Chương 1: Những vấn đề lý luận về thể chế đào tạo, bồi dƣỡng công chức lãnh đạo cấp phòng Chương 2: Thực trạng thể chế và tổ chức thực hiện thể chế đào tạo, bồi dƣỡng công chức lãnh đạo cấp phòng ở tỉnh Ninh Bình Chương 3: Phƣơng hƣớng, giải pháp hoàn thiện thể chế đào tạo, bồi dƣỡng công chức lãnh đạo cấp phòng từ thực tiễn tỉnh Ninh Bình. 7 Luan van Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỂ CHẾ ĐÀO TẠO, BỒI DƢỠNG CÔNG CHỨC LÃNH ĐẠO CẤP PHÒNG 1. Những vấn đề chung về thể chế đào tạo, bồi dƣỡng công chức lãnh đạo cấp phòng 1. Công chức lãnh đạo cấp phòng 1.
Công chức a) Khái niệm công chức: Mỗi quốc gia tùy theo chế độ chính trị, điều kiện kinh tế, xã hội của, trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể, khái niệm công chức đƣợc hiểu theo nhiều cách khác nhau. Ở Việt Nam, khái niệm công chức đƣợc hình thành và hoàn thiện gắn liền với sự phát triển của nền hành chính nhà nƣớc. - Điểm khởi đầu của sự hình thành khái niệm công chức là khi Chủ tịch Hồ Chí Minh ban hành Sắc lệnh số 76/SL ngày 20/5/1950 về Quy chế công chức. Quy chế quy định phạm vi công chức rất hẹp, chỉ gồm những ngƣời đƣợc tuyển dụng giữ một chức vụ thƣờng xuyên trong hệ thống cơ quan Chính phủ [20].
- Đến thời kỳ đổi mới, trƣớc yêu cầu khách quan của công cuộc cải cách hành chính nhà nƣớc và đòi hỏi chuẩn hóa đội ngũ cán bộ, công chức nhà nƣớc, thuật ngữ công chức đƣợc sử dụng với nội dung mới trong Nghị định số 169/HĐBT ngày 25/5/1991: “Công dân Việt Nam được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong một công sở của Nhà nước ở Trung ương hay địa phương, ở trong nước hay nước ngoài đã được xếp vào một ngạch, hưởng lương do ngân sách nhà nước cấp gọi là công chức” [30]. - Từ năm 1998, khi Pháp lệnh Cán bộ, công chức ra đời đến nay, quan niệm về công chức nhà nƣớc ở Việt Nam có những thay đổi nhất định. Trên cơ sở Pháp lệnh Cán bộ, công chức 1998, Nghị định số 95/1998/NĐ-CP ngày 8 Luan van 17/11/1998 của Chính phủ về tuyển dụng và quản lý công chức, tuy không đƣa ra định nghĩa khái quát về công chức nhà nƣớc, nhƣng đã chỉ ra các dấu hiệu đặc trƣng của công chức nhà nƣớc: Là công dân Việt Nam; đƣợc tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc giao giữ một công vụ thƣờng xuyên; đƣợc phân loại theo trình độ đào tạo, ngành nghề chuyên môn; đƣợc xếp vào ngạch hành chính, sự nghiệp; trong biên chế và hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc [11]. Để khắc phục dần những hạn chế của Pháp lệnh Cán bộ, công chức, Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Cán bộ, công chức năm 2003 đã đƣợc ban hành.
Trên cơ sở đó, Nghị định số 117/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 của Chính phủ về tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức trong cơ quan nhà nƣớc đã đƣa ra quan niệm về công chức: “Công chức là công dân Việt Nam, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước được quy định tại điểm b, điểm c, điểm e khoản 1 Điều 1 của Pháp lệnh Cán bộ, công chức sửa đổi, bổ sung năm 2003, làm việc trong cơ quan nhà nước, lực lượng vũ trang, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội” [12]. Luật Cán bộ, công chức đƣợc Quốc hội ban hành tháng 11 năm 2008 đã đƣa ra khái niệm cụ thể về công chức. Theo đó, “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật” [32]. b) Phân biệt khái niệm “Công chức” với “Viên chức” 9 Luan van Từ các khái niệm, có thể phân biệt khái niệm “công chức”, “viên chức” theo các tiêu chí cơ bản sau: Bảng 1.
