Nghiên cứu tiềm năng đất nông nghiệp sản xuất hàng hóa huyện Bạch Thông, Bắc Kạn

Luận án đánh giá tiềm năng đất nông nghiệp tại huyện Bạch Thông, Bắc Kạn, đề xuất các giải pháp phát triển sản xuất hàng hóa bền vững.

Chuyên ngành

Quản lý Đất đai

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án Tiến sĩ

2023

197
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về đất nông nghiệp Bạch Thông

Huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn sở hữu những diện tích đất nông nghiệp phong phú với đặc thù địa hình gò đồi. Vùng đất này có tiềm năng lớn để phát triển sản xuất hàng hóa nông nghiệp bền vững. Theo nghiên cứu của Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, đất nông nghiệp Bạch Thông sở hữu những ưu điểm về điều kiện khí hậu, lượng mưa và độ cao phù hợp cho nhiều cây trồng. Việc đánh giá và quản lý hiệu quả tiềm năng đất đai là chìa khóa để nâng cao năng suất nông nghiệp. Khu vực gò đồi có diện tích đất nông nghiệp lớn nhưng còn nhiều tiềm năng chưa được khai thác tối ưu. Nhằm phát triển kinh tế nông thôn, cần có những hướng đi đúng đắn cho sử dụng đất bền vững.

1.1. Đặc điểm địa lý và điều kiện tự nhiên

Bạch Thông nằm ở vùng núi phía Bắc với địa hình gò đồi phức tạp. Độ cao từ 100-800m so với mặt biển tạo ra sự đa dạng về điều kiện tự nhiên. Lượng mưa hàng năm từ 1.500-2.000mm, phù hợp cho nhiều loại cây trồng. Đất nông nghiệp ở đây thuộc nhóm đất laterite vàng, phù hợp với sản xuất cây công nghiệp và cây ăn quả. Nhiệt độ trung bình hàng năm 20-22°C, tạo điều kiện tốt cho phát triển nông nghiệp.

1.2. Cơ sở kinh tế xã hội hiện tại

Kinh tế huyện Bạch Thông chủ yếu dựa vào nông nghiệp và lâm nghiệp truyền thống. Dân cư chủ yếu là nông dân nhỏ với kỹ thuật canh tác còn lạc hậu. Sản xuất hàng hóa hiện chưa phát triển mạnh do thiếu vốn và thị trường tiêu thụ. Cơ sở hạ tầng giao thông còn hạn chế. Tuy nhiên, sự phát triển của thị trường nông sản tạo cơ hội lớn cho phát triển nông nghiệp hàng hóa bền vững.

II. Tiềm năng sản xuất hàng hóa trên đất nông nghiệp Bạch Thông

Tiềm năng đất nông nghiệp ở Bạch Thông rất lớn với khả năng phát triển sản xuất hàng hóa đa dạng. Vùng gò đồi thích hợp để trồng cây ăn quả, cây công nghiệp và rau hàng hóa. Theo luận án tiến sĩ của Phạm Xuân Thiều, có thể phát triển cây quế, điều, chanh leo và nhiều cây trồng khác. Hiệu suất kinh tế của hàng hóa nông nghiệp cao hơn nhiều so với sản xuất nông nghiệp truyền thống. Việc ứng dụng công nghệ canh tác hiện đại sẽ giúp tăng năng suất và chất lượng sản phẩm. Đất nông nghiệp Bạch Thông có thể cung cấp sản phẩm chất lượng cao cho thị trường Hà Nội và khu vực Đông Bắc. Phát triển sản xuất hàng hóa bền vững sẽ góp phần tăng thu nhập cho nông dân.

2.1. Các cây trồng phù hợp cho sản xuất hàng hóa

Trên đất nông nghiệp ở Bạch Thông, cây quế có thể cho doanh thu 50-60 triệu đồng/ha. Chanh leo có tiềm năng cao với giá bán 25.000-30.000 đồng/kg. Cây điều thích hợp trên đất dốc, cho năng suất 3-5 tấn/ha. Rau sạch và các sản phẩm nông nghiệp hữu cơ có nhu cầu cao. Trà được trồng thành công trên các vùng cao. Các cây ăn quả như táo, lê cũng phát triển tốt. Kết hợp chăn nuôi với trồng trọt sẽ tối ưu hóa sử dụng đất.

