tƣ.
Mua lại toàn bộ doanh nghiệp đã có. Tham gia vào một doanh nghiệp mới. Cấp tín dụng dài hạn (> 5 năm). Quyền kiểm soát: nắm từ 10% cổ phiếu thƣờng hoặc quyền biểu quyết trở lên.
Theo định nghĩa của Chính phủ Mỹ, ngoài những nội dung tƣơng tự khái niệm FDI của IMF và OECD, FDI còn gắn với “quyền sở hữu hoặc kiểm soát 10% hoặc hơn thế các chứng khoán kèm quyền biểu quyết của một doanh Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 10 http://www.vn nghiệp, hoặc lợi ích tƣơng đƣơng trong các đơn vị kinh doanh không có tƣ cách pháp nhân"…[25, tr. Theo Luật Đầu tƣ nƣớc ngoài tại Việt Nam năm 2000 (Điều 2, khoản 1), đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài (Foreign Direct Investment - FDI)là việc nhà đầu tƣ nƣớc ngoài đƣa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành hoạt động đầu tƣ. Trong giáo trình Kinh tế Đầu, PGS.TS Nguyễn Bạch Nguyệt định nghĩa: “FDI là hình thức đầu tư do nhà đầu nước ngoài bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư ở Việt Nam hoặc nhà đầu tư Việt Nam bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư ở nước ngoài theo quy định của luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan”. FDI chỉ ra rằng chủ đầu tƣ phải có một mức độ ảnh hƣởng đáng kế đối với việc quản lý doanh nghiệp cƣ trú ở một nền kinh tế khác.
Tiếng nói hiệu quả trong quản lý phải đi kèm với một mức sở hữu cổ phần nhất định thì mới đƣợc coi là FDI [23, tr. Theo quy định của Quốc tế, có hai hình thức chủ yếu là Đầu tƣ mới (Greenfield Investment (GI)) và Mua lại và sáp nhập qua biên giới (Cross- border Merger and Acquisition (M&A)), ngoài ra còn có hình thức Brownfield Investment (Mua lại thƣơng hiệu). Đầu tƣ mới là hoạt động đầu tƣ trực tiếp vào các cơ sở sản xuất kinh doanh hoàn toàn mới ở nƣớc ngoài, hoặc mở rộng một cơ sở sản xuất kinh doanh đã tồn tại. Mua lại và sáp nhập qua biên Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 11 http://www.vn giới (M&A: Cross-border Merger and Acquisition) là một hình thức FDI liên quan đến việc mua lại hoặc hợp nhất với một doanh nghiệp nƣớc ngoài đang hoạt động.
Theo Luật đầu tƣ năm 2005 của Việt Nam, hình thức FDI tại Việt Nam nhƣ sau (Điều 21) là sự thành lập tổ chức kinh tế 100% vốn của nhà đầu tƣ nƣớc ngoài; thành lập tổ chức kinh tế liên doanh giữa các nhà đầu tƣ trong nƣớc và nhà đầu tƣ nƣớc ngoài; đầu tƣ theo hình thức hợp đồng BCC, hợp đồng BOT, hợp đồng BTO, hợp đồng BT. Đầu tƣ phát triển kinh doanh; mua cổ phần hoặc góp vốn để tham gia quản lý hoạt động đầu tƣ; đầu tƣ thực hiện việc sáp nhập và mua lại doanh nghiệp; các hình thức đầu tƣ trực tiếp khác. Các nƣớc đang phát triển xem vốn FDI là một trong những nguồn vốn đầu tƣ quan trọng góp phần bù đắp cho sự thiếu hụt vốn đầu tƣ trong nƣớc thay vì trƣớc đây thƣờng xem nguồn vốn này nhƣ một sự khai thác bóc lột của tƣ bản nƣớc ngoài. Khi thu hút vốn FDI vào một vùng nào đó, một địa phƣơng nào đó trong quốc gia, tác động tích cực của dòng vốn này thể hiện ở những mặt cụ thể nhƣ: FDI đem đến những nguồn lực bổ sung quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội, trong đó phải kể đến ba nguồn lực cơ bản nhất là vốn, công nghệ và kinh nghiệm quản lý.
FDI góp phần vào sự tăng trƣởng kinh tế; Thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hƣớng CNH - HĐH. Các dự án FDI góp phần tạo thêm việc làm, tăng thu nhập cho ngƣời lao động và tăng chất lƣợng nguồn nhân lực. FDI còn góp phần quan trọng vào việc thúc đẩy xuất nhập khẩu hàng hóa và tiếp cận với thị trƣờng thế giới. Đây là những tác động rất tích cực đến ổn định tình hình chính trị - xã hội, thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế của nƣớc tiếp nhận đầu tƣ.
