CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC TRONG CÁC DOANH NGHIỆP 1. TỔNG QUAN VỀ ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC 1. Một số khái niệm a. Nhân lực Nhân lực là sức người, về mặt sử dụng trong lao động sản xuất.[10] Nhân lực là nguồn lực của mỗi người, bao gồm thể lực và trí lực được sử dụng trong quá trình lao động sản xuất.
Thể lực chỉ sức khoẻ của con người, nó phụ thuộc vào sức vóc, tình trạng sức khoẻ của từng con người, mức sống, thu nhập, chế độ ăn uống, chế độ làm việc và nghỉ ngơi, chế độ y tế. Thể lực con người còn tuỳ thuộc vào tuổi tác, thời gian công tác, giới tính… Trí lực thể hiện là khả năng suy nghĩ, sự hiểu biết hay khả năng làm việc bằng trí óc của con người, nó phụ thuộc vào năng khiếu bẩm sinh, quá trình rèn luyện, học tập cũng như quan điểm, lòng tin, nhân cách…của từng con người.[3] Nhân lực cũng có thể hiểu là sức mạnh của lực lượng lao động trong doanh nghiệp. Sức mạnh đó phải được kết hợp giữa người lao động và các nhóm yếu tố: sức khoẻ, trình độ, tâm lý và khả năng cố gắng. Nhân lực của một doanh nghiệp là toàn bộ những khả năng lao động mà doanh nghiệp cần và huy động được cho việc thực hiện và hoàn thành những nhiệm vụ trước mắt và lâu dài của doanh nghiệp.
Như vậy, nhân lực là bao gồm thể lực và trí lực của con người, nó phản ánh sức người và khả năng lao động của con người. Nguồn nhân lực Tuỳ theo mục tiêu cụ thể và cách tiếp cận khác nhau mà người ta có những quan niệm và cách nhìn nhận khác nhau về nguồn nhân lực (NNL). Một số quan niệm về nguồn nhân lực được nêu ra như sau: Luan van 8 Nguồn nhân lực là nguồn lực về con người được nghiên cứu dưới nhiều khía cạnh. Theo nghĩa hẹp nó bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động, như vậy nguồn nhân lực tương đương với nguồn lao động.
Theo nghĩa rộng nguồn nhân lực gồm những người từ đủ 15 tuổi trở lên, nó là tổng hợp những cá nhân, những con người cụ thể tham gia vào quá trình lao động. Nguồn nhân lực là toàn bộ khả năng về sức lực, trí tuệ của mọi cá nhân trong tổ chức, bất kể vai trò của họ là gì. Theo ý kiến này, nói đến NNL là nói đến sức óc, sức bắp thịt, sức thần kinh và nhìn nhận các khả năng này ở trạng thái tĩnh. Khác với quan niệm trên, khi xem xét vấn đề ở trạng thái động thì nguồn nhân lực là tổng hợp cá nhân những con người cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể chất và tinh thần được huy động vào quá trình lao động.
Nguồn nhân lực được xác định như tiềm năng của một con người, tiềm năng đó bao hàm tổng hoà năng lực về thể lực, trí lực, nhân cách của con người đáp ứng yêu cầu do nền kinh tế – xã hội đòi hỏi. Nguồn nhân lực vừa là phương tiện vừa là mục đích, nguồn nhân lực tương tác với các nguồn lực khác và đó là con người có cá tính, năng lực riêng. Nguồn nhân lực là tổng thể tiềm năng con người của một quốc gia hay một địa phương được chuẩn bị ở mức độ nào đó có khả năng huy động vào quá trình phát triển kinh tế xã hội của một đất nước hay một địa phương cụ thể trong một thời kỳ xác định. Nguồn nhân lực là nguồn lực con người.
Nguồn lực đó được xem xét ở hai khía cạnh. Trước hết, với ý nghĩa là nguồn gốc, là nơi phát sinh ra nguồn lực. Nguồn nhân lực nằm ngay trong bản thân con người, đó cũng là sự khác nhau cơ bản giữa nguồn lực con người và các nguồn lực khác. Thứ hai, nguồn nhân lực được hiểu là tổng thể nguồn lực của từng cá nhân con người.
Với tư Luan van 9 cách là một nguồn lực của quá trình phát triển, nguồn nhân lực là nguồn lực con người có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội được biểu hiện ra là số lượng và chất lượng nhật định tại một thời điểm nhất định. Trong doanh nghiệp thì nguồn nhân lực là toàn bộ con người bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp mà mỗi cá nhân sở hữu được sử dụng vào trong quá trình sản xuất, kinh doanh để mang lại năng xuất cao hơn về mặt kinh tế. Nguồn nhân lực của doanh nghiệp là tất cả những người đang làm việc trong tổ chức, doanh nghiệp đó; là lực lượng lao động của từng doanh nghiệp được hình thành trên cơ sở của các cá nhân có vai trò khác nhau và được liên kết với nhau theo những mục tiêu nhất định. Nguồn nhân lực doanh nghiệp được xem xét trên góc độ số lượng và chất lượng.
Số lượng được biểu hiện thông qua các chỉ tiêu quy mô và tốc độ tăng nguồn nhân lực. Các chỉ tiêu về số lượng có quan hệ mật thiết với chỉ tiêu quy mô và tăng trưởng của doanh nghiệp. Chất lượng thể hiện thông qua tình trạng sức khoẻ, trình độ văn hoá, trình độ chuyên môn, kỹ năng, kinh nghiệm… Tóm lại, nguồn nhân lực là một khái niệm mang tính tổng hợp các đặc tính số lượng và chất lượng về nguồn nhân lực, được mô tả bởi quy mô và cơ cấu các đặc điểm giới tính, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, ngành nghề hay một đặc tính nào khác. Như vậy, nói đến nguồn nhân lực, chúng ta không dừng lại ở việc mô tả quy mô của lực lượng này và cơ cấu theo các đặc tính dễ xác định như giới tính, trình độ chuyên môn nghiệp vụ mà còn xác định các thông tin về kỹ năng, kinh nghiệm, sự tận tâm, nỗ lực, tiềm năng sáng tạo,.
