CHƯƠNG 1 HÀNH VI KHÁCH QUAN CỦA TỘI LẠM DỤNG CHỨC VỤ, QUYỀN HẠN CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN 1. Quy định của Bộ luật hình sự về hành vi khách quan của tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản Tội phạm là hiện tượng xã hội - pháp lý tồn tại trong bất kỳ xã hội nào, dưới bất kỳ thời đại nào. Trong luật hình sự, bản chất của tội phạm được thể hiện một cách tập trung thông qua mặt khách quan hay nói cách khác, tội phạm được phản ánh rõ nét thông qua những biểu hiện khách quan bên ngoài mà con người có thể nhận biết được. Bên cạnh đó, mặt khách quan của tội phạm còn là căn cứ để xây dựng các chế định khác nhau về tội phạm và hình phạt như: phân loại tội phạm, định tội danh, quyết định hình phạt.
Trong các yếu tố thuộc mặt khách quan của tội phạm, hành vi khách quan là biểu hiện cơ bản nhất và cũng là biểu hiện cơ bản nhất của tội phạm nói chung. Các biểu hiện khác thuộc mặt khách quan chỉ xuất hiện khi có hành vi khách quan. Hành vi khách quan là nguyên nhân gây ra sự biến đổi tình trạng của đối tượng tác động và do vậy là nguyên nhân của sự gây thiệt hại cho quan hệ xã hội là khách thể của tội phạm. Hành vi khách quan là “cầu nối” giữa khách thể và chủ thể của tội phạm.
Không thể nói đến chủ thể của tội phạm khi không có hành vi khách quan cũng như khi không có hành vi khách quan thì không thể nói đến khách thể bảo vệ của luật hình sự bị xâm hại để trở thành khách thể của tội phạm. Với đặc điểm như vậy, hành vi khách quan được phản ánh trong tất cả các cấu thành tội phạm. Không có hành vi khách quan thì không có tội phạm. Ngày 27/6/1985, Bộ luật Hình sự đầu tiên của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được ban hành, đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong sự phát triển của pháp luật hình sự nước nhà và là cơ sở pháp lý để thực hiện việc đấu tranh phòng chống tội phạm có hiệu quả.
Các quy định của Bộ luật đã thể hiện chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước ta là rất quan tâm và nghiêm khắc trong việc đấu tranh phòng, chống các tội phạm về tham nhũng. Đồng thời, BLHS 1985 cũng là văn bản quy phạm pháp luật đầu tiên mà trong đó các tội phạm về chức vụ được phân loại thành một nhóm tội phạm, được quy định thành một chương riêng – Chương IX trong đó có tội lạm dụng chúc vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản được bổ sung tại lần sửa đổi thứ 4 và khái niệm tội phạm chức vụ cũng đã được chính thức ghi nhận. Việc quy định tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản của công dân tại một điều luật cụ thể trong bộ luật tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho công 7 cuộc đấu tranh chống loại tội phạm này. Mặc dù vẫn có một số hạn chế nhất định nhưng BLHS năm 1985 là một văn bản pháp luật có ý nghĩa quan trọng trong việc đấu tranh phòng, chống các tội phạm tham nhũng nói chung và tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản nói riêng.
Ngày 21/12/1999, Quốc hội nước ta đã thông qua BLHS mới, trong đó tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 280 thuộc mục A – các tội phạm về tham những thuộc chương XXI – các tội phạm về chức vụ. BLHS 1999 và luật sửa đổi bổ sung một số điều của BLHS 2009 so với BLHS 1985 thì đã có sự phân nhóm thành các tội phạm về tham nhũng và các tội phạm khác về chức vụ. So với BLHS 1985 thì đã bổ sung tình tiết “đã bị kết án về một trong các tội quy định tại mục A chương này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm” trong trường hợp giá trị tài sản bị chiếm đoạt chưa đến 500. Ngoài ra, giá trị tài sản bị chiếm đoạt quy định trong các khung hình phạt cũng được quy định lại theo hướng tăng nặng hơn so với Điều 156 BLHS 1985 như: từ một trăm triệu đến dưới ba trăm triệu được thay bằng từ năm mươi triệu đến dưới hai trăm triệu (khoản 2); từ ba trăm triệu đến dưới năm trăm triệu được thay bằng từ hai trăm triệu đến dưới năm trăm triệu ( khoản 3); thêm từ “khác” đối với tình tình tiết gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng là yếu tố định khung hình phạt; bỏ tình tiết “có nhiều tình tiết quy định tại khoản 2, khoản 3 điều này” ở khoản 3, khoản 4 của điều luật và hình phạt bổ sung được quy định ngay trong điều luật.
