Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Phạm Hoài Phương (chuyên ngành Công đoàn, Trường Đại học Công đoàn, dưới sự hướng dẫn chuyên môn của Thầy giáo Nguyễn Anh Tuấn - Phó Trưởng khoa Công đoàn) tập trung nghiên cứu đề tài: "Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Công đoàn đường sắt Việt Nam đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước". Nghiên cứu xuất phát từ bối cảnh kinh tế - xã hội thời kỳ đổi mới, khi nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa tác động trực tiếp và sâu sắc đến toàn bộ đời sống xã hội. Quá trình này tạo nên những chuyển dịch lớn trong cơ cấu lao động xã hội, cơ cấu giai cấp công nhân nói chung và tổ chức hoạt động Công đoàn nói riêng.

Thực tiễn lúc bấy giờ cho thấy công tác vận động công nhân của Đảng và tổ chức Công đoàn đòi hỏi phải có chuyển biến căn bản, xây dựng đội ngũ cán bộ ngang tầm, có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất cách mạng, năng lực trí tuệ và tổ chức thực hiện phù hợp điều kiện thực tại nhằm phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH). Tuy nhiên, hệ thống Công đoàn vẫn còn bộc lộ nhiều điểm lúng túng: công tác cán bộ còn nhiều bất cập, chưa có biện pháp chủ động tạo nguồn bổ sung, việc tiếp nhận và sử dụng cán bộ còn mang tính chắp vá. Đáng chú ý, công tác đào tạo, bồi dưỡng chưa đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng toàn diện, chưa kịp thời bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chủ chốt, đặc biệt là nhóm cán bộ mới luân chuyển sang làm công tác Công đoàn. Ngành Đường sắt Việt Nam là một ngành kinh tế - kỹ thuật có đóng góp lớn cho sự ổn định và phát triển của đất nước, đòi hỏi phải xây dựng phương hướng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Công đoàn bài bản nhằm đáp ứng nhiệm vụ mới.

Tác giả xác định ba nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể được đánh số rõ ràng trong phần mở đầu của khóa luận:

  1. Đánh giá thực trạng đội ngũ cán bộ Công đoàn và công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Công đoàn ngành đường sắt Việt Nam.
  2. Đề ra giải pháp khắc phục những tồn tại của công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Công đoàn đường sắt Việt Nam trong những năm vừa qua.
  3. Đề xuất ý kiến nhằm hoàn thiện công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Công đoàn đường sắt Việt Nam trong những năm tới, đáp ứng yêu cầu phát triển của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là việc luận giải cơ sở khoa học của công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Công đoàn ngành đường sắt Việt Nam trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước. Phạm vi nghiên cứu bao quát các tác động của công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Công đoàn ngành đường sắt trên phạm vi toàn quốc, đồng thời khảo sát trực tiếp cơ cấu tổ chức của các Công đoàn cơ sở trong hệ thống Công đoàn ngành đường sắt Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Về mặt lý luận, khóa luận dựa trên nền tảng quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về giai cấp công nhân, vai trò của người cán bộ và công tác đào tạo, huấn luyện cán bộ. Khóa luận vận dụng các luận điểm kinh điển của V.I. Lênin về việc giai cấp công nhân phải tự đào tạo ra những lãnh tụ chính trị và đại biểu tiên phong có đủ khả năng tổ chức, lãnh đạo phong trào, cũng như quan điểm xem cán bộ là khâu then chốt của cách mạng. Tác phẩm trích dẫn luận điểm của J.V. Stalin về hai tiêu chuẩn lựa chọn cán bộ hàng đầu: phẩm chất chính trị và năng lực chuyên môn nghiệp vụ. Về phía tư tưởng Hồ Chí Minh, tác giả nhấn mạnh nguyên lý "Cán bộ là cái gốc của mọi công việc", "Huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng", phân tích sâu 5 câu hỏi cốt lõi mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra trong công tác huấn luyện: huấn luyện ai, ai huấn luyện, huấn luyện như thế nào, huấn luyện gì, và tài liệu huấn luyện ra sao.

Bên cạnh lý luận kinh điển, nghiên cứu bám sát các văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam và Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam:

  • Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII về chiến lược cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước;
  • Dự thảo các văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng;
  • Nghị quyết số 05/NQ-TLĐ ngày 30/11/2000 của Ban Chấp hành Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam (khóa VIII) về phương hướng, nhiệm vụ xây dựng đội ngũ cán bộ Công đoàn;
  • Hướng dẫn số 1064/TLĐ ngày 06/09/1996 của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam quy định tiêu chuẩn chức danh cán bộ Công đoàn các cấp;
  • Báo cáo và nghị quyết tại các kỳ Hội nghị Ban Chấp hành Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam khóa VII (lần thứ 3) và khóa VIII (lần thứ 5).