2.2. Tiêu chí đánh giá hiệu quả kinh tế

Hiệu quả kinh tế được đánh giá qua doanh thu, lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận. Doanh thu từ sản xuất hàng hóa cây quế, chanh leo cao gấp 2-3 lần so với sản xuất truyền thống. Lợi nhuận ròng sau 3-5 năm có thể đạt 30-50 triệu đồng/ha. Tiềm năng đất được xác định bằng so sánh các mô hình canh tác. Cần xem xét vốn đầu tư, chi phí duy trì, giá tiêu thụ ổn định. Bền vững nghĩa là đảm bảo lợi nhuận dài hạn mà không làm suy thoái đất.

III. Các mô hình sử dụng đất bền vững

Luận án nghiên cứu đề xuất nhiều mô hình sử dụng đất hợp lý cho vùng gò đồi Bạch Thông. Mô hình tổng hợp kết hợp trồng cây lâu năm với sản xuất rau hàng hóa mùa vụ. Mô hình canh tác bậc thang tận dụng độ dốc địa hình, trồng cây cao ở trên, rau ở giữa. Mô hình nông lâm kết hợp giúp bảo vệ đất, tăng doanh thu. Mô hình chăn nuôi kết hợp với trồng trọt tạo vòng tuần hoàn bền vững. Mỗi mô hình phù hợp với điều kiện địa hình, khí hậu và khả năng kinh tế của nông dân. Việc áp dụng mô hình phù hợp sẽ nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và bảo vệ môi trường.

3.1. Mô hình nông lâm kết hợp

Mô hình này kết hợp trồng cây gỗ dài hạn với cây ăn quả lâu năm, rau hàng hóa ngắn hạn. Trên đất nông nghiệp dốc, trồng cây quế, acacia ở tầng trên, rau sạch ở tầng dưới. Mô hình này giảm mất nước, chống xói mòn, tăng độ phì nhiêu. Doanh thu ổn định hàng năm từ rau hàng hóa, lợi nhuận lâu dài từ gỗ. Bền vững vì bảo vệ đất và sản xuất đa dạng. Chi phí ban đầu cao nhưng lợi nhuận dài hạn cao.

3.2. Mô hình sản xuất rau hàng hóa hữu cơ

Sản xuất hàng hóa rau hữu cơ trên đất nông nghiệp Bạch Thông có nhu cầu cao và giá bán tốt. Rau hữu cơ được trồng trên thửa ruộng bảo vệ với chuỗi canh tác khép kín. Sử dụng phân hữu cơ, bao phủ mặt đất, tưới nước tiết kiệm. Năng suất 15-20 tấn/ha, giá bán 15.000-25.000 đồng/kg. Lợi nhuận ròng 40-60 triệu đồng/ha/năm. Yêu cầu kỹ thuật cao, thị trường chắc chắn, bền vững về môi trường.

IV. Định hướng phát triển và khuyến nghị

Để phát triển sản xuất hàng hóa bền vững trên đất nông nghiệp Bạch Thông, cần có nhiều giải pháp toàn diện. Hỗ trợ nông dân về tín dụng, kỹ thuật, thị trường tiêu thụ. Đầu tư cơ sở hạ tầng giao thông kết nối với các thị trường lớn. Phát triển liên kết sản xuất, thương mại giữa nông dân và doanh nghiệp. Xây dựng các vùng sản xuất hàng hóa tập trung theo tiềm năng đất. Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý sử dụng đất. Đào tạo nông dân về kỹ thuật canh tác hiện đại và quản lý bền vững. Khuyến khích chuyển đổi sang nông nghiệp hàng hóa mô hình mới. Cần cân bằng giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường.

4.1. Chính sách hỗ trợ và đầu tư phát triển

Chính sách hỗ trợ cần tập trung vào cấp vốn ưu đãi cho nông dân chuyển đổi sang sản xuất hàng hóa. Hỗ trợ kỹ thuật thông qua các điểm tập huấn, mô hình trình diễn. Xây dựng thương hiệu sản phẩm huyện Bạch Thông trong và ngoài nước. Đầu tư cơ sở hạ tầng giao thông, thủy lợi, điện để hỗ trợ nông nghiệp. Thành lập các hợp tác xã, liên minh sản xuất. Xóa bỏ các rào cản hành chính, thuế suất khuyến khích xuất khẩu. Đặc biệt hỗ trợ các nông dân vùng gò đồi có khó khăn.

