chương I, Bộ luật lao động nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1994, sửa đổi bổ sung các năm 2002, 2006, 2007: “Người lao động là người ít nhất đủ 15 tuổi, có khả năng lao động ” Như vậy, nhân lực (NL) của một quốc gia bao gồm lực lượng lao động và lao động dự trữ. Trong đó, lực lượng lao động là những người với mọi trình độ đang làm việc và người trong độ tuổi lao động nhưng thất nghiệp không có việc làm [11]. - Ở cấp độ doanh nghiệp: NL bao gồm tất cả mọi cá nhân có trình độ học vấn, kiến thức, trình độ chuyên môn, kỹ thuật, kinh nghiệm tích lũy khác nhau và được sắp xếp, bố trí đảm nhận ở các vị trí khác nhau nhưng đều cùng mục tiêu chung của doanh nghiệp. Đào tạo nhân lực Đào tạo nhân lực đó chính là quá trình đào tạo người lao động hiện đang làm việc, chuẩn bị làm việc cho các tổ chức và các doanh nghiệp [12].
Trong Nghị địn hsố 18/2010 của Chính phủ về đào tạo, bồi dưỡng công chức đã giải thích từ ngữ: “Đào tạo là quá trình truyền thụ, tiếp nhận có hệ thống những tri thức, kỹ năng theo quy định của từng cấ phọc, bậc học”. Như vậy, đào tạo có mục tiêu trang bị cho người học hệ thống kiến thức, kỹ năng để đảm nhiệm một công việc lâu dài, mang tính nghề nghiệp, thường thực hiện trong một vài năm và được cấp Luan van 8 bằng trong hệ thống giáo dục quốc gia. Bên cạnh khái niệm đào tạo người ta còn sử dụng khái niệm “đào tạo lại”. Đào tạo lại là quá trình thay đổi dạng hoạt động nghề nghiệp hay phương thức hoạt động nghề nghiệp, bao gồm: Tri thức, phương pháp, kỹ năng, năng lực tổ chức thực hiện…để phù hợp, đáp ứng nhu cầu của công việc và những thay đổi của khoa học – công nghệ, phương thức hoạt động, kỹ năng và môi trường.
Ở một góc độ nhất định, hoạt động đào tạo lại là hệ quả không tốt của việc đào tạo không có kế hoạch, đó là bất cập không chỉ trong đào tạo mà còn là bất cập trong toàn bộ hệ thống giáo dục quốc dân. Các hình thức đào tạo 1.Đào tạo trong công việc Đào tạo trong công việc là các phương pháp đào tạo trực tiếp tại nơi làm việc, trong đó người học sẽ học được những kiến thức cần thiết cho công việc thông qua thực hiện công việc và thường là dưới sự hướng dẫn của những người lao động lành nghề hơn, gồm: Đào tạo theo kiểu chỉ dẫn công việc. Đây là phương pháp phổ biến dung để dạy kỹ năng thực hiện công việc cho hầu hết các công nhân sản xuất và kể cả một số công việc quản lý. Quá trình đào tạo bắt đầu bằng sự giới thiệu và giải thích của người dạy về mục tiêu của công việc và chỉ dẫn tỉ mỉ, theo từng bước về cách quan sát, trao đổi, học hỏi và làm thử cho tới khi thành thạo dưới sự hướng dẫn và chỉ dẫn chặt chẽ của người dạy.
Đào tạo theo kiểu học nghề: Trong phương pháp này, chương trình đào tạo bắt đầu bằng việc học lý thuyết ở trên lớp, sau đó học viên được đưa đến làm việc dưới sự hướng dẫn của công nhân lành nghề trong một vài năm, được thực hiện các công việc thuộc nghề cần học cho tới khi thành thạo tất cả các kỹ năng của nghề. Phương pháp này dung để dạy một nghề hoàn chỉnh cho công nhân. Kèm cặp và chỉ bảo: Phương pháp này thường dung cho cán bộ quản lí và các nhân viên giám sát có thể học được các kiến thức, kĩ năng cần thiết cho công việc Luan van 9 trước mắt và công việc cho tương lai thông qua kèm cặp, chỉ bảo của những người quản lí giỏi hơn. Có một số cách kèm cặp như kèm cặp bởi người lãnh đạo trực tiếp, kèm cặp bởi một cố vấn, kèm cặp bởi người quản lí có kinh nghiệm hơn.