Văn bản làm rõ hai khái niệm cốt lõi:

  • Đào tạo: Việc tổ chức giảng dạy và học tập trong nhà trường gắn giáo dục đạo đức nhân cách với cung cấp kiến thức chuyên môn nghiệp vụ, bao gồm đào tạo tập trung, tại chức, ngắn hạn, dài hạn, đào tạo lại và tự đào tạo.
  • Bồi dưỡng: Việc tăng cường thêm kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, kinh nghiệm để nâng cao chất lượng và năng lực công tác cho người học trong thời gian ngắn hơn, tập trung vào bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng hoặc bồi dưỡng theo chuyên đề.

Phương pháp nghiên cứu thực tế được tác giả sử dụng là sự phối hợp tổng hợp các phương pháp khoa học:

  • Phương pháp điều tra, khảo sát thống kê;
  • Phương pháp tổng kết thực tiễn;
  • Phương pháp lôgic - lịch sử;
  • Phương pháp phân tích và tổng hợp số liệu;
  • Phương pháp quan sát, tích lũy từ quá trình thực tập thực tế tại Ban Tổ chức Công đoàn đường sắt Việt Nam.

Nguồn dữ liệu của đề tài được khai thác trực tiếp từ Phòng Đào tạo Trường Đại học Công đoàn, số liệu lưu trữ của Ban Tổ chức cán bộ Công đoàn ngành đường sắt Việt Nam, cùng các báo cáo chuyên đề của Liên hiệp Đường sắt Việt Nam.

Nội dung chính theo từng chương của khóa luận

Cấu trúc nội dung khóa luận ngoài phần mở đầu và kết luận được chia làm ba phần chính theo đúng đề cương học thuật của tác giả.

Phần thứ nhất: Những vấn đề lý luận cơ bản về cán bộ, công tác cán bộ, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Công đoàn trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Tác giả hệ thống hóa các nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò quyết định của nhân tố con người trong bộ máy lãnh đạo, quản lý. Nội dung khẳng định các nguyên tắc chỉ đạo xuyên suốt trong công tác cán bộ của tổ chức chính trị - xã hội:

  • Công tác cán bộ gắn liền với đường lối và nhiệm vụ chính trị: Cán bộ vừa là "nhân" vừa là "quả" của phong trào cách mạng; đường lối đúng đắn là căn cứ để quy hoạch, đào tạo, tuyển chọn cán bộ.
  • Công tác cán bộ phải gắn liền với tổ chức: Có nhiệm vụ chính trị mới lập ra tổ chức, có tổ chức mới bố trí cán bộ, kiên quyết không vì cá nhân mà sinh ra tổ chức cồng kềnh.
  • Công tác cán bộ phải gắn liền với phong trào cách mạng của quần chúng: Phong trào quần chúng là cái nôi sản sinh, nuôi dưỡng và rèn luyện cán bộ; cán bộ trưởng thành từ phong trào mới có đủ uy tín và năng lực.
  • Giữ vững và tăng cường bản chất giai cấp công nhân dưới sự lãnh đạo thống nhất, trực tiếp của Đảng theo nguyên tắc tập trung dân chủ.

Khóa luận trích xuất bức tranh tổng thể về đội ngũ cán bộ Công đoàn toàn quốc tính đến tháng 1 năm 2002: toàn hệ thống có gần 7.000 cán bộ chuyên trách và khoảng 280.000 cán bộ không chuyên trách (lực lượng không chuyên trách chiếm tỷ trọng 2,4% cán bộ hoạt động thường xuyên ở cơ sở). Tỷ lệ cán bộ xuất thân từ công nhân đạt 45%, độ tuổi bình quân của cán bộ là 45 tuổi. Đáng chú ý, tỷ lệ cán bộ Công đoàn có trình độ Đại học còn rất thấp, chỉ đạt 0,4%, tạo ra khoảng trống lớn về năng lực quản lý kinh tế, pháp luật, ngoại ngữ và tin học.