Đồng thời quy định mức hình phạt cao nhất đối với tội phạm này là chung thân, loại bỏ hình phạt tử hình. BLHS 1999 và luật sửa đổi bổ sung một số điều của BLHS 2009 đã quy định tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản đầy đủ hơn, chi tiết hơn, phản ánh được thực tế công tác đấu tranh phòng chống loại tội phạm này giúp cho công tác điều tra, truy tố, đặc biệt là công tác xét xử loại tội phạm này được thuận lợi. Tuy nhiên, sự không thống nhất giữa Luật Phòng, chống tham nhũng khi quy định có 12 hành vi tham nhũng với Bộ luật hình sự năm 1999 lại chỉ quy định 07 hành vi tham nhũng tạo ra những hạn chế, rắc rối trong việc áp dụng các quy định của pháp luật. Đồng thời quá trình áp dụng BLHS để xử lý các tội phạm tham nhũng cũng cho thấy, các quy định của Bộ luật hình sự 1999 còn có nhiều điểm hạn chế, chưa phù hợp với yêu cầu của thực tiễn đấu tranh phòng, chống loại tội phạm này về điều kiện, tình hình phát triển mới về mọi mặt của đất nước.
Có thể kể đến như một số quy định về chế tài xử lý, tình tiết định khung hình phạt,… còn mang tính định tính, chung chung, khó xác định để áp dụng trong thực tế điều tra, xét xử tội phạm tham nhũng, việc bó hẹp phạm 8 vi tội phạm tham nhũng trong khu vực nhà nước gây ra những khó khăn trong quá trình thực hiện trước thực tế kinh tế tư nhân ngày càng phát triển, mối liên hệ công – tư ngày càng được mở rộng cùng với đó là sự liên kết cùng thực hiện hành vi tham nhũng, định lượng về giá trị tiền, tài sản chiếm đoạt, định lượng tiền phạt,… không còn phù hợp với mặt bằng phát triển kinh tế hiện nay, các hình phạt còn chưa chú trọng nhiều đến hiệu quả thu hồi tiền, tài sản thất thoát cho Nhà nước,… Những điểm không phù hợp, hạn chế, vướng mắc này cần phải được sửa đổi, bổ sung, cụ thể hóa nhằm giúp cho cơ quan có thẩm quyền áp dụng đúng đắn, dễ dàng, phù hợp hơn với thực tế, tăng tính khả thi. Ngoài ra, theo kết quả rà soát, đánh giá các quy định của BLHS năm 1999 với Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng cũng cho thấy, pháp luật hình sự của Việt Nam chưa thực sự tương thích với các yêu cầu về hình sự hóa quy định tại Công ước Liên hợp quốc về chống tham nhũng (UNCAC) như mở rộng tội phạm tham nhũng ra khu vực tư, hình sự hóa hành vi làm giàu bất hợp pháp, … Những vấn đề này đặt ra yêu cầu sửa đổi, bổ sung BLHS năm 1999 về tội phạm chức vụ nói chung và tội phạm lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản nói riêng nhằm bảo đảm thể chế hóa chủ trương, nghị quyết của Đảng về phòng, chống tham nhũng, khắc phục những bất cập trong quá trình đấu tranh phòng, chống tội phạm, phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế, xã hội, chính trị của đất nước, cũng như bảo đảm thực thi các nghĩa vụ quốc tế mà Việt Nam đã cam kết, tạo cơ sở pháp lý cho việc chủ động và tăng cường hợp tác quốc tế. Đồng thời, nhiều định hướng và chính sách mới liên quan đến tội phạm tham nhũng của Đảng và Nhà nước cũng được ban hành đòi hỏi các quy định về tội phạm tham nhũng của BLHS phải được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với định hướng chung đó. Trong đó có các chủ trương quan trọng như: “Quy định trách nhiệm hình sự nghiêm khắc hơn đối với những tội phạm là người có thẩm quyền trong thực thi pháp luật, những người lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội.
Người có chức vụ càng cao mà lợi dụng chức vụ, quyền hạn phạm tội thì càng phải xử lý nghiêm khắc để làm gương cho người khác”1 và “Sửa đổi pháp luật hình sự theo hướng tăng hình thức phạt tiền, miễn hoặc giảm hình phạt khác đối với những đối tượng có hành vi tham nhũng nhưng đã chủ động khai báo, khắc phục hậu quả”2.Chính vì vậy, các quy định về tội phạm tham nhũng cần phải sửa đổi, bổ sung để tiệm cận dần với thông lệ quốc tế, với yêu cầu của 1 Bộ Chính trị (2005), Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 2 Đảng Cộng sản Việt Nam (2012), Kết luận số 21-KL/TW ngày 25/5/2012 của Hội nghị Trung ương 5 khóa XI về tăng cường lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí. 9 Công ước Liên hợp quốc về chống tham nhũng, đảm bảo sự thống nhất của hệ thống pháp luật trong nước, thể chế hóa chủ trương, chính sách mới của Đảng và Nhà nước đối với tội phạm tham nhũng và đáp ứng đòi hỏi của công cuộc chống tham nhũng trong tình hình mới. Và BLHS 2015 ra đời đã có sự sửa đổi – Chương “Các tội phạm về chức vụ” trong đó có tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản quy định tại Điều 355 BLHS 2015 được quy định trên tinh thần đáp ứng những yêu cầu về mặt lý luận, những vướng mắc trong thực tiễn áp dụng quy định về các tội phạm này cũng như những cam kết quốc tế của Việt Nam với tư cách là thành viên của Công ước của Liên Hợp quốc về chống tham nhũng. Theo đó, tại Điều 355 quy định: “Người nào lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000 đồng đến dưới 100.000 đồng hoặc dưới 2.