Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC CẤP XÃ 1. Khái quát về công chức cấp xã 1. Khái niệm công chức cấp xã Công chức cấp xã bao gồm công chức phường, công chức xã, công chức thị trấn. Ở Việt Nam, khái niệm công chức cấp xã lần đầu tiên được sử dụng trong Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh cán bộ, công chức (năm 1998) được ban hành ngày 29/4/2003, trước đó khái niệm công chức cấp xã chưa được đề cập trong các văn bản pháp luật.
Pháp lệnh số 11/2003/PL-UBTVQH của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 29/4/2003 sửa đổi, bổ sung một số điều Pháp lệnh cán bộ, công chức (năm 1998) quy định “công chức cấp xã là những người được tuyển dụng, giao giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã” [19,tr. Cụ thể hóa văn bản này, Nghị định 114/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 của Chính phủ về cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn thì: công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển giữ một chức chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Uỷ ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Theo Nghị định 114, công chức cấp xã gồm 7 chức danh cụ thể: Trưởng công an (nơi chưa bố trí lực lượng công an chính quy); Chỉ huy trưởng quân sự; Văn phòng - Thống kê; Địa chính - Xây dựng; Tài chính - Kế toán; Tư pháp - Hộ tịch; Văn hóa - Xã hội. Mỗi chức danh được giao có nhiệm vụ, trách nhiệm cụ thể góp phần cùng bộ máy chính quyền địa phương giải quyết những công việc liên quan trong mối quan hệ với nhân dân địa phương.
10 Luan van Theo Pháp lệnh Cán bộ, Công chức, công chức xã được hiểu là những người được tuyển dụng và giao giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Để nâng cao vị thế, vai trò của công chức cấp xã, Quốc hội đã ban hành Luật Cán bộ, Công chức (năm 2008), đây là cơ sở pháp lý xác định rõ ràng, cụ thể hơn chức năng và nhiệm vụ công chức cấp xã. Tại Khoản 3, Điều 4 của Luật Cán bộ, Công chức (năm 2008) quy định: “Cán bộ xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy xã, người đứng đầu tổ chức chính trị-xã hội; công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”. Tại Khoản 3, Điều 61 của Luật Cán bộ, Công chức (năm 2008) quy định công chức cấp xã có các chức danh như sau: Trưởng công an; Chỉ huy trưởng quân sự; Văn phòng - Thống kê; Địa chính - Xây dựng - Đô thị - Môi trường (đối với phường, thị trấn) hoặc Địa chính - Nông nghiệp - Xây dựng và Môi trường (đối với xã); Tài chính - Kế toán; Tư pháp - hộ tịch; Văn hóa - Xã hội.
Các chức danh của công chức cấp xã được Luật Cán bộ, Công chức quy định rõ ràng cụ thể, vị trí, chức năng, nhiệm vụ của công chức xã trong bộ máy chính quyền địa phương, được thể hiện đầy đủ hơn so với Nghị định 114/2003/NĐ-CP của Chính phủ. Theo Luật Cán bộ, Công chức (năm 2008), công chức cấp xã được hiểu là những người được tuyển dụng và giao giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. 11 Luan van Công chức cấp xã có trách nhiệm giúp Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý nhà nước về lĩnh vực công tác và thực hiện những nhiệm vụ khác do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã giao. Mỗi một chức danh công chức cấp xã có những nhiệm vụ và phải đạt một số tiêu chuẩn nhất định do pháp luật quy định về tuổi đời về trình độ học vấn, trình độ lý luận chính trị.
Vì vậy, công chức cấp xã sau khi được tuyển dụng phải được tham gia các khóa đào tạo, bồi dưỡng về trình độ lý luận chính trị và đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ của mình để có thể đáp ứng yêu cầu của công việc chuyên môn. Đặc điểm công chức cấp xã Có thể nói trong đội ngũ cán bộ, công chức của nhà nước ta hiện nay đội ngũ công chức cấp xã thực sự là công bộc, là đầy tớ của nhân dân. Vì đây là lực lượng tiếp xúc với nhân dân nhiều nhất và giải quyết thỏa đáng tâm tư, nguyện vọng và bức xúc của nhân dân. So với đội ngũ cán bộ, công chức nói chung, đội ngũ công chức cấp xã có những đặc điểm cơ bản như sau: - Công chức cấp xã phần lớn là những người được sinh ra và lớn lên ở địa phương, là những người cùng sinh sống, có quan hệ tình cảm với bà con nhân dân tại địa phương.
