Chương 1: Tổng quan. - Chương 2: Cơ sở lý luận về đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh của tổ chức tín dụng. - Chương 3: Thực trạng đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty TNHH Một thành viên Tài chính Prudential Việt Nam giai đoạn 2009-2013 - Chương 4: Một số giải pháp tăng cường đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh tại Công ty TNHH Một thành viên Tài chính Prudential Việt Nam đến năm 2020. 5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀĐẦU TƯ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA TỔ CHỨC TÍN DỤNG 2.
LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA TỔ CHỨC TÍN DỤNG 2.Cạnh tranh trong tổ chức tín dụng 2. Các lý luận chung Ngày nay, hầu hết tất cả các quốc gia trên thế giới đều phải thừa nhận trong mọi hoạt động kinh tế đều phải có cạnh tranh và coi cạnh tranh không những là môi trường, động lực của sự phát triển nói chung, thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển và tăng năng suất lao động, hiệu quả của các doanh nghiệp nói riêng mà còn là yếu tố quan trọng phân bổ hiệu quả các nguồn lực xã hội và làm lành mạnh hoá các quan hệ xã hội. Có rất nhiều khái niệm khác nhau về cạnh tranh, nhưng một trong số những khái niệm dễ hiểu nhất cho thuật ngữ này đã được đưa ra bởi Uỷ ban cạnh tranh công nghiệp của Tổng thống Mỹ.Khái niệm đó là: “Cạnh tranh đối với một quốc gia là mức độ mà ở đó dưới các điều kiện thị trường tự do và công bằng, có thể sản xuất các hàng hoá và dịch vụ đáp ứng được các đòi hỏi của các thị trường quốc tế, đồng thời duy trì và mở rộng được thu nhập thực tế của nhân dân nước đó”. Tại diễn đàn Liên Hiệp Quốc trong báo cáo về cạnh tranh toàn cầu năm 2004 thì định nghĩa cạnh tranh đối với một quốc gia là: Khả năng của nước đó đạt được những thành quả nhanh và bền vững về mức sống nghĩa là đạt được các tỉ lệ tăng trưởng kinh tế kinh tế cao được xác định bằng sự thay đổi của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) trên đầu người theo thời gian.
Diễn đàn cấp cao về cạnh tranh công nghiệp của tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) năm 1999 đã chọn định nghĩa về cạnh tranh như sau: Khả năng của các doanh nghiệp, ngành, quốc gia và vùng trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế. 6 Định nghĩa trên phù hợp vì nó phản ánh khả năng cạnh tranh quốc gia nằm trong mối liên hệ trực tiếp với hoạt động cạnh tranh của các doanh nghiệp và lợi thế cạnh tranh trở thành một nhân tố quan trọng trong hoạt động kinh tế. Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, cạnh tranh là một điều kiện và là yếu tố kích thích sản xuất kinh doanh, là môi trường và động lực thúc đẩy sản xuất phát triển, tăng năng suất lao động và tạo đà cho sự phát triển của xã hội. Như vậy, cạnh tranh là quy luật khách quan của nền sản xuất hàng hoá vận động theo cơ chế thị trường.
Sản xuất hàng hoá càng phát triển, hàng hoá bán ra càng nhiều, số lượng người cung ứng càng đông thì cạnh tranh càng gay gắt. Kết quả cạnh tranh sẽ tất yếu có một số doanh nghiệp bị thua cuộc và bị gạt ra khỏi thị trường trong khi một số doanh nghiệp khác tồn tại và phát triển hơn. Cạnh tranh sẽ làm cho doanh nghiệp năng động hơn, nhạy bén hơn trong việc nghiên cứu, nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành sản phẩm và giá bán và tăng cường các dịch vụ sau bán hàng nhằm tăng vị thế của mình trên thương trường, tạo uy tín với khách hàng và mang lại nguồn lợi nhuận cho doanh nghiệp. Tổ chức tín dụng (TCTD) là doanh nghiệp hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán.
Vai trò quan trọng của tổ chức tín dụng là đảm bảo huy động vốn đầy đủ và kịp thời, đó là hình thức huy động mà các doanh nghiệp hiện nay thường lựa chọn do nó có chi phí huy động thấp nhất. Theo Luật Các tổ chức tín dụng do Quốc hội ban hành năm 2010, Tổ chức tín dụng bao gồm ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô và quỹ tín dụng nhân dân. Trong hoạt động của các tổ chức tín dụng, cạnh tranh là việc các tổ chức tín dụng tạo ra và vận dụng các lợi thế so sánh trong việc cung cấp sản phẩm, dịch vụtại cùng một môi trường kinh doanh nhằm đạt được những mục tiêu cụ thể như lợi nhuận, doanh số hoặc thị phần, nâng cao vị thế của mình trên thị trường hơn so với các tổ chức tín dụng khác. Cạnh tranh trong tổ chức tín dụng có các đặc trưng sau: 7 Thứ nhất, các đối thủ cạnh tranh trong ngành vừa ganh đua vừa hợp tác với nhau cùng phát triển.
Kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ là lĩnh vực kinh doanh rất nhạy cảm, chịu tác động bởi rất nhiều nhân tố về kinh tế, chính trị, xã hội, tâm lý, truyền thống văn hoá… mỗi một nhân tố này có sự thay đổi dù là nhỏ nhất cũng đều tác động rất nhanh chóng và mạnh mẽ đến môi trường kinh doanh chung. Một tổ chức tín dụng hoạt động yếu kém, khả năng thanh khoản thấp cũng có thể trở thành gánh nặng cho nhiều tổ chức kinh tế và dân chúng trên địa bàn… Chính vì vậy, trong kinh doanh, các tổ chức tín dụng vừa phải cạnh tranh để từng bước mở rộng thị phần, nhưng cũng không thể cạnh tranh bằng mọi giá, sử dụng mọi thủ đoạn, bất chấp pháp luật để thôn tính đối thủ của mình, bởi vì, nếu đối thủ là các tổ chức tín dụng khác bị suy yếu dẫn đến sụp đổ, thì những hậu quả đem lại thường là rất to lớn, thậm chí dẫn đến đổ vỡ luôn chính tổ chức tín dụng này do tác động dây chuyền. Thứ hai, trong cạnh tranh, các tổ chức tín dụng luôn phải hướng tới một thị trường lành mạnh để tránh xảy ra rủi ro hệ thống. Hoạt động kinh doanh của các tổ chức tín dụng có liên quan đến tất cả các tổ chức kinh tế, chính trị – xã hội, đến từng cá nhân thông qua các hoạt động huyđộng tiền gửi tiết kiệm, cho vay cũng như các loại hình dịch vụ tài chính khác.Đồng thời, trong hoạt động kinh doanh của mình, các tổ chức tín dụng cũng đều mở tài khoản cho nhau để cùng phục vụ các đối tượng khách hàng chung.
Chính vì vậy, nếu như một tổ chức tín dụng bị khó khăn trong kinh doanh, có nguy cơ đổ vỡ, thì tất yếu sẽ tác động dây chuyền đến gần như tất cả các tổ chức tín dụng khác, không những thế, các tổ chức tài chính phi ngân hàng cũng sẽ bị ảnh hưởng. Đây quả là điều mà các tổ chức tín dụng không bao giờ mong muốn. Chính vì vậy, các tổ chức tín dụng trong kinh doanh luôn vừa phải cạnh tranh lẫn nhau để dành giật thị phần, nhưng luôn phải hợp tác với nhau, nhằm hướng tới một môi trường lành mạnh để tránh rủi ro hệ thống. Thứ ba, hoạt động cạnh tranh của các tổ chức tín dụng luôn chịu sự quản lý của Ngân hàng Nhà nước.
Do hoạt động của các tổ chức tín dụng có liên quan đến tất cả các chủ thể, đến mọi mặt hoạt động kinh tế – xã hội, cho nên, để tránh sự hoạt 8 động của các tổ chức tín dụng mạo hiểm gây ra nguy cơ đổ vỡ hệ thống, Ngân hàng Nhà nước các nước đều có sự giám sát chặt chẽ thị trường này và đưa ra hệ thống cảnh báo sớm để phòng ngừa rủi ro. Thực tiễn đã chỉ ra những bài học đắt giá, khi mà Ngân hàng Nhà nước thờ ơ trước những diễn biến bất lợi của thị trường đã dẫn đến hậu quả là sự đổ vỡ của thị trường tài chính – tiền tệ làm suy sụp toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Chính vì vậy, nên sự cạnh tranh trong hệ thống các tổ chức tín dụng không thể dẫn đến làm suy yếu và thôn tính lẫn nhau như các loại hình kinh doanh khác trong nền kinh tế. Thứ tư, hoạt động cạnh tranh của các tổ chức tín dụng chịu sự chi phối của nhiều yếu tố trong nước và quốc tế.
Hoạt động của các tổ chức tín dụng liên quan đến lưu chuyển tiền tệ, không chỉ trong phạm vi một nước, mà có liên quan đến nhiều nước để hỗ trợ cho các hoạt động kinh tế đối ngoại.Do vậy, kinh doanh trong hệ thống tổ chức tín dụng chịu sự chi phối của nhiều yếu tố trong nước và quốc tế, như: Môi trường pháp luật, tập quán kinh doanh của các nước, các thông lệ quốc tế… đặc biệt là, nó chịu sự chi phối mạnh mẽ của điều kiện hạ tầng cơ sở tài chính, trong đó công nghệ thông tin đóng vai trò cực kỳ quan trọng, có tính chất quyết định đối với hoạt động kinh doanh của các công ty này. Điều đó cũng có nghĩa là, sự cạnh tranh trong hệ thống các tổ chức tín dụng trước hết phải chịu sự điều chỉnh bởi rất nhiều thông lệ, tập quán kinh doanh tiền tệ của các nước, sự cạnh tranh trước hết phải dựa trên nền tảng kỹ thuật công nghệ đáp ứng được yêu cầu của hoạt động kinh doanh tối thiểu.Bởi vì, một tổ chức tín dụng mở ra một loại hình dịch vụ cung ứng cho khách hàng là đã phải chấp nhận cạnh tranh với các tổ chức tín dụng khác đang hoạt động trong cùng lĩnh vực, tuy nhiên, muốn lĩnh vực dịch vụ này được thực hiện thì đòi hỏi phải đáp ứng tối thiểu về điều kiện hạ tầng cơ sở tài chính mà thiếu nó thì không thể hoạt động được. Rõ ràng là, sự cạnh tranh của các tổ chức tín dụng loại hình cạnh tranh bậc cao, đòi hỏi những chuẩn mực khắt khe hơn bất cứ loại hình kinh doanh nào khác.2 Các công cụ cạnh tranh của tổ chức tín dụng a. Cạnh tranh bằng chất lượng 9 Trong nền kinh tế hiện đại ngày nay, khi mà khoa học công nghệ phát triển như vũ bão, sản phẩm ra đời ngày càng phong phú đa dạng, tạo thuận lợi cho sự lựa chọn của người tiêu dùng và đặt nhà sản xuất trước các áp lực cạnh tranh ngày càng gay gắt và để chiến thắng trong cạnh tranh thì buộc các nhà sản xuất phải nghiên cứu vận dụng nhiều phương thức và công cụ cạnh tranh khác nhau.