Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC TRONG CÁC CƠ QUAN CHUYÊN MÔN THUỘC UBND CẤP HUYỆN 1. Khái niệm đào tạo Có nhiều cách định nghĩa về đào tạo. Theo Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam của Viện Từ điển học và Bách khoa thư Việt Nam thì “đào tạo là quá trình tác động đến một con người nhằm làm cho người đó lĩnh hội và nắm những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo… một cách có hệ thống để chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng nhận một sự phân công lao động nhất định, góp phần vào việc phát triển xã hội, duy trì và phát triển nền văn minh của loài người” [61]. Đào tạo còn được hiểu là quá trình giáo dục, thực hiện những nhiệm vụ của giáo dục quốc dân (đào tạo các trình độ trung cấp, cao đẳng, đại học và sau đại học) [60].
Con người có thể học những thông tin mới; học lại; nâng cao kiến thức, kỹ năng đang có, có thời gian để suy nghĩ và tập trung vào những cách thức, biện pháp mới có thể giúp họ hoàn thiện một cách hiệu quả công việc của họ; gắn liền với việc dạy và học nhằm cung cấp những kiến thức mới, nhận được một loại bằng cấp, học vị nhất định. Tại Điều 5 Nghị định số 18/2010/NĐ-CP ngày 05/3/2010 của Chính phủ về ĐTBD công chức giải thích: “Đào tạo là quá trình truyền thụ, tiếp nhận có hệ thống những tri thức, kỹ năng theo quy định của từng cấp học, bậc học” [13]. Đào tạo giúp CBCC tiếp thu, lĩnh hội những kiến thức, kỹ năng mới để đạt trình độ cao hơn trình độ trước đó. Như vậy, đào tạo là quá trình tác động đến con người nhằm làm cho người đó lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo một cách có hệ thống; là quá trình làm cho người ta có năng lực đáp ứng theo những 11 tiêu chuẩn, đòi hỏi nhất định, trang bị kiến thức, kỹ năng giúp họ có khả năng làm việc, nhận một sự phân công lao động nhất định.
Khái niệm bồi dưỡng Nghị định số 18/2010/NĐ-CP ngày 05/3/2010 của Chính phủ về công tác ĐTBD công chức giải thích: “Bồi dưỡng là hoạt động trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng làm việc” [13]. Khái niệm bồi dưỡng được dùng với nghĩa là cập nhật, bổ sung thêm một số kiến thức, kỹ năng cần thiết, nâng cao hiểu biết sau khi đã được đào tạo cơ bản, cung cấp thêm những kiến thức chuyên ngành, mang tính ứng dụng. Có thể nói bồi dưỡng là một hoạt động thường được tiến hành sau hoạt động đào tạo cho cá nhân, để bổ sung, cập nhật thêm kiến thức chuyên môn, một số kiến thức mới cần được trang bị trong thời gian ngắn hạn trên nền tảng kiến thức đã được đào tạo. Bồi dưỡng gắn với việc tạo cơ hội để thực hành, rèn luyện kỹ năng.
Vì vậy, bồi dưỡng thường không gắn liền với việc thay đổi bằng cấp (học vị) mà người học sẽ nhận được. Theo đó, bồi dưỡng là quá trình học bao gồm việc hệ thống hóa lại hệ thống kiến thức mà người học đã biết liên quan tới nội dung khóa học; Bổ sung những thiếu hụt kiến thức, kỹ năng mà người học đã có, nhưng bị lãng quên theo thời gian; Cập nhật những kiến thức của ngành, lĩnh vực; Nâng cao được một phần sự thành thạo công việc thông qua các hình thức rèn luyện, thực hành trên lớp học. Như vậy, ĐTBD được thực hiện nhằm tạo điều kiện cho người ta học tập, để chỉ một quá trình có kế hoạch làm biến đổi thái độ, kiến thức, kỹ năng thông qua việc học tập nhằm giúp tổ chức đạt được mục tiêu của mình thông qua tăng cường năng lực, làm gia tăng giá trị của nguồn lực cơ bản là con người, làm họ có thể làm việc tốt hơn, cho phép họ sử dụng tốt hơn các khả năng, tiềm năng vốn có của họ. Về mặt thời gian, đào tạo có thời gian thực hiện dài hơn, thông thường là từ hai năm trở lên, bồi dưỡng có thời gian thực hiện ngắn hơn, thông thường là từ vài ngày đến vài tuần.