Do đó, họ có thể nắm bắt, hiểu rõ đặc điểm, tình hình địa phương cũng như mối quan hệ tình làng, nghĩa xóm của nhân dân địa phương từ đó có thể xem xét những vụ việc chuyên môn cụ thể do người dân địa phương đưa ra và tư vấn cho cán bộ lãnh đạo ở địa phương giải quyết vụ việc hợp tình, hợp lý phù hợp với quy định của pháp luật. - Công chức cấp xã là cầu nối giữa chính quyền địa phương và nhân dân tốt nhất, vì họ trực tiếp xem xét công việc và trình lãnh đạo giải quyết những công việc đó. Chính vì vậy họ luôn phải giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa nhà nước và nhân dân địa phương. Tuy nhiên, do trình độ còn hạn chế cùng với tính cục bộ trong mối quan hệ thân tộc, tình làng nghĩa xóm.
nên 12 Luan van công chức cấp xã đôi khi còn thể hiện sự thiên vị trong việc đề xuất hướng giải quyết vụ việc. - Công chức cấp xã đa phần là cán bộ dự nguồn, chưa được đào tạo qua trường, lớp (đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa) mà chủ yếu là học hỏi kinh nghiệm từ những người đi trước, nghề dạy nghề, do đó trong hoạt động đôi khi còn bộc lộ nhiều hạn chế. Do đồng lương thấp, công chức cấp xã sau khi công tác một thời gian thường xin nghỉ, chuyển sang công việc khác có thu nhập cao hơn làm cho đội ngũ công chức cấp xã không ổn định, luôn biến động. Chính điều này đã phần nào ảnh hưởng đến công việc chuyên môn, đồng thời ảnh hưởng đến việc đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã ở địa phương.
- Công chức cấp xã ngoài việc có thu nhập từ lương công chức, họ còn làm kinh tế khác, có như thế mới đảm bảo được cuộc sống của bản thân và gia đình. Do vậy, nhìn ở một khía cạnh nào đó, có thể thấy được rằng công chức cấp xã không thể toàn tâm, toàn ý cho công việc chuyên môn của mình. Việc này phần nào cũng ảnh hưởng đến việc thực hiện chức năng và nhiệm vụ của chính quyền cấp xã, vì vậy nhà nước cần quan tâm, có chính sách, chế độ đãi ngộ đối với công chức xã nhiều hơn. Vai trò của công chức cấp xã - Công chức cấp xã là những người làm việc trong bộ máy chính quyền ở địa phương, là cánh tay nối dài của hệ thông chính trị, là người gần dân nhất, trực tiếp đưa đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước đến với nhân dân.
Với vai trò to lớn như thế, việc đào tạo, bồi dưỡng công chức xã luôn luôn là vấn đề quan trọng đối với bất kỳ bộ máy chính quyền địa phương nào. Nếu đội ngũ công chức cấp xã có kiến thức cơ bản về lĩnh vực chuyên môn, cũng như nắm rõ những quy định, chính sách, pháp luật của Nhà nước thì mới có thể tuyên truyền, chuyển tải đến người dân địa 13 Luan van phương, giúp họ hiểu những yêu cầu của Nhà nước đối với từng vấn đề cụ thể; từ đó người dân địa phương sẽ chấp hành tốt những quy định của pháp luật, đảm bảo được trật tự quản lý xã hội cũng như đảm bảo được tính pháp chế xã hội chủ nghĩa. - Công chức cấp xã là người trực tiếp xem xét công việc ở địa phương và tư vấn cho cán bộ lãnh đạo giải quyết công việc theo đúng quy định của pháp luật. Do đó họ phải là người nắm bắt rõ nhất tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội ở địa phương và cung cấp những thông tin trên cho cán bộ lãnh đạo.
Trên cơ sở đó, những người làm công tác quản lý có thể ban hành các văn bản điều chỉnh kịp thời những vấn đề xảy ra ở địa phương, đồng thời có hướng động viên, khuyến khích những công chức xã cố gắng học tập, nâng cao trình độ làm tốt nhiệm vụ của mình. Có như thế, thì bộ máy chính quyền ở địa phương có thể hoạt động tốt, góp phần xây dựng bộ máy nhà nước xã hội chủ nghĩa ngày càng vững mạnh. - Công chức cấp xã là người thường xuyên liên hệ mật thiết với nhân dân. Công chức tốt hay không tốt đều có ảnh hưởng đến tâm tư tình cảm của nhân dân đến bộ máy chính quyền địa phương.
Vì vậy, trước hết công chức cấp xã phải là người tạo cho người dân một niềm tin sâu sắc đối với hoạt động của Đảng và Nhà nước trong từng lĩnh vực cụ thể bằng hành động gương mẫu cụ thể của chính bản thân mình. Từ đó, họ không chỉ đảm bảo cho pháp luật được thực hiện nghiêm minh tại địa phương, mà họ còn có thể làm tốt công tác dân vận, vận động nhân dân tuân thủ, chấp hành tốt quy định của pháp luật cũng như những quy định của chính quyền địa phương. Đây cũng là một vai trò hết sức quan trọng của đội ngũ công chức cấp xã, vì họ vừa là công bộc của nhân dân, vừa là đại diện cho quyền lực nhà nước trong từng lĩnh vực nhất định. Như vậy, đội ngũ công chức cấp xã có vai trò cực kỳ quan trọng trong 14 Luan van bộ máy chính quyền địa phương; do vậy cần phải quan tâm hơn nữa việc đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã.
Thực tiễn đã cho thấy đội ngũ công chức cấp xã có ảnh hưởng lớn đến sự phát triên kinh tế - xã hội ở địa phương.