Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC 1. Khái niệm và vai trò của đào tạo và phát triển nguồn nhân lực 1. Các khái niệm nguồn nhân lực Nhìn chung có thể hiểu, nhân lực là nguồn lực con người gồm thể lực và trí lực. Trong đó, thể lực chỉ sức khoẻ của thân thể, nó phụ thuộc vào sức vóc, tình trạng sức khoẻ của từng con người, mức sống, thu nhập, chế độ ăn uống, chế độ làm việc và chế độ nghỉ ngơi.
Thể lực con người còn tuỳ thuộc vào tuổi tác, thời gian công tác, giới tính. Bên cạnh đó, trí lực là sự suy nghĩ, sự hiểu biết, sự tiếp thu kiến thức, tài năng, năng khiếu cũng như quan điểm, lòng tin, nhân cách. của từng con người. Giữa thể lực và trí lực, việc khai thác các tiềm năng về thể lực của con người là có giới hạn, trong khi đó, sự khai thác tiềm năng về trí lực của con người còn ở mức mới mẻ, chưa bao giờ cạn kiệt, và đây là kho tàng lớn nhất của loài người trong vũ trụ bao la.
Trên cơ sở hiểu biết về nhân lực, nhiều tác giả đã xây dựng khái niệm về nguồn nhân lực ở cấp độ vĩ mô (nền kinh tế) và vi mô (từng đơn vị, tổ chức) như sau: Ở cấp độ vĩ mô, Nguyễn Tiệp (2005) cho rằng, theo nghĩa rộng, “Nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có khả năng lao động”. Khái niệm này chỉ nguồn nhân lực với tư cách là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội. Nếu theo nghĩa hẹp, “Nguồn nhân lực bao gồm nhóm dân cư trong độ tuổi lao động có khả năng lao động”. Khái niệm này chỉ khả năng đảm đương lao động chính của xã hội [10].
Theo Trần Xuân Cầu và Mai Quốc Chánh (2008), “Nguồn nhân lực là một phạm trù dùng để chỉ sức mạnh tiềm ẩn của dân cư, khả năng huy động tham gia vào quá trình tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội trong hiện tại cũng như trong tương lai. Sức mạnh và khả năng đó được thể hiện thông qua số lượng, chất lượng và cơ cấu dân số, nhất là số lượng và chất lượng con người có đủ điều kiện tham gia vào nền sản xuất xã hội”. Hay nói cách khác, “Nguồn nhân lực là nguồn lực con người có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tinh 9 thần cho xã hội được biểu hiện ra là số lượng và chất lượng nhất định tại một thời điểm nhất định”[16]. Ở cấp độ vi mô, Nguyễn Ngọc Quân và Nguyễn Văn Điềm (2004) cho rằng, “Nguồn nhân lực của một tổ chức bao gồm tất cả những người lao động làm việc trong tổ chức đó”[7].
Còn theo Bùi Văn Nhơn (2006), “Nguồn nhân lực doanh nghiệp là lực lượng lao động của từng doanh nghiệp, là số người có trong danh sách của doanh nghiệp, do doanh nghiệp trả lương”[3]. Trên cơ sở các khái niệm nêu trên về nguồn nhân lực cũng như đứng trên gốc độ nghiên cứu của luận văn là gốc độ nguồn nhân lực trong tổ chức thì khái niệm về nguồn nhân lực do Nguyễn Văn Điềm và Nguyễn Ngọc Quân là phù hợp nhất, theo đó, nguồn nhân lực của một tổ chức bao gồm tất cả những người lao động làm việc trong tổ chức. Giữa nguồn nhân lực và sự phát triển của tổ chức có mối quan hệ biện chứng với nhau. Nếu nguồn nhân lực là động lực thúc đẩy sự phát triển của tổ chức thì nguồn nhân lực cũng là mục tiêu của chính sự phát triển của tổ chức.
Hay nói cách khác, với vai trò trung tâm, nguồn nhân lực giữ một vai trò quyết định đối với sự phát triển của tổ chức, tuy nhiên, sự phát triển của tổ chức suy cho cùng cũng nhằm phục vụ lợi ích và tạo điều kiện phát triển nguồn nhân lực. Do đó giữa tổ chức và người lao động trong tổ chức phải có một mối quan hệ ràng buộc chặt chẽ để cùng nhau phát triển bền vững trong sự phát triển chung của xã hội. Khái niệm đào tạo và phát nguồn nhân lực Trong tài liệu nghiên cứu về sử dụng hiệu quả nguồn lực con người ở Việt Nam, tác giả Nguyễn Hữu Dũng (2003) đã đưa ra khái niệm về đào tạo nguồn nhân lực; phát triển nguồn nhân lực; đào tạo và phát triển nguồn nhân lực như sau [7]: Đào tạo nguồn nhân lực: Là các hoạt động học tập nhằm giúp cho người lao động có thể thực hiện hiệu quả hơn chức năng, nhiệm vụ của mình bằng 10 cách nâng cao trình độ, kỹ năng của người lao động và làm cho họ nắm vững hơn về công việc mà họ đảm nhận. Phát triển nguồn nhân lực: Là các hoạt động học tập vượt ra khỏi phạm vi công việc trước mắt của người lao động, nhằm mở ra cho họ những công việc mới dựa trên cơ sở những định hướng tương lai của tổ chức.
Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực: Là tổng thể các hoạt động học tập có tổ chức, được tiến hành trong những khoảng thời gian nhất định nhằm tạo ra sự thay đổi hành vi nghề nghiệp của người lao động. Theo Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân (2004) có sự khác biệt giữa đào tạo nguồn nhân lực với phát triển nguồn nhân lực, sự khác biệt được thể hiện ở 4 tiêu chí. So sánh giữa đào tạo nguồn nhân lực với phát triển nguồn nhân lực Tiêu chí so sánh Đào tạo nguồn nhân lực Phát triển nguồn nhân lực 1. Tập trung Công việc hiện tại Công việc tương lai 2.
Phạm vi Cá nhân Cá nhân và tổ chức 3. Thời gian Ngắn hạn Dài hạn 4. Mục đích Khắc phục sự thiếu hụt về kiến Chuẩn bị cho tương lai thức và kỹ năng hiện tại (Nguồn: Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân, 2004) Trên cơ sở so sánh trên cho thấy, giữa đào tạo nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực có điểm tương đồng đều là quá trình học tập để nâng cao các kiến thức, kỹ năng thực hành cho người lao động. Tuy nhiên, đào tạo chủ yếu là hướng vào hiện tại, chú trọng vào việc học tập phục vụ cho công việc hiện thời của cá nhân, giúp các cá nhân có ngay những kiến thức, kỹ năng cần thiết để thực hiện tốt công việc hiện tại.
Còn phát triển lại chú trọng đến học tập phục vụ cho các công việc trong tương lai của cá nhân với tổ chức. Mục tiêu của đào tạo và phát triển nguồn nhân lực Theo Trần Kim Dung (2015), đào tạo và phát triển nguồn nhân lực nhằm 11 sử dụng tối đa nguồn nhân lực hiện có và nâng cao tính hiệu quả của tổ chức thông qua việc giúp cho người lao động hiểu rõ hơn về công việc, nắm vững hơn về nghề nghiệp của mình và thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình một cách tự giác hơn, với thái độ tốt hơn, cũng như nâng cao khả năng thích ứng của họ với các công việc trong tương lai [14]. Từ mục tiêu trên có thể cụ thể hóa mục tiêu đào tạo và phát triển nguồn nhân lực như sau: - Sử dụng tối đa nguồn nhân lực hiện có trong tổ chức. - Giúp người lao động hiểu rõ hơn về công việc, nắm vững hơn về công việc của mình và thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình một cách tự giác hơn, với thái độ tích cực hơn.
- Nâng cao khả năng thích ứng của nhân viên với các công việc trong tương lai và nâng cao được năng suất lao động. - Nâng cao khả năng thích ứng của tổ chức đối với sự thay đổi của môi trường, từ đó nâng cao sức cạnh tranh của tổ chức. Vai trò của đào tạo và phát triển nguồn nhân lực Theo Trần Kim Dung (2015), hoạt động đào tạo và phát triển nguồn nhân lực có vai trò to lớn đối với nền kinh tế - xã hội nói chung cũng như đối với từng tổ chức và bản thân người lao động nói riêng [14]. Cụ thể, vai trò của đào tạo và phát triển nguồn nhân lực được thể hiện trên 3 gốc độ như sau: Đối với người lao động: - Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực tạo ra được sự gắn bó giữa người lao động với tổ chức.
- Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực tạo ra tính chuyên nghiệp cho người lao động. - Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực tạo ra sự thích ứng giữa người lao động và công việc hiện tại cũng như trong tương lai. 12 - Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu nguyện vọng phát triển của người lao động. - Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực tạo cho người lao động có cách nhìn, cách tư duy mới trong công việc của họ là cơ sở để phát huy tính sáng tạo của người lao động trong công việc.
Đối với doanh nghiệp: - Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực góp phần cải tiến về năng suất, chất lượng và hiệu quả công việc. - Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực nâng cao tính ổn định và năng động của tổ chức. - Thông qua đào tạo và phát triển nguồn nhân lực sẽ giảm bớt được sự giám sát, vì khi người lao động được đào tạo, trang bị đầy đủ những kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ cần thiết họ có thể tự giám sát được. - Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực tạo thái độ tán thành và hợp tác trong lao động, giảm bớt tai nạn lao động.
- Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực góp phần duy trì và nâng cao chất lượng của nguồn nhân lực. - Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực tạo điều kiện cho áp dụng tiến bộ kỹ thuật và quản lý vào trong tổ chức. - Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực góp phần nâng cao lợi thế cạnh tranh của tổ chức. Đối với nền kinh tế xã hội: - Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực góp phần nâng cao năng lực của người lao động, từ đó có ảnh hưởng vô cùng to lớn đến sự phát triển cả về mặt kinh tế lẫn về mặt xã hội của một quốc gia.
Ngoài ra, sự phát triển nguồn nhân lực của các tổ chức cũng chính là yếu tố tích cực thúc đẩy nền kinh tế phát triển.