Tiêu chí phân biệt khái niệm “công chức” và viên chức Khái niệm Tiêu chí cơ bản Công chức Viên chức - Thực hiện chức năng xã hội, trực tiếp thực hiện kỹ năng, - Vận hành quyền lực nhà nƣớc, nghiệp vụ chuyên sâu. Tính chất làm nhiệm vụ quản lý. - Thực hiện các hoạt động - Thực hiện công vụ thƣờng xuyên thuần túy mang tính nghiệp vụ, chuyên môn. - Thi tuyển, bổ nhiệm, có quyết - Xét tuyển, ký hợp đồng làm định của cơ quan nhà nƣớc có thẩm việc.
Nguồn gốc, trách quyền, trong biên chế. - Trách nhiệm trƣớc cơ quan, nhiệm pháp lý - Trách nhiệm chính trị, trách ngƣời đứng đầu tổ chức, cơ nhiệm hành chính của công chức. quan xét tuyển, ký hợp đồng. Lƣơng hƣởng một phần từ Hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà 3.
Chế độ lƣơng ngân sách, còn lại là nguồn thu nƣớc, theo ngạch, bậc. - Cơ quan Đảng, nhà nƣớc, tổ chức Chính trị-Xã hội, Quân đội, Công Đơn vị sự nghiệp của cơ quan an, Toà án, Viện kiểm sát. Nơi làm việc Đảng, nhà nƣớc, các tổ chức - Trong bộ lãnh đạo, quản lý đơn vị chính trị-xã hội. sự nghiệp công lập (ngƣời đứng đầu) - Năng lực, trình độ; - Tiến độ và kết quả thực hiện - Năng lực, trình độ; nhiệm vụ; 5.
Tiêu chí đánh giá - Hiệu quả công việc. - Tinh thần trách nhiệm và phối - Thái độ phục vụ nhân dân. hợp trong thực thi nhiệm vụ; - Thái độ phục vụ nhân dân. - Khiển trách; - Cảnh cáo; - Khiển trách; - Hạ bậc lƣơng; - Cảnh cáo; 6.
Hình thức kỷ luật - Giáng chức; - Cách chức; - Cách chức; - Buộc thôi việc - Buộc thôi việc. Nguồn: Luật Cán bộ, công chức năm 2008 [32] 10 Luan van Nhƣ vậy, từ so sánh nêu trên có thể thấy, công chức, viên chức có điểm giống nhau là nếu muốn trở thành công chức hay viên chức đều phải trải qua kỳ thi hoặc xét tuyển. Tuy nhiên công chức có nhiều điểm khác viên chức nhƣ: Công chức thực hiện nhiệm vụ mang tính quyền lực nhà nƣớc, viên chức thực hiện nhiệm vụ mang tính chuyên môn, nghiệp vụ. Công chức hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc, tuyển dụng vào biên chế theo chế độ làm việc suốt đời tại các cơ quan nhà nƣớc, viên chức hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc và nguồn thu sự nghiệp, đƣợc tuyển dụng vào làm việc theo chế độ hợp đồng tại các đơn vị sự nghiệp của nhà nƣớc.