4.2. Đưa vào thực tiễn mô hình phát triển bền vững

Bắt đầu thí điểm các mô hình sử dụng đất trên những diện tích đất nông nghiệp được lựa chọn theo tiềm năng. Chọn những nông dân tiên phong, đam mê để làm điểm trình diễn. Giám sát, đánh giá kết quả kinh tế, xã hội, môi trường. Nhân rộng mô hình thành công trên toàn huyện. Đảm bảo sản xuất hàng hóa liên tục, ổn định, bền vững. Xây dựng chuỗi giá trị từ sản xuất đến tiêu thụ. Giảm chi phí trung gian, tăng thu nhập nông dân. Bảo vệ đất nông nghiệp khỏi suy thoái, bảo vệ đa dạng sinh học.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

18/12/2025
Nghiên cứu tiềm năng đất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa vùng gò đồi huyện bạch thông tỉnh bắc kạn

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở lý luận về đánh giá tiềm năng đất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa vùng gò đồi 1. Khái quát về đất và sử dụng đất nông nghiệp vùng gò đồi 1. Khái niệm về đất Đất là lớp mặt tơi xốp của lục địa có khả năng sản xuất ra sản phẩm của cây trồng, mà bên dưới nó là đá mẹ sinh ra nó, bên trên là thảm thực bì và khí quyển.

Như vậy khả năng sản xuất ra sản phẩm cây trồng (độ phì của đất) là thuộc tính không thể thiếu được của đất. Dưới tác động của hoạt động của con người sống trên đó có thể làm cho đất bị biến đổi theo chiều hướng tốt lên hoặc suy thoái (Nguyễn Thế Đặng và cs. Một khái niệm khác thuộc quản lý, đất đai là những vùng đất có vị trí, ranh giới, diện tích cụ thể trên mặt đất. Các vùng đất này có thể ổn định theo thời gian, hoặc thay đổi theo chu kỳ là hoàn toàn chịu tác động của các yếu tố tự nhiên và kinh tế xã hội (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2012).

Hoạt động quản lý sử dụng đất có hiệu quả phải được đánh giá theo số lượng, chất lượng. Như vậy việc đánh giá này phải được tiến hành thường xuyên và phải thật sự khách quan, nhất là trong đánh giá các hoạt động có tính nhạy cảm cao như sử dụng, quy hoạch, giao đất, thu hồi đất… (Đặng Kim Sơn và Nguyễn Đỗ Anh Tuấn, 2011). Con người không thể dùng tư liệu khác để thay thế đất, cũng không thể hủy được đất. Cho nên con người cần phải sử dụng hợp lý và triệt để đất, không ngừng nâng cao hệ số cải tạo đất, từ đó làm cho với số lượng hữu hạn, đất đai có thể ngày càng cho nhiều của cải, thỏa mãn yêu cầu của toàn xã hội (Vũ Trọng Khải, 2019).

Trong sản xuất, con người kết hợp lao động sống và lao động quá khứ (vật hóa) vào đất. Ví dụ trong công nghiệp, không kể ngành công nghiệp khai khoáng, đất chỉ có chức năng làm các nền tảng, làm vị trí, trên đó hoàn thành cả quá trình sản xuất, làm cái địa bàn hoạt động mà thôi. Quá trình sản xuất và cải tạo ra thành quả lao 5 động (sản phẩm) trong ngành công nghiệp chế biến không phụ thuộc vào độ phì nhiêu của ruộng đất và các thuộc tính sẵn có trong đất (Trần Thị Thu Hiền, 2016). Khái niệm đất nông nghiệp Luật Đất đai năm 2013 (Quốc hội, 2013) quy định “Đất nông nghiệp là đất sử dụng vào mục đích sản xuất, nghiên cứu, thí nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối và mục đích bảo vệ, phát triển rừng.