Luân chuyển và thuyên chuyển công việc: Là phương pháp chuyển người quản lí từ công việc này sang công việc khác để nhằm cung cấp cho họ những kinh nghiệm làm việc trong nhiều lĩnh vực khác nhau của doanh nghiệp, có thể luân chuyển và thuyên chuyển theo 3 cách: Chuyển đối tượng đào tạo đến nhận cương vị quản lí ở một bộ phận khác trong tổ chức nhưng vẫn với chức năng và quyền hạn như cũ; Người quản lí được cử đến nhận cương vị công tác mới ngoài lĩnh vực chuyên môn của họ; Người quản lí được bố trí luân chuyển công việc trong phạm vi nội bộ một ngành nghề chuyên môn. Đào tạo ngoài công việc Đào tạo ngoài công việc là phương pháp đào tạo trong đó người học được tách khỏi sự thực hiện các công việc thực tế, gồm: Tổ chức các lớp: Đối với những nghề tương đối phức tạp, hoặc các công việc có tính đặc thù, thì việc đào tạo bằng kèm cặp không đáp ứng được nhu cầu cả về chất lượng và số lượng. Các doanh nghệp có thể tổ chức các lớp đào tạo với các phương tiện và thiết bị dành cho học tập. trong các phương án này chương trình đào tạo gồm hai phần: lý thuyết và thực hành.
Phần lý thuyết được giảng tập trung cho các kỹ sư, cán bộ kỹ thuật phụ trách. Còn phần thực hành thì được tiến hành ở các xưởng thực tập do các kỹ sư hoặc công nhân lành nghề hướng dẫn. Phương pháp này giúp học viên học tập có hệ thống hơn. Cử đi học ở các trường chính quy: Các doanh nghiệp cũng có thể cử người lao động đến các trường dạyn ghề tổ chức.
Trong phương pháp này, người học sẽ được trang bị tương đối đầy đủ các kiến thức lý thuyết lẫn thực hành. Tuy nhiên phương pháp này tốn nhiều thời gian và kinh phí đào tạo. Các bài giảng, các hội nghị hoặc các hội thảo. Các buổi giảng bài hay hội nghị có thể được tổ chức tại doanh nghiệp Luan van 10 hoặc một hội nghị bên ngoài, có thể được tổ chức riêng hoặc kết hợp với các chương trình đào tạo khác.
Trong các buổi thảo luận, học viên sẽ thảo luận theo từng chủ đề dưới sự hướng dẫn của người lãnh đạo nhóm và qua đó họ học được các kiến thức kinh nghiệm cần thiết. Đào tạo kỹ năng xử lý công văn, giấy tờ: Đây là một kiểu bài tập, trong đó người quản lý nhận được một loạt tài liệu, các bản ghi nhớ, các tường trình, báo cáo, lời dặn dò của cấp trên và các thông tin khác mà một người quản lí có thể nhận được khi vừa tới nơi làm việc và trách nhiệm xử lí nhanh chóng và đúng đắn. Phương pháp này giúp người quản lí học tập cách ra quyết định nhanh chóng trong công việc hàng ngày. Đào tạo kiểu phòng thin ghiệm: Phương pháp này bao gồm các cuộc hội học tập trong đó sử dụng các kỹ thuật như: bài tập tình huống, diễn dịch, mô phỏng trên máy tính, các thí nghiệm, trò chơi quản lí hoặc là các bài tập giải quyết vấn đề.