Khóa luận dẫn chứng cụ thể kết quả đào tạo, bồi dưỡng qua mạng lưới đào tạo của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, tiêu biểu là số liệu từ Trường Đại học Công đoàn giai đoạn 1996 - 2002:

Năm học ĐH tập trung ĐH tại chức ĐH phân phần Hoàn chỉnh kiến thức Cao cấp chính trị Chuyên đề sau ĐH Bồi dưỡng ngắn hạn
1996 - 1997 260 124 77 32 196 - 2
1997 - 1998 291 149 148 - 352 - 3
1998 - 1999 394 192 139 - - - 1.060
1999 - 2000 423 175 293 - 133 135 6.298
2000 - 2001 496 167 520 - 133 135 7.300
2001 - 2002 411 468 377 - 133 96 9.400

(Nguồn: Phòng Đào tạo Trường Đại học Công đoàn, trích trong khóa luận)

Hàng năm, lưu lượng sinh viên hệ đại học là cán bộ Công đoàn tại trường đạt 2.500 người (tăng gấp 7 lần so với 10 năm trước đó), hệ bồi dưỡng tập huấn đạt gần 10.000 cán bộ/năm.

Phần thứ hai: Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Công đoàn của Công đoàn ngành đường sắt Việt Nam nhằm đáp ứng yêu cầu sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước

Tác giả trình bày lịch sử hình thành ngành Đường sắt Việt Nam từ thời kỳ thuộc địa đến giai đoạn đổi mới, trở thành doanh nghiệp nhà nước đặc biệt trực thuộc Bộ Giao thông Vận tải với tên gọi Liên hiệp Đường sắt Việt Nam (trụ sở tại 118 Lê Duẩn, Hà Nội). Doanh nghiệp trực tiếp quản lý 03 xí nghiệp liên hiệp vận tải khu vực 1, 2, 3 và 27 đơn vị doanh nghiệp độc lập thành lập theo Quyết định 338 của Chính phủ.

Quy mô tài sản và hạ tầng kỹ thuật của ngành tại thời điểm khảo sát gồm:

  • 3.160 km đường ray trải dài trên 6 tuyến đường sắt cả nước;
  • 5.443 toa xe, 439 đầu máy, 352 nhà ga;
  • 1.767 cây cầu (tổng chiều dài 71.439 m) và 39 hầm đường sắt (tổng chiều dài 11.468 m).

Về nhân sự và tổ chức lao động, sau quá trình sắp xếp tinh giản từ hơn 60.000 người thời kỳ bao cấp, ngành còn 42.162 cán bộ công nhân viên chức làm việc lưu động dọc tuyến. Biến động nhân sự qua tái cơ cấu phản ánh rõ tính chất tinh gọn: khối vận tải giảm 232 người, khối hạ tầng cơ sở giảm 108 người, khối xây dựng cơ bản giảm 11 người, khối dịch vụ giảm 6 người, riêng khối công nghiệp tăng thêm 9 người.

Kết quả sản xuất kinh doanh có sự tăng trưởng vững chắc nhờ đổi mới kỹ thuật (đóng mới toa xe thế hệ II, xe 2 tầng, xe có điều hòa 2 chiều, toa VIP) và rút ngắn thời gian chạy tàu Thống Nhất từ 52 giờ xuống còn 48, 42, 38, 34 và đạt mốc 32 giờ:

Chỉ tiêu Đơn vị tính Năm 2001 Năm 2002 Chênh lệch 2002/2001
Vận tải hàng hóa Triệu tấn 6,36 7,00 Tăng 10%
Vận chuyển hành khách Triệu lượt người 10,62 10,74 Tăng 1,1%
Doanh thu toàn ngành Tỷ đồng 1.400 1.882 Tăng 13%

(Năm 2001, giá trị xây dựng cơ bản đạt 484,25 tỷ đồng; dịch vụ đạt 534,66 tỷ đồng).

Về mạng lưới tổ chức, Công đoàn ngành đường sắt Việt Nam là công đoàn ngành trung ương tương đương cấp tỉnh/thành phố, quản lý:

  • 5 Công đoàn cấp trên cơ sở (tương đương công đoàn cấp quận, huyện);
  • 29 Công đoàn cơ sở trực thuộc ngành;
  • 126 Công đoàn cơ sở thành viên toàn ngành, với 1.038 Công đoàn bộ phận và 3.345 tổ Công đoàn;
  • Thu hút 41.292 đoàn viên trên tổng số 42.162 cán bộ CNVCLĐ, đạt tỷ lệ tập hợp 98,03%.
  • Cơ quan chỉ đạo Công đoàn ngành gồm các ban nghiệp vụ: Ban Tổ chức cán bộ, Ban Tài chính, Ban Kinh tế chính sách xã hội, Ban Tuyên giáo. Các đầu mối lớn trực thuộc gồm Công đoàn XN Liên hiệp vận tải Đường sắt phục vụ I (38 CĐCS), Khu vực II (20 CĐCS), Khu vực III (19 CĐCS), Công đoàn XN Liên hiệp công trình đường sắt (9 CĐCS), Công đoàn Xuất nhập khẩu vật tư thiết bị đường sắt (12 CĐCS).