Dòng vốn này cũng đồng thời thể hiện những mặt tích cực đối với nhà đầu tƣ, cụ thể là: Giúp nhà đầu tƣ thâm nhập thị trƣờng có tỷ suất lợi nhuận cao hơn. Nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm trên trƣờng quốc tế. Tránh đƣợc hàng rào thƣơng mại. Giúp các chủ đầu Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 12 http://www.vn tƣ phân tán đƣợc rủi ro khi tình hình kinh tế, chính trị trong nƣớc bất ổn định.
Góp phần làm tăng lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh ở nƣớc ngoài đem về. Góp phần quảng bá và mở rộng tầm ảnh hƣởng của thƣơng hiệu, sản phẩm, hình ảnh của doanh nghiệp. Điều kiện thu hút đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài (FDI) ở Hạ Long 1. Điều kiện tự nhiên Thành phố Hạ Long nằm ở trung tâm của tỉnh Quảng Ninh, có diện tích đất là 27.03 ha, có quốc lộ 18A chạy qua tạo thành chiều dài của Thành phố, có cảng biển, có bờ biển dài 50km, có vịnh Hạ Long 2 lần đƣợc UNESCO công nhận là Di sản thế giới với diện tích 434km2.
Phía đông Hạ Long giáp thành phố Cẩm Phả, phía tây giáp thị xã Quảng Yên, phía bắc giáp huyện Hoành Bồ, phía nam là vịnh Hạ Long. Thành phố nằm dọc theo bờ Vịnh Hạ Long với chiều dài 50 km, cách Hà Nội 165 km về phía Tây, Hải Phòng 60 km về phía Tây Nam, cửa khẩu Móng Cái 184 km về phía Đông Bắc, phía nam thông ra Biển Đông. Hạ Long có vị trí chiến lƣợc về phát triển kinh tế, an ninh quốc phòng của khu vực và quốc gia [52]. Thành phố Hạ Long là thành phố lớn thứ hai ở miền Bắc (sau Hải Phòng), nằm giữa thủ đô Hà Nội và cửa khẩu quốc tế Móng Cái, có vị trí giao thƣơng vô cùng thuận lợi với các điểm du lịch hấp dẫn trong vùng, có điều kiện tiếp cận các nguồn khách lớn ở trong nƣớc và ngoài nƣớc qua đƣờng bộ và đặc biệt qua đƣờng biển.
Hạ Long cũng là điểm tập kết và trung chuyển cho các khách đi du lịch trong Tỉnh tới Trà Cổ - Móng Cái, tới Vân Đồn - Cô Tô, tới Yên Hƣng - Uông Bí - Đông Triều, tới các điểm lƣu trú trên vịnh Hạ Long và vịnh Bái Tử Long, tới các vùng du lịch ở Hải Phòng, Hà Nội và các tỉnh thành khác trong cả nƣớc. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 13 http://www.vn Thành phố Hạ Long có địa hình đa dạng và phức tạp, là một trong những khu vực hình thành lâu đời nhất trên lãnh thổ Việt Nam, bao gồm cả đồi núi, thung lũng, vùng ven biển và hải đảo, đƣợc chia thành 3 vùng rõ rệt: Vùng đồi núi bao bọc phía bắc và đông bắc (phía bắc quốc lộ 18A) chiếm 70% diện tích đất của Thành phố, có độ cao trung bình từ 150m đến 250m, chạy dài từ Yên Lập đến Hà Tu, đỉnh cao nhất là 504m. Dải đồi núi này thấp dần về phía biển, độ dốc trung bình từ 15-20%, xen giữa là các thung lũng nhỏ hẹp. Vùng ven biển ở phía nam quốc lộ 18A, độ cao trung bình từ 0.
Vùng hải đảo là toàn bộ vùng vịnh, với gần hòn đảo lớn nhỏ, chủ yếu là đảo đá. Riêng đảo Tuần Châu, rộng trên 400ha nay đã có đƣờng nối với quốc lộ 18A dài khoảng 2km. Qua khảo sát địa chất cho thấy, kết cấu địa chất của thành phố Hạ Long chủ yếu là đất sỏi sạn, cuội sỏi, cát kết, cát sét… ổn định và có cƣờng độ chịu tải cao, từ 2.5 kg/cm2, thuận lợi cho việc xây dựng các công trình. Thành phố Hạ Long thuộc khí hậu vùng ven biển, mỗi năm có 2 mùa rõ rệt, mùa đông từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, mùa hè từ tháng 5 đến tháng 10.
Do những đặc điểm về địa hình và vị trí địa lý, ở thành phố Hạ Long có 2 loại hình gió mùa hoạt động khá rõ rệt là gió Đông Bắc về mùa đông và gió Tây Nam về mùa hè. Tốc độ gió trung bình là 2.8m/s, hƣớng gió mạnh nhất là gió Tây Nam, tốc độ 45m/s. Hạ Long là vùng biển kín nên ít chịu ảnh hƣởng của những cơn bão lớn, sức gió mạnh nhất trong các cơn bão thƣờng là cấp 9, cấp 10. Cá biệt có cơn bão mạnh cấp 11.
Độ ẩm không khí trung bình hằng năm là 84%.