Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CÔNG ĐOÀN TRONG TỔ CHỨC 1. Một số khái niệm liên quan 1. Cán bộ Tại Việt Nam, thuật ngữ “cán bộ” được sử dụng phổ biến trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, ban đầu, thuật ngữ này được dùng nhiều trong quân đội, để phân biệt giữa người chiến sỹ với người lãnh đạo các cấp trong quân đội, sau đó thuật ngữ “cán bộ” được dùng để chỉ tất cả những người thoát ly hoạt động kháng chiến với nhân dân. Có thời kỳ quần chúng nhân dân coi cán bộ là tất cả những người thoát ly khỏi nông nghiệp, những người làm việc gián tiếp.Trong giai đoạn hiện nay, quan niệm về cán bộ (CB) được mở rộng hơn, bao gồm: Tất cả những người được bầu cử vào các cơ quan Nhà nước, Đảng, đoàn thể; hoặc những người đảm nhiệm một công tác chuyên môn nào đó (cán bộ giảng dạy, cán bộ khoa học kỹ thuật.); CB khung, từ tiểu đội trưởng trở lên trong lực lượng vũ trang.
Như vậy, quan niệm về CB cho đến nay có rất nhiều quan niệm khác nhau, được hình thành từ cách nhìn trực tiếp đối với từng loại CB, theo phương pháp liệt kê các tiêu chí hoặc theo cảm tính. Khái niệm về cán bộ cho đến nay có nhiều quan niệm khác nhau, do được hình thành từ cách nhìn trực tiếp đối với từng loại cán bộ theo phương pháp liệt kê, theo tiêu chí hoặc theo quan niệm khác nhau. Tại Lào theo Luật cán bộ công chức có quy định “Cán bộ là công dân Lào, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong các cơ quan của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, Nhà nước, tổ chức chính trị- xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố, ở huyện, quận, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước” [38, tr. Theo quy định này thì tiêu chí xác định cán bộ gắn với cơ chế bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ.
Những người đủ 12 các tiêu chí chung của cán bộ, công chức mà được tuyển vào làm việc trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội thông qua con đường bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ thì được xác định là cán bộ. Thực tế cho thấy, cán bộ luôn gắn liền với chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ; hoạt động của họ gắn với quyền lực chính trị được nhân dân hoặc các thành viên trao cho và chịu trách nhiệm chính trị trước Đảng, Nhà nước và nhân dân. Việc quản lý cán bộ phải thực hiện theo các văn bản pháp luật tương ứng chuyên ngành điều chỉnh hoặc theo Điều lệ. Do đó, căn cứ vào các tiêu chí do Luật công chức Lào năm 2015 quy định, những ai là cán bộ trong cơ quan của Đảng, tổ chức chính trị - xã hội sẽ được các cơ quan có thẩm quyền của Đảng căn cứ Điều lệ của Đảng, của tổ chức chính trị - xã hội quy định cụ thể.
Những ai là cán bộ trong cơ quan nhà nước sẽ được xác định theo quy định của Luật tổ công chức của Lào và các quy định khác của pháp luật có liên quan và do Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định cụ thể. Như vậy, hiểu theo nghĩa chung nhất, cán bộ là người lãnh đạo, quản lý hoặc người làm chuyên môn, nhà khoa học hay công chức, viên chức (CCVC) làm việc, hưởng lương từ ngân sách nhà nước hoặc từ các nguồn khác. Họ được được tuyển dụng, phân công công tác sau khi tốt nghiệp ra trường, từ bổ nhiệm, đề bạt hoặc bầu cử. Hoạt động quản lý nhà nước xét đến cùng được thực hiện thông qua hành vi của các cá nhân cụ thể, được Nhà nước trao cho việc thực hiện quyền lực nhà nước.
Từ đó mà hình thành phạm trù cán bộ, công chức, một chủ thể đặc biệt và quan trọng của luật hành chính. Cán bộ, công chức là một đối tượng lao động đặc biệt, họ thiết lập quan hệ lao động với Nhà nước và thực hiện công vụ, nhiệm vụ do nhà nước giao. Trong mỗi giai đoạn lịch sử, pháp luật đã sử dụng các khái niệm khác nhau để chỉ đối tượng lao động này. Cán bộ công đoàn Tại Việt Nam theo điều lệ Công đoàn Việt Nam định nghĩa: “Cán bộ công đoàn là người được bầu vào các chức danh thông qua bầu cử tại đại hội 13 hoặc hội nghị công đoàn (từ tổ công đoàn trở lên); được cơ quan, đơn vị có thẩm quyền của công đoàn chỉ định hoặc bổ nhiệm vào các chức danh cán bộ công đoàn hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của tổ chức Công đoàn Việt Nam” [15, tr.
