Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 1.1 Các khái niệm Khái niệm đào tạo Theo từ điển tiếng Việt, đào tạo được hiểu là “Đào tạo là quá trình tác động đến một con người nhằm làm cho người đó lĩnh hội và nắm những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo…một cách có hệ thống nhằm chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng nhận một sự phân công lao động nhất đinh góp phần của mình vào việc phát triển kinh tế xã hội duy trì và phát triển nền văn minh của loài người. Tùy theo tính chất chuẩn bị cho cuộc sống và lao động, người ta phân biệt đào tạo chuyên môn và đào tạo nghề nghiệp. Hai loại này gắn bó và hỗ trợ lẫn nhau với những nội dung do đòi hỏi của sản xuất, của các quan hệ xã hội, của tình trạng khoa học, kỹ thuật – công nghệ và văn hóa đất nước.” Quan điểm của tác giả Nguyễn Văn Điền và tác giả Nguyễn Ngọc Quân trong giáo trình Quản Trị Nhân lực xuất bản năm 2005 cho rằng “Đào tạo là quá trình học tập làm cho người lao động có thể thực hiện được các chức năng nhiệm vụ có hiệu quả hơn trong công tác của họ” [1]. Với những quan điểm trên thì đào tạo cung cấp cho người học các kiến thức cả lý thuyết lẫn thực hành, là một quá trình học tập, thực hiện các hoạt động học tập giúp cho người lao động có thể thực hiện tốt nhất chức năng nhiệm vụ trong công việc.
Ngoài những kiến thức họ đã có sẵn, đào tạo trong các cơ sở giáo dục nghề nghiệp là bổ sung những gì họ còn thiếu và yếu nhằm hoàn chỉnh kiến thức kỹ năng để họ ngày càng đáp ứng tốt hơn yêu cầu của công việc. Theo giáo trình Quản Trị Nhân lực (Tập 2) của trường đại học Lao động - Xã hội do tác giả Lê Thanh Hà chủ biên năm 2009 thì: “Đào tạo là một quy trình có hoạch định và có tổ chức nhằm tăng kết quả thực hiện công việc”[4]. Với cách hiểu này, việc đào tạo phải được thiết kế chương trình sao cho thỏa mãn được nhu cầu đã 13 xác định, có phân công vai trò và trách nhiệm của những người đã tham gia và có xác định mục tiêu rõ ràng. Theo Luật giáo dục nghề nghiệp số 74/2014/QH13 ngày 27 tháng 11 năm 2014 ban hành trong cơ sở giáo dục nghề nghiệp [18], tổng hợp và tiếp thu những khái niệm trên, trong luận văn này chúng tôi sử dụng khái niệm đào tạo như sau: là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học hoặc để nâng cao trình độ nghề nghiệp.
Có nhiều hình thức đào tạo: đào tạo chính quy và đào tạo thường xuyên (vừa làm vừa học, học từ xa hoặc tự học có hướng dẫn). Khái niệm đào tạo nguồn nhân lực Nguồn nhân lực: ngày nay mỗi cộng đồng xã hội, mỗi tổ chức, đơn vị muốn tồn tại và phát triển đều cần đến các nguồn lực khác nhau như nguồn lực tài chính, cơ sở vật chất, khoa học công nghệ, nguồn lực con người,.Trong các nguồn lực trên, nguồn lực con người - còn gọi là nguồn nhân lực là quan trọng nhất, đóng vai trò quyết định trong việc khai thác có hiệu quả các nguồn lực còn lại. Với tất cả các tổ chức, đơn vị thế mạnh về nguồn nhân lực là lợi thế rất lớn trong cạnh tranh và phát triển. Khái niệm nguồn nhân lực được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau, theo cách tiếp cận của Liên hợp quốc: “Nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực tế, hoặc tiềm năng để phát triển kinh tế - xã hội trong một cộng đồng”[12].Mác cho rằng, sức lao động hay năng lực lao động tồn tại trong thân thể con người, tức là thân thể người sống.
Mỗi khi con người sản xuất ra giá trị sử dụng nào đó thì phải vận dụng tổng hòa thể lực và trí lực. Vậy nguồn nhân lực là tổng hòa toàn bộ thể lực và trí lực tồn tại trong cơ thể con người, do con người chi phối. Nguồn nhân lực được cấu thành trên hai mặt: số lượng và chất lượng; về số lượng: nguồn nhân lực bao gồm tổng thể những người trong độ tuổi lao động và 14 thời gian làm việc có thể huy động của họ, về chất lượng: nguồn nhân lực thể hiện ở giới tính, sức khỏe, trình độ, chuyên môn, ý thức, tác phong, thái độ làm việc của người lao động. Việc nâng cao trình độ văn hóa, chuyên môn kỹ thuật cho nguồn nhân lực phải không ngừng phát triển toàn diện về mặt chính trị, tư tưởng, đạo đức, thể chất, năng lực, sáng tạo, có ý thức cộng đồng, lòng nhân ái, khoan dung, tôn trọng nghĩa tình, lối sống văn hóa, quan hệ hài hòa trong gia đình, cộng đồng và xã hội.