Quản trị nguồn nhân lực là thiết kế các chính sách và thực hiện hoạt động nhằm làm cho con người đóng góp giá trị hữu hiệu nhất cho tổ chức. Luan van 10 Từ những vấn đề trên, ta có thể khái quát như sau: Nguồn nhân lực là tổng thể những tiềm năng của con người (trước hết và cơ bản nhất là tiềm năng lao động), bao gồm: thể lực, trí lực, nhân cách của con người nhằm đáp ứng yêu cầu của một tổ chức hoặc một cơ cấu kinh tế – xã hội nhất định. Đào tạo nguồn nhân lực Là quá trình học tập làm cho người lao động nắm vững hơn về công việc của mình, là quá trình trang bị kiến thức, kỹ năng, khả năng thuộc một nghề, một chuyên môn nhất định để người lao động thực hiện có hiệu quả chức năng và nhiệm vụ của mình. Đào tạo nguồn nhân lực là một loại hoạt động có tổ chức, được thực hiện trong một thời gian nhất định và nhằm đem đến sự thay đổi nhân cách và nâng cao năng lực của con người.
Có thể nói, đào tạo nguồn nhân lực được xem như là một hoạt động có tổ chức, được thực hiện trong một thời gian nhất định nhằm đem đến sự thay đổ để chuẩn bị con người cho tương lai, để họ có thể chuyển tới công việc mới trong thời gian thích hợp dựa trên những yêu cầu, định hướng tương lai của tổ chức.[10] Việc đào tạo nguồn nhân lực là rất cần thiết cho sự thành công của tổ chức và sự phát triển chức năng của con người. Đào tạo nguồn nhân lực không chỉ được thực hiện bên trong một tổ chức, mà còn bao gồm một loạt những hoạt động khác được thực hiện từ bên ngoài như: học việc, học nghề và hành nghề. Kết quả của quá trình đào tạo nguồn nhân lực sẽ nâng cao chất lượng, phát triển nguồn nhân lực đó. Ý nghĩa của đào tạo nguồn nhân lực Đào tạo nguồn nhân lực là một trong những hoạt động quan trọng của quản lý nguồn nhân lực, có tác dụng và ý nghĩa nhất định đối với cả doanh nghiệp và người lao động; tạo sự gắn bó giữa nguồn nhân lực và doanh Luan van 11 nghiệp, sự tương thích giữa nguồn nhân lực với công việc hiện tại cũng như tương lai.
Đây là mắc xích quan trọng góp phần giải quyết các vấn đề liên quan đến quản trị nguồn nhân lực như: quyền lợi, tuyển chọn, quan hệ lao động, phân tích và thiết kế công việc, thái độ, quan điểm, động cơ làm việc,… Đào tạo nguồn nhân lực là một yếu tố cơ bản nhằm đáp ứng các mục tiêu chiến lược của doanh nghiệp. Công tác đào tạo trực tiếp ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng, khả năng sáng tạo và đổi mới của người lao động trong các doanh nghiệp. Đối với doanh nghiệp - Là những giải pháp có tính chiến lược để tạo ra lợi thế cạnh tranh tranh cho doanh nghiệp, tạo động lực thúc đẩy sự phát triển và mang lại thành công cho doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh. - Nâng cao năng suất lao động, hiệu quả thực hiện công việc.
- Nâng cao chất lượng của thực hiện công việc. - Tạo điều kiện áp dụng tiến bộ kỹ thuật và quản lý vào doanh nghiệp. - Đào tạo bù đắp sự thiếu hụt về nhân lực. - Giảm bớt tai nạn lao động, rủi ro nghề nghiệp do người lao động nắm chuyên môn tốt hơn và có thái độ tốt hơn trong công việc.
Đối với người lao động - Đáp ứng nhu cầu học tập và tự hoàn thiện bản thân của người lao động, giúp họ có thể thích nghi, áp dụng một cách nhanh chóng và thành công cá thay đổi công nghệ. - Giúp người lao động nâng cao kỹ năng và kiến thức trong công việc. - Giải quyết các xung đột phát sinh giữa người lao động và các nhà quản lý, tạo mối quan hệ gắn bó giữa người lao động và doanh nghiệp. NỘI DUNG CỦA ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC Việc đào tạo nguồn nhân lực là một yếu tố quan trọng để thực hiện các Luan van 12 mục tiêu, chiến lược của doanh nghiệp ở hiện tại và trong tương lai, giúp người lao động có đủ trình độ, khả năng phù hợp với một công việc nhất định tại doanh nghiệp.
Để công tác đào tạo đạt hiệu quả thì mỗi doanh nghiệp cần phải xây dựng được nội dung đào tạo nguồn nhân lực một cách có hệ thống, khoa học, phù hợp với tình hình cụ thể của mình. Thông thường nội dung cơ bản về đào tạo nguồn nhân lực gồm các nội dung như sau: 1. Xác định mục tiêu đào tạo Xác định mục tiêu đào tạo là xác định những tiêu chuẩn, kiến thức, kỹ năng mà học viên cần phải đạt được sau quá trình đào tạo.