Khái niệm công chức lãnh đạo cấp phòng Trong bộ máy nhà nƣớc, phòng là một cấp. Chức năng chung của phòng là chuyển tải và tổ chức thực hiện các quyết định của cấp trên trực tiếp và phản ánh những yêu cầu, nguyện vọng, đề xuất của công chức đơn vị với lãnh đạo cấp trên. Ở Trung ƣơng, cấp trên trực tiếp của phòng là cục, vụ và các đơn vị tƣơng đƣơng tại các Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc chính phủ. Cấp trên trực tiếp của phòng ở địa phƣơng là sở, ban, UBND cấp huyện của tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ƣơng.
Trong quan hệ với các chủ trƣơng, chính sách của Nhà nƣớc, phòng là một cấp có chức năng tƣ vấn triển khai với những công việc có tính chuyên môn, kỹ thuật và nghiệp vụ. Cấp phòng thƣờng có những nhiệm vụ chủ yếu gồm: Một là, xây dựng dự thảo các dự án, đề án và các văn bản pháp luật liên quan đến phạm vi quản lý của cơ quan, đơn vị để cấp trên xem xét, trình lên cơ quan có thẩm quyền phê duyệt. Hai là, xây dựng trình thủ trƣởng cơ quan ban hành các quyết định, chỉ thị, kế hoạch dài hạn hàng năm thuộc lĩnh vực quản lý của phòng. Ba là, xây dựng trình thủ trƣởng cơ quan ban hành văn bản hƣớng dẫn thực hiện công tác chuyên môn, nghiệp vụ theo quy định của pháp luật.
11 Luan van Bốn là, tổ chức thực hiện công tác chuyên môn của phòng. Phòng có trách nhiệm đôn đốc, hƣớng dẫn, tổ chức thực hiện, kiểm tra công tác chuyên môn của phòng; Năm là, trực tiếp quản lý con ngƣời, cơ sở vật chất, tài chính đƣợc giao của phòng và thực hiện các nhiệm vụ khác theo sự phân công của lãnh đạo cơ quan, đơn vị. Trong phòng có các công chức để thực thi nhiệm vụ quyền hạn của phòng. Theo Luật Cán bộ, công chức năm 2008, công chức đƣợc phân thành hai loại gồm: (1) Công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý; (2) Công chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý.
Theo Từ điển Thuật ngữ Hành chính, công chức lãnh đạo là công chức đƣợc bổ nhiệm giữ các trọng trách, chức vụ nhất định để lãnh đạo các công chức khác, đƣợc hƣởng lƣơng theo ngạch và phụ cấp chức vụ lãnh đạo, ví dụ nhƣ: Thứ trƣởng, Vụ trƣởng, trƣởng phòng, phó trƣởng phòng. Lãnh đạo phòng gồm có Trƣởng phòng, các Phó Trƣởng phòng để quản lý điều hành hoạt động của phòng [42, tr66]. Nhƣ vậy, công chức lãnh đạo cấp phòng là công chức được bổ nhiệm giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý, trong biên chế và hưởng lương, phụ cấp chức vụ từ ngân sách nhà nước; lãnh đạo các công chức khác trong phòng thực hiện tốt các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của phòng theo quy định của pháp luật. Vị trí, vai trò của công chức lãnh đạo cấp phòng C lãnh đạo cấp phòng t thi chức năng, nhiệm vụ của phòng.
Nhiệm vụ, quyền hạn của lãnh đạo phòng chủ yếu tập trung vào hai mảng: - Thứ nhất, chỉ đạo thực hiện chủ trƣơng, chính sách, quyết định quản lý của cấp trên; - Thứ hai, tham mƣu công tác cho lãnh đạo cơ quan với các nhiệm vụ chủ yếu bao gồm: 12 Luan van + Xây dựng, trình thủ trƣởng cơ quan để trình cấp có thẩm quyền các đề án, dự án luật; Nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội, Chính phủ; Nghị định của Chính phủ; Quyết định của Thủ tƣớng Chính phủ; Thông tƣ của Bộ trƣởng; Quyết định, Chỉ thị của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thuộc phạm vi quản lý nhà nƣớc của Bộ, ngành và địa phƣơng.