CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM VÀ QUÁ TRÌNH CẢI CÁCH TỪ KHI ĐỔI MỚI ĐẾN KHI GIA NHẬP TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI (WTO) 1. Tổng quan về hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam. Giới thiệu chung về hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam. Từ năm 1990, theo Pháp lệnh về Ngân hàng, Hợp tác xã tín dụng và Công ty tài chính, hệ thống ngân hàng Việt Nam chính thức chuyển thành hệ thống hai cấp, tách bạch Ngân hàng Nhà nước giữ chức năng quản lý nhà nước và chức năng ngân hàng Trung ương với hệ thống NHTM giữ chức năng kinh doanh.
Sau khi có Pháp lệnh này, hệ thống các tổ chức tín dụng Việt Nam đã không ngừng phát triển cả về loại hình, quy mô và số lượng. Đến năm 1997, Luật các Tổ chức Tín dụng được ra đời thay thế Pháp lệnh Ngân hàng điều chỉnh hoạt động của các tổ chức tín dụng tại Việt Nam (Luật 1 6 Các Tổ chức Tín dụng sửa đổi, bổ sung được ban hành vào tháng 6 năm 2004). Theo quy định tại Luật Các Tổ chức Tín dụng, các loại hình tổ chức tín dụng tại Việt Nam gồm có: tổ chức tín dụng nhà nước, tổ chức tín dụng cổ phần, tổ chức tín dụng hợp tác, tổ chức tín dụng liên doanh, tổ chức tín dụng 100% vốn nước ngoài, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và văn phòng đại diện của tổ chức tín dụng nước ngoài. 1 7 C¸ c ®Þnh chÕ tµI chÝnh t¹i ViÖt nam Công ty cho Thị trường Các định chế Hệ thống Quỹ tín dụng Công ty tài thuê tài chính chứng khoán khác NHTM nhân dân chính Các tổ Các tổ NHTMNN NHTMCP NHLD Chi nhánh Công ty tài Công ty cho Công ty TTGD TTGD chức thuộc chức chính cổphần Công ty tài Hà Nội TP.Hồ NHNNg thuê tài cho thuê Bộ Tài khác chính trực chính nước tài chính (khai Chí chính ngoài trong trương Minh thuộc nước 2004) (2000) Quỹ hỗ trợ phát HTX tín triển dụng NHTMCP Kho bạc Công ty bảo đô thị NHTMCP hiểm nông thôn Quỹ Tín dụng hỗ trợ xuất Tài khoản khẩu bưu điện Quỹ bảo lãnh Tín dụng cho doanh nghiệp vay vốn nước ngoài Sơ đồ 1.1: Các định chế tài chính tại Việt Nam 1 8 Hệ thống NHTM Việt Nam bao gồm NHTMNN và NHTMCP, có chức năng và vai trò của ngân hàng thương mại, cụ thể: Chức năng: - Tạo tiền: Có thể nói đây là khả năng riêng có của NHTM.
Chức năng này được thực hiện thông qua hoạt động nghiệp vụ của NHTM trong mối quan hệ với NHTW. Nếu NHTM không tạo được tiền để mở ra điều kiện thuận lợi cho quá trình sản xuất kinh doanh, quá trình này không thực hiện được, nguồn tích luỹ từ lợi nhuận bị hạn chế, vốn có thể bị ứ đọng. Trường hợp ngược lại, có thể vốn lại thiếu, không đáp ứng được nhu cầu cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Điều quan trọng là cần kiểm soát được lượng tiền cung ứng sao cho vừa đủ yêu cầu của nền kinh tế để nền kinh tế có cơ sở tăng trưởng mạnh, tạo công ăn việc làm, ổn định giá cả.