Về bằng cấp, người tham gia các lớp đào tạo 12 sau khi hoàn thành khóa đào tạo sẽ được cấp bằng cấp chứng nhận trình độ đã được đào tạo, chẳng hạn, đào tạo đại học, đào tạo sau đại học; người tham gia các lớp bồi dưỡng sau khi kết thúc khóa bồi dưỡng sẽ được cấp chứng chỉ chứng nhận đã học qua khóa bồi dưỡng, chẳng hạn, bồi dưỡng lý luận chính trị, bồi dưỡng kỹ năng. Về cơ bản, đào tạo được xem là một quá trình làm cho người ta “trở thành người có năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định”; bồi dưỡng được xác định là quá trình làm cho người ta “tăng thêm năng lực hoặc phẩm chất”. Nhìn chung, cả đào tạo và bồi dưỡng đều là quá trình làm cho người ta thông qua học tập, rèn luyện trau dồi, bổ sung nâng cao năng lực của bản thân để họ làm việc tốt hơn, hiệu quả hơn giúp họ phát huy tối đa năng lực của bản thân đáp ứng nhu cầu của bản thân và yêu cầu của tổ chức [7]. Khái niệm công chức Ở nước ta, khái niệm công chức với phạm vi rộng, hẹp khác nhau, được hình thành gắn liền với từng giai đoạn phát triển của nền HCNN.
Theo Điều 1 Sắc lệnh số 76/SL ngày 20/5/1950 của Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, công chức là “Những công dân Việt Nam được chính quyền nhân dân tuyển để giữ một chức vụ thường xuyên trong các cơ quan Chính phủ, ở trong hay ngoài nước đều là công chức theo theo Quy chế này, trừ trường hợp riêng biệt do Chính phủ quy định”. Theo quy định này, phạm vi công chức chỉ gồm những người được tuyển dụng giữ chức vụ thường xuyên trong các cơ quan của Chính phủ, tức là những người làm việc trong hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước; không bao gồm những người làm trong các cơ quan, đơn vị sự nghiệp, Tòa án, Viện Kiểm sát… Theo Điều 1 Nghị định số 169-HĐBT ngày 25/5/1991 của Hội đồng Bộ trưởng về công chức nhà nước quy định: “Công dân Việt Nam được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong một công sở của Nhà nước ở Trung ương hay địa phương, ở trong nước hay ngoài nước đã được xếp vào một ngạch, hưởng lương do NSNN cấp gọi là công chức nhà nước”. Như vậy, đối 13 tượng thuộc phạm vi công chức gồm những người làm việc trong các cơ quan hành chính Nhà nước ở Trung ương hay ở địa phương; Những người làm việc trong các cơ quan đại diện ngoại giao của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài; Những người làm việc trong các trường học, bệnh viện, cơ quan nghiên cứu khoa học, cơ quan báo chí, phát thanh, truyền hình của Nhà nước và nhận lương từ ngân sách; Những nhân viên dân sự làm việc trong các cơ quan Bộ Quốc phòng, Bộ Công an; Những người được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong Bộ máy của các cơ quan Toà án, Viện kiểm sát các cấp; Những người được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong bộ máy của văn phòng Quốc hội, Hội đồng Nhà nước, Hội đồng Nhân dân các cấp. Điều 1 Pháp lệnh số 02/PL-UBTVQH ngày 26/02/1998 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về CBCC quy định: CBCC quy định tại Pháp lệnh này là công dân Việt Nam, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước, bao gồm: Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ trong các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội; Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội; Những người được tuyển dung, bổ nhiệm hoặc giao giữ một công vụ thường xuyên, được phân loại theo trình độ đào tạo, ngành chuyên môn, được xếp vào một ngạch hành chính, sự nghiệp trong các cơ quan nhà nước; mỗi ngạch thể hiện chức và cấp về chuyên môn nghiệp vụ, có chức danh tiêu chuẩn riêng; Thẩm phán Toà án nhân dân, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân; Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp.
14 Căn cứ Nghị định số 95/1998/NĐ-CP ngày 17/11/1998 của Chính phủ quy định về công tác tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức thì công chức là “Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc giao giữ một công vụ thường xuyên, được phân loại theo trình độ đào tạo, ngành chuyên môn, được xếp vào một ngạch hành chính, sự nghiệp, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước, làm việc trong các cơ quan sau đây: Văn phòng Chủ tịch nước; Văn phòng Quốc hội; Cơ quan hành chính Nhà nước ở Trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; Toà án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân các cấp; Cơ quan đại diện nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài; Trường học, bệnh viện, cơ quan nghiên cứu khoa học của Nhà nước; Cơ quan báo chí, phát thanh, truyền hình của Nhà nước; Thư viện, bảo tàng, nhà văn hoá của Nhà nước; Các tổ chức sự nghiệp khác của Nhà nước. Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân viên quốc phòng, làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp”.