Đất nông nghiệp bao gồm đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối và đất nông nghiệp khác”. Hướng sử dụng đất quy định hướng sử dụng các tư liệu sản xuất khác và hiệu quả sản xuất. Chỉ có thông qua đất, các tư liệu sản xuất mới tác động đến hầu hết các cây trồng, vật nuôi. Vì vậy, muốn làm tăng năng suất đất đai, giữ gìn và bảo vệ đất đai để đảm bảo cả lợi ích trước mắt cũng như mục tiêu lâu dài, cần sử dụng đất tiết kiệm có hiệu quả, cần coi việc bảo vệ lâu bền nguồn tài nguyên vô giá này là nhiệm vụ vô cùng quan trọng và cấp bách đối với mỗi quốc gia (Đỗ Kim Chung & cs.

Sử dụng đất nông nghiệp Sử dụng đất là các hoạt động của con người tác động vào đất đai nhằm thu lại lợi ích cao nhất, với nhiều mục đích khác nhau (mục đích phi nông nghiệp, mục đích nông nghiệp, du lịch…). Sử dụng đất đạt kết quả cao hay thấp còn tùy thuộc vào trình độ nhận thức con người, thể chế chính sách của Nhà nước và kỹ thuật công nghệ được áp dụng. Sử dụng đất là một hệ thống các biện pháp nhằm điều hòa mối quan hệ giữa người và đất đai. Theo Lal & Miller (1993), con người cần phải sử dụng đất khoa học và hợp lý.

Khái niệm về vùng gò đồi Có hai khái niệm về gò đồi và núi đang được sử dụng ở nhiều nước trên Thế giới. Mặc dù vậy, khái niệm về gò đồi vẫn đang còn tranh cãi giữa các trường phái nghiên cứu. Tuy nhiên, cho đến nay các thuật ngữ như đồi núi, vùng gò đồi và trung du vẫn đang được sử dụng phổ biến trong lĩnh vực địa sinh thái và thổ nhưỡng. Khi xem xét ngoài thực địa chúng ta thấy thông thường giữa vùng núi và gò đồi khó có thể xác định ranh giới rõ ràng được, vì chuyển tiếp từ từ.

Tuy nhiên cũng có thể không nên nhập chung làm một được (Fridland, 1961). Cũng có thể cho vùng gò đồi là vùng có độ cao tuyệt đối dưới 500 m so với mực nước biển (Vũ Tự Lập, 1999). 6 Ranh giới giữa núi và đồi khó phân biệt chính xác vì núi chuyển từ từ sang đồi với những loại đất phân bố ở độ cao từ 25 m đến 200 m (Vũ Ngọc Tuyên và cộng sự, 1963). Nhà địa mạo Nga Spiridonov lại cho rằng dạng địa hình đồi có độ cao tương đối (chia cắt sâu) 10 - 100 m và độ dốc 3 - 8o với sườn thoải vừa (Trần Đình Lý, 2006), nhưng theo Vũ Tự Lập (1999) lại là 25 - 250 m và độ dốc 8 - 15o.

Trần Đình Lý (2006) đưa ra kết luận, có thể lấy giới hạn độ cao tuyệt đối từ 15m, nơi địa hình bắt đầu chia cắt mạnh, còn giới hạn trên có thể đến 300 m so với mặt nước biển. Cũng có tài liệu khác cho rằng giới hạn thấp nhất của đồi là 25 m và giới hạn trên không được đề cập mà chỉ nói đến giới hạn của độ dốc phải nhỏ hơn 25o. Để phân chia giới hạn vùng gò đồi và núi, cũng có thể lấy ranh giới đến 500m so với mực nước biển (Hoàng Đức Triêm, 2001). Cũng có một số tài liệu nghiên cứu vùng trung du miền núi phía Bắc Việt Nam đã chia địa hình thành các dạng: Núi cao, núi trung bình, cao nguyên, núi đá vôi; Loại núi thấp có thung lũng, đồng bằng và đồi; tất cả được xếp vào gò đồi với độ cao tương đối <1.

Đó là các quan điểm sinh thái và phát triển bền vững (PTBV) trong đánh giá và đề ra hướng sử dụng tài nguyên đất đai của Nguyễn Huy Phồn (1996). Từ phân tích những kết quả nghiên cứu trên cho thấy: Khái niệm đất vùng gò đồi có thể được hiểu bằng hai cách, thứ nhất là các vùng đất đồi núi có độ cao dưới 500m so mức nước biển; và trong những vùng cao có tương đối thung lũng, đồng bằng và đồi thì lấy dưới 1000m so độ cao tương đối gọi là đất vùng gò đồi. Sử dụng đất bền vững vùng gò đồi Đất vùng gò đồi có ý nghĩa rất lớn đối với phát triển nông lâm nghiệp, nhất là cho các địa phương nằm ở vùng trung du kế tiếp lên miền núi. Sử dụng bền vững đất nông nghiệp là phương thức sử dụng đất nhằm sản xuất được ổn định, lâu dài và phát triển.

