phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 3 chƣơng sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn đào tạo nghề cho lao động nông thôn Chƣơng 2: Thực trạng đào tạo nghề cho lao động nông thôn Hà Tĩnh từ năm 2008 đến nay. Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn Hà Tĩnh thời gian tới. 9 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN 1. Cơ sở lý luận về đào tạo nghề cho lao động nông thôn 1.
Khái niệm đào tạo nghề: * Nghề: Theo giáo trình Kinh tế lao động của trƣờng Đại học kinh tế quốc dân Hà Nội: Nghề là một dạng xác định của hoạt động trong hệ thống phân công lao động của xã hội, là toàn bộ kiến thức (hiểu biết) và kỹ năng mà một ngƣời lao động cần có để thực hiện các hoạt động xã hội nhất định trong một lĩnh vực lao động nhất định. Quan niệm ở mỗi quốc gia đều có sự khác nhau nhất định về khái niệm nghề. Cho đến nay thuật ngữ “Nghề” đƣợc hiểu và định nghĩa theo nhiều cách khác nhau. Đối với nƣớc Nga, “Nghề” đƣợc định nghĩa "Là một loại hoạt động lao động đòi hỏi có sự đào tạo nhất định và thƣờng là nguồn gốc của sự sinh tồn"; Khái niệm “Nghề” ở Pháp: "Là một loại lao động có thói quen về kỹ năng, kỹ xảo của một ngƣời để từ đó tìm đƣợc phƣơng tiện sống"; Khái niệm “Nghề” ở Anh: "Là công việc chuyên môn đòi hỏi một sự đào tạo trong khoa học nghệ thuật"; Khái niệm “Nghề” ở Đức: "Là hoạt động cần thiết cho xã hội ở một lĩnh vực lao động nhất định đòi hỏi phải đƣợc đào tạo ở trình độ nào đó".
Còn đối với Việt nam, nhiều định nghĩa nghề đƣợc đƣa ra trong đó có định nghĩa: Nghề là một tập hợp lao động do sự phân công lao động xã hội quy định mà giá trị của nó trao đổi đƣợc. Nghề mang tính tƣơng đối, nó phát sinh, phát triển hay mất đi do trình độ của nền sản xuất và nhu cầu xã hội. Mặc dù khái niệm nghề đƣợc hiểu dƣới nhiều góc độ khác nhau song 10 chúng ta có thể nhận thấy một số nét đặc trƣng nhất định sau: đó là hoạt động, là công việc về lao động của con ngƣời đƣợc lặp đi lặp lại; là sự phân công lao động xã hội, phù hợp với yêu cầu xã hội; là phƣơng tiện để sinh sống; là lao động kỹ năng, kỹ xảo chuyên biệt có giá trị trao đổi trong xã hội đòi hỏi phải có một quá trình đào tạo nhất định. * Đào tạo: Để hiểu bản chất của đào tạo nghề cần xuất phát từ những khái niệm gốc “giáo dục” và “đào tạo”.
Từ điển Tiếng Việt có sự phân biệt giữa “giáo dục” và “đào tạo”. “Giáo dục là quá trình hoạt động có ý thức, có mục đích, có kế hoạch nhằm truyền cho lớp ngƣời mới những kinh nghiệm đấu tranh và sản xuất, những tri thức về tự nhiên, về xã hội và tƣ duy, để họ có thể có đủ khả năng tham gia vào lao động và đời sống xã hội” [6, tr 350]. Còn “Đào tạo là sự đào luyện, gây dựng, làm phát triển và bồi dƣỡng khả năng” [6, tr 275]. Nhƣ vậy, đào tạo là quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức nhằm truyền đạt các kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo trong lý thuyết và thực tiễn, tạo ra năng lực để thực hiện thành công một hoạt động nghề nghiệp đáp ứng nhu cầu xã hội.
Nói cách khác, đào tạo là sự phát triển có hệ thống về kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo cho mỗi cá nhân để họ thực hiện một nghề hoặc một nhiệm vụ cụ thể một cách tốt nhất. Đào tạo đƣợc thực hiện bởi các loại hình tổ chức chuyên ngành nhằm thay đổi hành vi và thái độ làm việc của con ngƣời, tạo cho họ khả năng đáp ứng đƣợc tiêu chuẩn và hiệu quả của công việc chuyên môn. * Đào tạo nghề: Theo Điều 5, Luật đào tạo nghề thì đào tạo nghề đƣợc khái niệm: “Là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho ngƣời học nghề để có thể tìm đƣợc việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học” [11, tr 1]. Đào tạo nghề bao gồm hai quá trình có quan hệ hữu cơ với nhau, đó là dạy nghề và học nghề.
Dạy nghề “Là hoạt động dạy nghề và học nhằm trang 11 bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho ngƣời học nghề để có thể tìm đƣợc việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học”. Học nghề: “Là quá trình tiếp thu những kiến thức về lý thuyết và thực hành của ngƣời lao động để đạt đƣợc một trình độ nghề nghiệp nhất định”. Đào tạo nghề cho ngƣời lao động là giáo dục kỹ thuật sản xuất cho ngƣời lao động để họ nắm vững nghề nghiệp, chuyên môn bao gồm đào tạo nghề mới, đào tạo nghề bổ sung, đào tạo lại nghề. Theo giáo trình Kinh tế lao động của trƣờng Đại học kinh tế quốc dân Hà Nội thì: Đào tạo nghề là đào tạo nguồn nhân lực, là quá trình trang bị kiến thức nhất định về chuyên môn nghiệp vụ cho ngƣời lao động, để họ có thể đảm nhận đƣợc một số công việc nhất định.