Hướng dẫn thi hành Điều lệ Công đoàn Việt Nam xác định: “Cán bộ công đoàn bao gồm: Tổ trưởng, tổ phó công đoàn, uỷ viên ban chấp hành công đoàn, uỷ viên uỷ ban kiểm tra công đoàn, uỷ viên các ban quần chúng công đoàn các cấp thông qua kết quả bầu cử, hoặc cấp công đoàn có thẩm quyền chỉ định; cán bộ, công chức làm công tác chuyên môn nghiệp vụ trong bộ máy của tổ chức công đoàn các cấp” [15, tr. Tại Lào, theo Liên hiệp công đoàn của Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào được thành lập ngày 01∕02∕1956, là tổ chức chính trị - xã hội của giai cấp công nhân, đội ngũ tri thức và những người lao động lập ra. Công đoàn có tính chất quần chúng và tính chất giai cấp công nhân, có chức năng đại diện và bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của công nhân, viên chức và người lao động, tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế - xã hội, tham gia kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, giáo dục, động viên công nhân, viên chức, người lao động phát huy quyền làm chủ đất nước, thực hiện nghĩa vụ công nhân, xây dựng và bảo vệ đất nước. Theo Điều 2 Luật công đoàn Lào quy định: Công đoàn Lào là một tổ chức quần chúng rộng rãi trong hệ thống chính trị của chế độ dân chủ nhân dân do Đảng Nhân dân Cách mạng Lào lãnh đạo, làm đại diện bảo vệ quyền, lợi ích, hợp pháp chính đáng của đoàn viên công đoàn, công nhân và người lao động [39, tr.
Công đoàn Lào là thành viên của Mặt trận tổ quốc do Đảng Nhân dân Cách mạng Lào lãnh đạo, có quan hệ hợp tác với các tổ chức chính trị - xã hội và tổ chức xã hội khác: hoạt động trong khuôn khổ hiến pháp và pháp luật. * Hiện nay theo Liên hiệp công đoàn của Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào,căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ và nguồn gốc tiền lương cán bộ công đoàn có 2 loại: 14 - Cán bộ công đoàn chuyên trách: là những người dành toàn bộ thời gian và năng lực bản thân cho việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của tổ chức Công đoàn, hưởng lương từ ngân sách công đoàn, do tổ chức công đoàn phân công công việc, đề bạt, bổ nhiệm hoặc công nhận chức danh bầu cử. Hiện nay CBCĐ chuyên trách chủ yếu nằm ở cơ quan công đoàn cấp trên cơ sở và một số công đoàn cơ sở (CĐCS) có đông đoàn viên và công nhân lao động (CNLĐ). CBCĐ chuyên trách có thể chia thành 4 nhóm cơ bản như sau: + Nhóm thứ nhất: là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp công đoàn như chủ tịch, phó chủ tịch, uỷ viên Đoàn chủ tịch hoặc Ban thường vụ, trưởng, phó ban chuyên đề thuộc cơ quan công đoàn các cấp (từ Trung ương đến công đoàn cấp trên cơ sở).
+ Nhóm thứ hai: là cán bộ được bổ nhiệm vào ngạch công chức, viên chức làmcông tác chuyên môn, nghiệp vụ hoặc phục vụ ở cơ quan công đoàn các cấp. + Nhóm thứ ba: cán bộ giảng dạy ở các trường công đoàn, cán bộ nghiên cứu khoa học ở các viện trong hệ thống Công đoàn. + Nhóm thứ tư: là cán bộ quản lý đơn vị sự nghiệp, đơn vị sản xuất kinh doanh trực thuộc Công đoàn các cấp. - Cán bộ công đoàn không chuyên trách: Là những người làm việc kiêm nhiệm, chỉ dành một phần quỹ thời gian cho hoạt động CĐ, không hưởng lương từ ngân sách công đoàn, do đoàn viên tín nhiệm bầu vào ban chấp hành công đoàn các cấp, từ trung ương đến cơ sở.
Ngoài ra, thực tế ở một số công đoàn ngành còn có đối tượng cán bộ chuyên làm việc của công đoàn nhưng do chuyên môn trả lương và quản lý về tổ chức. + Căn cứ vào tính chất công việc, chức trách, nhiệm vụ của cán bộ công đoàn, có thể phân thành 2 loại như sau: - Cán bộ CĐ bầu cử: là các uỷ viên ban chấp hành, uỷ viên uỷ ban kiểm tra, tổ trưởng, tổ phó tổ công đoàn. do đại hội Công đoàn (CĐ) các cấp bầu ra. Cán bộ bầu cử có thể là chuyên trách CĐ hoặc không chuyên trách CĐ.
15 - Cán bộ CĐ chuyên môn, nghiệp vụ: là những cán bộ CĐ được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc phân công làm công tác chuyên môn nghiệp vụ trong các cơ quan công đoàn các cấp, các đơn vị sự nghiệp trực thuộc cơ quan công đoàn các cấp. Luận văn tập trung nghiên cứu đối tượng cán bộ công đoàn từ uỷ viên ban chấp hành, tổ trưởng CĐCS trở lên và căn cứ theo chức năng, nhiệm vụ, nguồn gốc tiền lương của cán bộ công đoàn (cán bộ CĐ chuyên trách và không chuyên trách). Đội ngũ cán bộ công đoàn Theo từ điển Tiếng Việt định nghĩa: “Đội ngũ là tập hợp gồm một số đông người cùng chức năng, nhiệm vụ hoặc nghề nghiệp, hợp thành lực lượng hoạt động trong hệ thống (tổ chức) và cùng chung một mục đích nhất định” [9]. Theo tác giả Đặng Quốc Bảo, đội ngũ là một tập thể người gắn kết với nhau, cùng chung lý tưởng, mục đích, ràng buộc nhau về vật chất, tinh thần và hoạt động theo một nguyên tắc.
Tại Lào, theo Nghị quyết hội nghị lần thứ IX của Liên hiệp công đoàn Lào: “Đội ngũ là tập hợp một số đông người có cùng chức năng hoặc nghề nghiệp” [36, tr.