Về hoạt động phong trào, từ năm 1996 đến thời điểm nghiên cứu đã ghi nhận 1.617 công trình, sản phẩm đăng ký thực hiện. Hàng năm có 30% cán bộ, công nhân viên đạt danh hiệu Lao động giỏi các cấp (với 2.801 lượt Lao động giỏi cấp ngành, 49 lượt Chiến sĩ thi đua cấp Bộ GTVT, 18 lượt Chiến sĩ thi đua toàn quốc/cấp cao và hàng ngàn lượt Kiện tướng an toàn chạy tàu).

Phần thứ ba: Các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Công đoàn đường sắt Việt Nam trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Dựa trên những tồn tại của đội ngũ cán bộ công đoàn ngành (tỷ lệ tốt nghiệp đại học thấp, kiến thức kinh tế thị trường, pháp lý, ngoại ngữ, tin học còn hạn chế; tâm lý ngại học và e dè làm cán bộ công đoàn cơ sở), phần này tập trung luận giải hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả đào tạo, bồi dưỡng theo các định hướng của Nghị quyết số 05/NQ-TLĐ. Các nhóm giải pháp hướng tới chuẩn hóa chức danh cán bộ, gắn đào tạo với quy hoạch cấp ủy và ban chấp hành công đoàn các cấp, kết hợp giữa đào tạo tập trung tại Trường Đại học Công đoàn với các lớp bồi dưỡng ngắn ngày theo chuyên đề nghiệp vụ tại chỗ.

Kết quả và đóng góp của nghiên cứu

Khóa luận cung cấp hệ thống dữ liệu toàn diện về thực trạng tổ chức và công tác cán bộ của một ngành vận tải xương sống quốc gia tại thời điểm chuyển dịch cơ cấu kinh tế:

  • Về số liệu tổ chức và nhân sự: Ghi nhận tỷ lệ phát triển đoàn viên đạt 98,03% (41.292 đoàn viên / 42.162 người lao động), mạng lưới gồm 126 công đoàn cơ sở, 1.038 công đoàn bộ phận và 3.345 tổ công đoàn; đồng thời chỉ rõ sự lệch pha khi tỷ lệ cán bộ công đoàn có trình độ đại học trên bình diện chung chỉ đạt 0,4%.
  • Về kinh tế - kỹ thuật: Khái quát bức tranh vận hành của Liên hiệp Đường sắt Việt Nam với 3.160 km đường ray, 5.443 toa xe, 439 đầu máy, tốc độ hành trình tàu Thống Nhất rút ngắn xuống 32 giờ, doanh thu năm 2002 đạt 1.882 tỷ đồng và sản lượng hàng hóa đạt 7 triệu tấn.
  • Về mặt đóng góp học thuật và thực tiễn: Khóa luận hệ thống hóa cơ sở lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng về công tác cán bộ trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN. Nghiên cứu xác lập mối quan hệ biện chứng giữa công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công đoàn với hiệu quả sản xuất kinh doanh và kỷ cương an toàn chạy tàu của ngành Đường sắt, đóng góp luận cứ thực tế phục vụ quá trình triển khai Nghị quyết 05/NQ-TLĐ và tinh giản biên chế theo Quyết định 338 của Chính phủ.

Hạn chế và hướng phát triển đề tài

Theo thừa nhận khách quan của tác giả trong văn bản, khóa luận tồn tại một số hạn chế nhất định:

  • Phạm vi đề tài nghiên cứu rất rộng, trải dài trên toàn bộ mạng lưới đường sắt Bắc - Nam và các khối sản xuất kinh doanh phức tạp (vận tải, hạ tầng, cơ khí, xây lắp, dịch vụ).
  • Khả năng xử lý của cá nhân sinh viên còn giới hạn, quỹ thời gian thực tập và tìm hiểu thực tế tại cơ quan Công đoàn ngành chưa nhiều nên một số nội dung chưa thể đi sâu chi tiết vào từng đơn vị trực thuộc đặc thù.