Nhƣ vậy, các khái niệm trên đã không chỉ dừng lại ở trang bị những kiến thức, kỹ năng cơ bản mà còn đề cập đến thái độ lao động cơ bản. Điều này thể hiện tính nhân văn, tinh thần xã hội chủ nghĩa, đề cao ngƣời lao động ngay trong quan niệm về lao động chứ không chỉ coi lao động là một nguồn vốn nhân lực, coi công nhân nhƣ cái máy sản xuất với công nghệ và kỹ thuật tiên tiến hiện nay. Thực tế, trong các văn bản pháp quy chính thức, cũng nhƣ trong đời sống xã hội, các thuật ngữ “dạy nghề” hoặc “đào tạo nghề” đƣợc dùng khá phổ biến, còn thuật ngữ “đào tạo lao động kỹ thuật” chỉ mới xuất hiện gần đây. Đây cũng chính là bƣớc phát triển mới về tƣ duy nhằm làm rõ hơn và nâng lên tầm cao mới hệ thống giáo dục nghề nghiệp so với quan niệm truyền thống trƣớc đây coi đào tạo nghề chỉ là đào tạo lực lƣợng lao động chân tay, mang tính cơ bắp, trong quá trình lao động chủ yếu sử dụng lao động cơ bắp của con ngƣời.
Quan niệm này về dạy nghề không còn phù hợp với nền sản xuất hiện đại. Khái niệm dạy nghề theo quan niệm mới phải phù hợp với điều kiện kỹ thuật - công nghệ phát triển, sử dụng trong sản xuất ngày càng phổ 12 biến hệ thống máy móc, thiết bị hiện đại, tự động hoá. Bởi vậy, thực chất hệ thống giáo dục nghề nghiệp theo định hƣớng mới là hệ thống đào tạo lao động kỹ thuật trong thời kỳ mới. Hệ thống này có nhiệm vụ đào tạo ngƣời lao động về kiến thức, kỹ năng thực hành nghề, nhân cách ở các cấp trình độ, có đủ khả năng tìm việc làm và năng lực tự tạo việc làm, năng lực thích ứng với sự biến đổi nhanh chóng của công nghệ và thực tế sản xuất kinh doanh, gắn kết chặt chẽ với việc làm trong xã hội, liên thông với các trình độ đào tạo khác.
Hiện nay chúng ta phải thống nhất dùng khái niệm “đào tạo lao động kỹ thuật” thay thế cho khái niệm “dạy nghề” hoặc “đào tạo nghề” trong các văn bản pháp qui và trong đời sống xã hội. Trong trƣờng hợp còn sử dụng thuật ngữ “dạy nghề” hoặc “đào tạo nghề” thì phải hiểu với nội dung mới, đó là “đào tạo lao động kỹ thuật” trong hệ thống đào tạo kỹ thuật thực hành. Nhƣ vậy, đào tạo nghề chính là đào tạo lao động kỹ thuật, là quá trình hoạt động đào tạo có mục đích, có tổ chức và có kế hoạch trong hệ thống đào tạo kỹ thuật thực hành nhằm hình thành và phát triển kiến thức, kỹ năng, thái độ cho mỗi cá nhân người lao động ở các cấp trình độ để có thể hành nghề, làm công việc phức tạp với năng suất và hiệu quả cao, đồng thời có năng lực thích ứng với sự biến đổi nhanh chóng của kỹ thuật và công nghệ trong thực tế. Lao động nông thôn và đặc điểm của lao động nông thôn Nguồn lao động nông thôn là một bộ phận của nguồn lao động xã hội bao gồm toàn bộ những ngƣời lao động đang làm việc trong nền kinh tế quốc dân và những ngƣời có khả năng lao động nhƣng chƣa tham gia hoạt động trong nền kinh tế quốc dân thuộc khu vực nông thôn.
Cụ thể hơn, nguồn lao động nông thôn bao gồm những ngƣời từ đủ 15 tuổi trở lên sống ở nông thôn đang làm việc trong các ngành, lĩnh vực nhƣ nông, lâm, ngƣ nghiệp, công nghiệp, xây dựng, dịch vụ hoặc các ngành phi nông nghiệp khác và những 13 ngƣời trong độ tuổi có khả năng lao động nhƣng hiện tại chƣa tham gia hoạt động kinh tế. Đặc điểm của ngƣời nông dân và lao động nông thôn nƣớc ta là cần cù, chịu khó, sẵn sàng tiếp thu kiến thức mới để cải tạo thiên nhiên, giúp ích cho hoạt động của mình. Tuy nhiên, một trong những đặc điểm của LĐNT trong giai đoạn hiện nay là làm việc manh mún, do tập quán làm việc theo cảm tính, ngƣời nông dân không có sự tƣ vấn chi tiết của các cơ quan chuyên môn, của những ngƣời có kinh nghiệm; thiếu việc làm, không tìm đƣợc việc làm, thời gian nhàn rỗi; phần lớn chƣa có nghề và chƣa đƣợc đào tạo nghề một cách bài bản là những đặc trƣng cơ bản của LĐNT. Chính đặc điểm của ngƣời nông dân nhƣ trên làm cho vai trò đào tạo nghề càng trở nên quan trọng, quyết định sự thành công của việc hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn nói chung và thành công của phong trào xây dựng nông thôn mới nói riêng.
Tầm quan trọng của đào tạo nghề cho lao động nông thôn Đào tạo nghề cho lao động nông thôn có tầm quan trọng đặc biệt vừa có tính nhân văn, vừa có tính xã hội cao cả, có vai trò quan trọng đối với sự phát triển vốn con ngƣời, nguồn nhân lực, tăng trƣởng kinh tế, tạo việc làm, tăng thu nhập cho ngƣời lao động, giảm nghèo, thực hiện dân chủ, công bằng xã hội, góp phần phát triển kinh tế - xã hội bền vững.