Đây là cách đào tạo hiện đại ngày nay nhằm giúp cho người học giải quyết các tình huống giống như trên thực tế. Đào tạo theo kiểu chương trình hóa, với sự trợ giúp của máy tính và các thiết bị. Đây là phương pháp đào tạo kỹ năng hiện tại mà nhiều công ty ở nước ngoài đang sử dụng rộng rãi. Trong phương pháp này, các chương trình đào tạo được viết sẵn trên đĩa mềm của máy tính, người học chỉ thực hiện theo các hướng dẫn của máy tính.
Nội dung đào tạo nhân lực 1.Tính toán nhu cầu đào tạo nhân lực Tính toán nhu cầu đào tạo là việc khảo sát tính toán làm rõ sự cần thiết phải đào tạo nhân lực cả về mặt định tính và định lượng đối với nhân lực trong một tổ chức, đơn vị cũng như doanh nghiệp.[13] Bằng một số kỹ thuật sau đây để tính toán nhu cầu đào tạo nhân lực: *Phỏng vấn người lao động: Để tìm hiểu nguyện vọng, tâm tư và sự đáp ứng yêu cầu hiện tại của người lao động đối với vị trí được giao có hiệu quả chưa. *Sử dụng phiếu khảo sát: Người lao động sẽ trả lời trong phiếu khảo sát những câu hỏi liên quan đến vị trí, nhu cầu, triển vọng nghề nghiệp, thách thức, cơ hội, sự Luan van 11 khó khăn của công việc hiện tại. Các đơn vị tính toán nhu cầu đào tạo nhân lực thường tập trung vào hai nhóm: - Đào tạo nghiệp vụ chuyên môn như tổ chức các khóa đào tạo cho lao động gián tiếp (cán bộ quản lý và nhân viên văn phòng)và lao động trực tiếp sản xuất (công nhân lắp đặt thiết bị, nhân viên kỹ thuật); - Đào tạo kỹ năng mềm như kỹ năng quản lý thời gian, kỹ năng động viên, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng ủy thác công việc. Xây dựng kế hoạch đào tạo nhân lực Bước 1.
Xác định mục tiêu đào tạo: Thực hiện những công việc sau: - Xác định chuyên môn, nghiệp vụ nào thuộc kế hoạch đào tạo; - Xác định nội dung đào tạo và tổng số học viên; - Thời gian đào tạo; Bước 2. Xác định đối tượng đào tạo: Khi lựa chọn đối tượng đào tạo phải chú ý đến nhu cầu của người học, điều kiện của người học, khả năng của người học và tính tới hiệu quả của việc đào tạo đối với đối tượng nay.Xây dựng nội dung chương trình đào tạo: Đây cũng là bước rất quan trọng, khi xây dựng chương trình đào tạo cần phải bám sát vào nhu cầu công việc và vị trí việc làm, trên cơ sở đó mà xây dựng chương trình chi tiết cho từng nội dung đào tạo cụ thể. Trong chương trình đào tạo phải làm rõ được mục tiêu, cấu trúc, các môn học và các yêu cầu cụ thể về chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo, cần xây dựng ma trận chuẩn đầu ra cho chương trình đào tạo Bước 4.Chọn giảng viên cho việc đào tạo: Tùy theo việc lựa chọn phương pháp đào tạo nào mà từ đó lựa chọn người dạy sao cho phù hợp với chương trình đào tạo, có thể lựa chọn từ chính những nghệ nhân, công nhân lành nghề, các chuyển gia, các nhà quản lý giỏi, các nhà khoa học để họ có thể truyền tải tốt nhất cả kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cho đối tượng được đào tạo. [14] Luan van 12 Bước 5.Dự kiến chi phí đào tạo: Việc xác định dự kiến chi phí đào tạo đòi hỏi phải được tính toán kỹ trên cơ sở tình hình tài chính của từng doanh nghiệp, theo nội dung, mục tiêu của khóa đào tạo sao cho hợp lý và mang lại hiệu quả cao nhất và tránh lãng phí.