Trên cơ sở tiếp thu, kế thừa nội dung các quan niệm trên, trong luận văn này chúng tôi sử dụng khái niệm: nguồn nhân lực là tổng thể số lượng và chất lượng những người lao động đáp ứng nhu cầu nhất định về loại hình lao động tương ứng của mỗi tổ chức trong xã hội. Hiện nay với phương thức lao động mới, việc đào tạo, quản lý nguồn nhân lực có tính chất mềm dẻo, linh hoạt hơn, tạo điều kiện tốt hơn để người lao động có thể phát huy ở mức cao nhất các khả năng tiềm ẩn, vốn có của họ thông qua tích lũy tự nhiên trong quá trình lao động phát triển. Tổng hợp từ những khái niệm, quan điểm trên về đào tạo, nguồn nhân lực chúng tôi sử dụng khái niệm: “Đào tạo nguồn nhân lực là quá trình tác động, dạy và rèn luyện con người thông qua việc tổ chức truyền thụ tri thức và những kinh nghiệm lịch sử xã hội của loài người để gây dựng họ trở thành người có hiểu biết đạt đến một trình độ chuyên môn nghề nghiệp nhất định, có khả năng đảm nhân một sự phân công lao động xã hội trong thời kỳ phát triển kinh tế - xã hội”. Khái niệm văn hóa nghệ thuật Văn hóa Có nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa, theo UNESCO (Tuyên bố Mondial Cult, Mexico 1982): “Văn hóa là tổng hòa các đặc tính nổi bật về tinh thần, vật chất, trí tuệ và tình cảm mà chúng đặc trưng cho một xã hội hay nhóm xã hội.
Nó bao gồm không chỉ nghệ thuật và văn học, mà cả lối sống, các quyền cơ bản của nhân loại, các hệ thống giá trị, truyền thống và tín ngưỡng”. Cũng định nghĩ 15 văn hóa, trước đó Bác Hồ định nghĩa như sau: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học nghệ thuật, những công cụ sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và những phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó là văn hóa”. Văn hóa biểu đạt gồm những từ ngữ cơ bản: văn hóa chỉ một quá trình phát triển chung về trí tuệ, tâm hồn và mỹ học; chỉ phương thức sống; chỉ những công trình, tác phẩm, hoạt động, đặc biệt về trí tuệ và nghệ thuật; văn hóa mang tính nhân học, gồm: lối sống, ngôn ngữ, chữ viết, truyền thống, tôn giáo và hệ các giá trị.
Văn hóa nghệ thuật Nghệ thuật chỉ những công trình, tác phẩm, hoạt động, đặc biệt về trí tuệ và các sản phẩm liên quan đến hoạt động trí tuệ và nghệ thuật sáng tạo (âm nhạc, hội họa,văn học, nghệ thuật trình diễn, nghệ thuật nghe-nhìn…). Nghệ thuật dân gian về loại hình: bảo tàng, thư viện, kiến trúc, điện ảnh, mỹ thuật, sân khấu, âm nhạc (sự kiện, quảng cáo, truyền thông, design, phát hành, sản xuất, …); về lao động: bảo tồn, bảo tàng, lưu trữ, sưu tầm, nghiên cứu, lý luận, sáng tạo, biểu diễn, sản xuất, sự kiện, quảng bá, maketing,… Các định nghĩa văn hóa trên cho thấy “nghệ thuật” nó nằm trong định nghĩa “văn hóa”, khi định nghĩa “văn hóa” là bao hàm luôn “ văn hóa nghệ thuật”. Trong luận văn này khi nghiên cứu về đào tạo nguồn nhân lực văn hóa nghệ thuật tại các cơ sở giáo dục đào tạo, chúng tôi tiếp thu, kế thừa sử dụng khái niệm văn hóa nghệ thuật với lao động sản xuất cụ thể là: lối sống, ngôn ngữ, truyền thống, tôn giáo và hệ các giá trị, bảo tàng, thư viện, kiến trúc, điện ảnh, mỹ thuật, sân khấu, âm nhạc. Khái niệm nguồn nhân lực văn hóa nghệ thuật và đào tạo nguồn nhân lực văn hóa nghệ thuật Nguồn nhân lực văn hóa nghệ thuật Tổng hợp các khái niệm nguồn nhân lực, văn hóa nghệ thuật chúng tôi kế thừa, sử dụng khái niệm nguồn nhân lực văn hóa nghệ thuật như sau: nguồn nhân lực văn hóa nghệ thuật là toàn bộ đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, nghệ sĩ, 16 diễn viên,… làm việc tại các tổ chức văn hóa nghệ thuật (các lĩnh vực lãnh đạo, quản lý, sáng tạo, biểu diễn, phổ biến, sản xuất).
Đào tạo nguồn nhân lực văn hóa nghệ thuật Tương tự như vậy chúng tôi sẽ rút ra và sử dụng khái niệm đào tạo nguồn nhân lực văn hóa nghệ thuật là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học hoặc đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, nghệ sĩ, diễn viên,… đang làm việc tại các tổ chức văn hóa nghệ thuật (các lĩnh vực lãnh đạo, quản lý, sáng tạo, biểu diễn, phổ biến, sản xuất), để nâng cao trình độ nghề nghiệp lĩnh vực văn hoá nghệ thuật. Nội dung công tác đào tạo NNL của các cơ sở giáo dục nghề nghiệp Các quan điểm và nguyên tắc về đào tạo nguồn nhân lực Đào tạo phải hướng vào việc thực hiện các mục tiêu của các tổ chức, đơn vị sử dụng lao động: Mục tiêu của các tổ chức, đơn vị sử dụng lao động khá đa dạng, gồm mục tiêu ngắn hạn, trung hạn và dài hạn. Thông thường, mục tiêu ngắn hạn tập trung vào việc khắc phục các thiếu sót trong kiến thức, kỹ năng và thái độ đối với công việc hiện tại. Mục tiêu trung hạn thường hướng tới việc trong tương lai gần, các tổ chức, đơn vị sử dụng lao động cần đạt được sự phát triển theo hướng giúp người lao động nắm được các kiến thức, kỹ năng để góp phần đạt được mục tiêu đó.