Ở đây đáng lưu ý là khi đứng vững về mặt kinh tế, đời sống rồi được chấp nhận của xã hội; mặt khác mức độ nguy cơ cho sản xuất và môi trường được giảm lâu dài; các nguồn lợi tự nhiên được bảo vệ chính là phát triển ổn định (FAO, 1991), (Nguyễn Xuân Quát và cs. Theo quan điểm phát triển bền vững vùng gò đồi, Đặng Ngọc Dinh và Nguyễn Văn Phú (2002) đưa ra nhận xét: Khi tăng trưởng kinh tế gắn với tính bền vững về mặt xã hội và môi trường sinh thái, tức là nó phải tạo được những yếu tố 7 duy trì sự tăng trưởng lâu dài thì đó chính là phát triển bền vững cho vùng này. Khi người dân vùng này đảm bảo duy trì được nguồn tài nguyên đất đai và môi trường, nghĩa là khi sử dụng đất chú ý giữ gìn và tăng cường độ phì đất thì sẽ phát triển lâu dài và bền vững. Phương thức kết hợp giữa cây nông lâm nghiệp (lương thực, thực phẩm để giải quyết nhu cầu trước mắt) với cây công nghiệp, cây ăn quả, cây rừng sản xuất có giá trị thích hợp với từng nơi, tạo môi trường sinh thái ổn định chính là một hướng sử dụng đất vùng gò đồi có hiệu quả cho thế hệ hiện tại và đảm bảo không làm tổn hại đến lợi ích lâu dài cho các thế hệ mai sau là phát triển bền vững của đất nước.

Tóm lại, quản lý, khôi phục và duy trì tài nguyên đất là yếu tố quan trọng của việc sử dụng bền vững đất nông nghiệp vùng gò đồi. Cần phải tính toán để đưa vào hệ thống sử dụng đất của vùng các loại cây trồng nông lâm nghiệp, vật nuôi thích hợp thì chắc chắn đảm bảo phát triển bền vững (Nguyễn Thế Đặng và cộng sự, 2020). Khái quát sản xuất nông nghiệp hàng hóa Để biểu thị sự phát triển của sản xuất nông nghiệp hàng hóa, người ta thường dùng mức tăng của sản phẩm nông nghiệp hàng hóa của năm so với năm gốc hoặc mức tăng của giá trị nông sản hàng hoá hay tỷ suất nông sản hàng hoá trong một thời gian nhất định. Trong những năm gần đât, Việt Nam đã sớm chú trọng đến sản xuất nông lâm sản hàng hoá trong nông lâm nghiệp và đã ban hành khá nhiều văn bản hướng dẫn trong thực thi sản xuất nông nghiệp hàng hoá.

Có thể thấy rằng, để làm giàu cho người dân mà nếu vẫn sản xuất theo lối cũ thì không thể vươn lên được. Sản xuất lương thực, thực phẩm giai đoạn hiện nay cơ bản đã đủ cung cấp cho gần 100 triệu dân. Vì vậy tất yếu phải tập trung vào sản xuất ra sản phẩm thương mại được thì người dân mới nhanh chóng giàu lên được. Phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa có vai trò quan trọng trong cung ứng lương thực, rau quả và các loại nông sản phẩm cho cư dân đô thị và cư dân làm việc ở những ngành nghề phi nông nghiệp.

Lượng lương thực, thực phẩm cung ứng cho cư dân đô thị và cư dân làm việc ở những ngành nghề phi nông nghiệp chủ yếu phụ thuộc vào việc sản xuất nông nghiệp hàng hóa ở nông hộ. Ngày nay, với dân số thế giới trên 7 tỷ người, sản xuất nông nghiệp hàng hóa có vai trò quan trọng trong việc cung cấp nhu cầu tối thiểu cho con người để có thể tồn tại và phát triển (Nguyễn Thị Hương Trà, 2013).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