Hướng nghiên cứu tiếp theo mà tác giả đặt ra là tiếp tục tiếp thu ý kiến đóng góp từ các cán bộ chỉ đạo tại Ban Tổ chức Công đoàn đường sắt Việt Nam và giảng viên Khoa Công đoàn, nhằm hoàn thiện hệ thống giải pháp để có thể đưa vào áp dụng thiết thực trong công tác quy hoạch, bồi dưỡng cán bộ tại các Công đoàn cơ sở toàn ngành.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:

  • Sinh viên chuyên ngành Công đoàn, Quản lý Nhân lực, Xây dựng Đảng và Chính quyền Nhà nước tại Trường Đại học Công đoàn và các học viện hành chính - chính trị;
  • Cán bộ làm công tác tổ chức, cán bộ công đoàn chuyên trách tại các Công đoàn ngành Trung ương và Liên đoàn Lao động các tỉnh, thành phố;
  • Những người nghiên cứu về lịch sử giao thông vận tải, cụ thể là quá trình cơ cấu lại lao động và phát triển tổ chức chính trị - xã hội trong các doanh nghiệp nhà nước giai đoạn 1996 - 2002.

Phần đáng tham khảo nhất là hệ thống số liệu thực chứng về bộ máy Công đoàn ngành đường sắt Việt Nam và chuỗi thống kê quy mô đào tạo thực tế của Trường Đại học Công đoàn từ năm 1996 đến 2002.

Câu hỏi thường gặp

1. Tỷ lệ tập hợp đoàn viên và số lượng cán bộ Công đoàn ngành đường sắt Việt Nam tại thời điểm nghiên cứu là bao nhiêu?
Theo số liệu thống kê trong khóa luận, Công đoàn ngành đường sắt Việt Nam thu hút được 41.292 đoàn viên trên tổng số 42.162 cán bộ công nhân viên chức lao động toàn ngành, đạt tỷ lệ tập hợp 98,03%. Bộ máy tổ chức phân bố trên 126 Công đoàn cơ sở, 1.038 Công đoàn bộ phận và 3.345 tổ Công đoàn.

2. Trình độ học vấn đại học của đội ngũ cán bộ Công đoàn trên toàn quốc được tác giả ghi nhận ở mức nào?
Văn bản nêu rõ số liệu thống kê tính đến tháng 1 năm 2002: toàn hệ thống có gần 7.000 cán bộ chuyên trách và khoảng 280.000 cán bộ không chuyên trách. Độ tuổi bình quân của cán bộ là 45 tuổi, tỷ lệ cán bộ xuất thân từ công nhân chiếm 45%, và tỷ lệ cán bộ Công đoàn có trình độ Đại học còn rất thấp, chỉ đạt 0,4%.

3. Quy mô cơ sở vật chất, kỹ thuật của ngành Đường sắt Việt Nam được nêu trong đề tài gồm những gì?
Liên hiệp Đường sắt Việt Nam quản lý và khai thác 3.160 km đường sắt trên 6 tuyến đường sắt cả nước, 5.443 toa xe, 439 đầu máy, 352 nhà ga, 1.767 cây cầu (chiều dài 71.439 m) và 39 hầm đường ray (chiều dài 11.468 m).

4. Hướng dẫn số 1064/TLĐ ngày 06/09/1996 quy định tiêu chuẩn trình độ đối với Chủ tịch Công đoàn cơ sở như thế nào?
Theo Hướng dẫn 1064/TLĐ được trích dẫn trong văn bản, Chủ tịch Công đoàn cơ sở cần có trình độ Đại học hoặc ít nhất phải có trình độ trung cấp chuyên môn nghiệp vụ hoặc tay nghề bậc cao, đồng thời được bồi dưỡng cơ bản về lý luận chính trị, lý luận nghiệp vụ công tác Công đoàn trở lên.

5. Kết quả sản xuất kinh doanh năm 2002 của ngành Đường sắt tăng trưởng ra sao so với năm 2001?
Năm 2002 so với năm 2001: Khối lượng vận chuyển hàng hóa tăng từ 6,36 triệu tấn lên 7,00 triệu tấn (tăng 10%); vận chuyển hành khách tăng từ 10,62 triệu lượt người lên 10,74 triệu lượt người (tăng 1,1%); tổng doanh thu toàn ngành tăng từ 1.400 tỷ đồng lên 1.882 tỷ đồng (tăng 13%).

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Phạm Hoài Phương là công trình nghiên cứu nghiêm túc, kết hợp chặt chẽ giữa nguyên lý chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh với thực tiễn tổ chức công đoàn ngành nghề. Nghiên cứu đã làm rõ thực trạng đội ngũ và công tác cán bộ tại Liên hiệp Đường sắt Việt Nam trong giai đoạn tái cơ cấu, tinh giản lao động và đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Các dữ liệu lịch sử, bảng biểu thống kê về mạng lưới đào tạo và hạ tầng giao thông đường sắt được trích xuất chính xác, mang lại giá trị tư liệu thực tế cao cho việc nghiên cứu và hoàn thiện công tác cán bộ công đoàn.