- Trung gian tín dụng: NHTM huy động vốn nhàn rỗi từ công chúng, từ các doanh nghiệp và sử dụng vốn này cho vay để giúp các doanh nghiệp có điều kiện mở rộng sản xuất kinh doanh, giúp công chúng cải thiện đời sống. - Trung gian thanh toán: Đó là việc đưa ra một cơ chế thanh toán giúp cho sự vận động của vốn trôi chảy, thông suốt. Khi thực hiện cơ chế thanh toán, giữa các NHTM có mối quan hệ ràng buộc chặt chẽ. Cơ chế này ngày càng phức tạp khi việc thanh toán diễn ra giữa các vùng khác nhau trên lãnh thổ và trên thế giới.
- Tạo điều kiện để tài trợ ngoại thương thông qua việc cung ứng các dịch vụ ngân hàng quốc tế: mua bán ngoại tệ, thanh toán quốc tế. Khi có ngân hàng đại lý ở nước ngoài, các ngân hàng còn có khả năng giúp cho hoạt động ngoại thương phát triển khi họ thông qua hoạt động của mình nắm bắt nhiều 1 9 thông tin về các đối tác nước ngoài từ đó tư vấn cho các doanh nghiệp trong nước. - Cung ứng các dịch vụ khác: uỷ thác, bảo quản vật có giá, tư vấn, mua bán chứng khoán giúp khách hàng, cho thuê tài chính… Vai trò: - Cung ứng vốn cho nền kinh tế: NHTM huy động vốn nhàn rỗi từ dân cư và các tổ chức kinh tế, thông qua nghiệp vụ tín dụng để cung ứng vốn cho những đối tượng có nhu cầu về vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế. Như vậy, NHTM là nguồn bơm vốn để thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
- NHTM thực hiện vai trò thực thi chính sách tiền tệ: NHTW chịu trách nhiệm hoạch định chính sách tiền tệ và sử dụng các công cụ của chính sách nhằm đạt được các mục đích của mình. Chính các NHTM là chủ thể chịu tác động của những công cụ này và truyền tải các tác động của chính sách tiền tệ đến các khu vực thể chế khác, đồng thời NHTM với chức năng làm trung gian tài chính nên mọi sự biến động về giá cả, sản lượng, thu nhập, công ăn việc làm sẽ được phản hồi qua NHTM tới NHTW, điều này sẽ giúp cho việc sửa đổi, bổ sung các chính sách tiền tệ cho phù hợp. - NHTM là công cụ để Nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế: Bằng hoạt động tín dụng và thanh toán giữa các NHTM trong hệ thống NHTM đã góp phần mở rộng khối lượng tiền cung ứng trong lưu thông. Thông qua việc cung ứng tín dụng cho các ngành, lĩnh vực sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế thì NHTM đã thực hiện dẫn dắt luồng tiền, tập trung phân chia luồng tiền, điều khiển vốn sao cho có hiệu quả nhất.
2 0 - NHTM là cầu nối nền kinh tế quốc gia với nền kinh tế quốc tế. Trong nền kinh tế thị trường khi mà mối quan hệ hàng hoá tiền tệ phát triển tới đỉnh cao và xu hướng hội nhập, nhu cầu giao lưu kinh tế xã hội giữa các nước trên thế giới ngày càng trở nên cấp thiết, sự phát triển kinh tế của một nước gắn tiền với tình hình kinh tế xã hội của thế giới.Với chức năng chủ yếu của NHTM là nhận tiền gửi, cho vay, trung gian thanh toán, kinh doanh ngoại hối…qua các nghiệp vụ chuyên môn này, NHTM đã tạo điều kiện thúc đẩy ngoại thương không ngừng được mở rộng. Thông qua quan hệ qua lại, hợp tác giữa các NHTM nội địa với quốc tế, góp phần điều tiết nền tài chính trong nước cho phù hợp với sự vận động của nền tài chính quốc tế. Hiện nay, khối NHTMNN gồm 06 ngân hàng: Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam, Ngân hàng Công thương Việt Nam, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam, Ngân hàng Phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long và Ngân hàng Phát triển Việt Nam.
Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam là NHTMNN đầu tiên được lựa chọn để thực hiện cổ phần hóa và trong tháng 12/2007, Vietcombank đã thực hiện thành công việc phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng – đây là một bước đi quan trọng trong tổng thể Phương án cổ phần hóa NHTMNN đầu tiên của Việt Nam; và đổi tên thành Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam. Trong khối NHTMCP, số lượng NHTMCP đô thị chiếm đa số, đến tháng 12/2007, có 35 ngân hàng đang hoạt động và 04 ngân hàng được NHNN chấp thuận về mặt nguyên tắc đề án thành lập mới là ngân hàng cổ phần FPT, Bảo Việt, Liên Việt và Tài chính dầu khí. Về thị phần hoạt động. Trong thời gian qua, hệ thống NHTM Việt Nam liên tục được mở rộng về quy mô hoạt động và gia tăng số lượng.
Trong đó, các NHTMNN mặc dù có số lượng ít nhưng giữ vai trò chủ đạo, chiếm lĩnh thị phần nghiệp vụ “ngân 2 1 hàng bán buôn” (tức là những nghiệp vụ bán buôn, nghiệp vụ quốc tế và các nghiệp vụ với doanh nghiệp lớn) do có quy mô vốn lớn hơn và do có nhóm khách hàng truyền thống là các doanh nghiệp nhà nước lớn. Các NHTMCP tập trung chủ yếu vào các nghiệp vụ “ngân hàng bán lẻ” (tức là các nghiệp vụ với khách hàng là cá nhân và doanh nghiệp nhỏ) do quy mô vốn còn hạn chế. Các NHTM Việt Nam nắm giữ phần lớn thị phần hoạt động của toàn hệ thống tổ chức tín dụng. Đến nay, 5 NHTMNN (tính cả Vietcomank) chiếm thị phần khoảng 56,9%; 1 ngân hàng phát triển; 1 ngân hàng chính sách, chiếm khoảng 3,3%; 37 NHTMCP chiếm khoảng 26,5% thị phần; 28 ngân hàng nước ngoài với tổng số 39 chi nhánh và 5 ngân hàng liên doanh chiếm khoảng 9,4% thị phần; 9 công ty tài chính, 12 công ty cho thuê tài chính và 996 quĩ tín dụng nhân dân, chiếm khoảng 3,9% thị phần.
Thị phần hoạt động của các NHTM thể hiện qua hai hoạt động chính là nhận tiền gửi và cho vay. Về huy động tiền gửi Các NHTM Việt Nam chiếm lĩnh hầu hết thị phần tiền gửi của toàn hệ thống. Đây cũng là một điều tất yếu vì các NHTM Việt Nam không phải chịu giới hạn về địa bàn hoạt động cũng như số lượng chi nhánh trên một địa bàn. Bên cạnh đó, các NHTM Việt Nam cũng không phải chịu giới hạn về loại tiền gửi, số lượng tiền gửi, hình thức huy động và đối tượng huy động.
Ngoài ra, các NHTM Việt Nam (đặc biệt là các NHTMNN) có lịch sử hoạt động lâu dài và quan hệ khách hàng truyền thống. Với những ưu thế đó, thị phần huy động tiền gửi của các NHTM Việt Nam trong 5 năm qua luôn ổn định ở mức cao xấp xỉ 90% của toàn hệ thống, trong đó các NHTMNN (bao gồm cả Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam) chiếm tới gần 80% thị phần của toàn hệ thống, các NHTMCP chiếm thị phần trên dưới 10%. Các tổ chức tín dụng phi ngân hàng chỉ được phép huy động tiền gửi có kỳ hạn trên 1 năm và có mạng lưới hẹp nên chiếm thị phần không đáng kể 2 2 (khoảng 0,5%). Các quỹ tín dụng nhân dân tuy số lượng nhiều nhưng do đặc thù hoạt động chủ yếu là hoạt động tương hỗ tại các địa bàn nông thôn, vùng sâu, vùng xa nên cũng chiếm thị phần huy động vốn rất nhỏ, dưới 1% của toàn hệ thống.
Đối với hoạt động huy động vốn, hệ thống tổ chức tín dụng nước ngoài tại Việt Nam chiếm thị phần tương đối nhỏ.