Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã Chương 2: Thực trạng đào tạo, bồi dưỡng chức danh chủ tịch UBND phường thuộc quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội giai đoạn 2012 –2015 Chương 3: Giải pháp hoàn thiện đào tạo, bồi dưỡng chức danh chủ tịch UBND phường thuộc quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội đến năm 2021 7 Luan van Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO, BỒI DƢỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ 1.Khái niệm, đặc điểm, vai trò của cán bộ, công chức cấp xã 1. Khái niệm cán bộ, công chức và cán bộ, công chức cấp xã 1. Cán bộ, công chức Theo quy định của Luật cán bộ, công chức thì cán bộ và công chức có những tiêu chí chung là: công dân Việt Nam; trong biên chế; hưởng lương từ ngân sách nhà nước (trường hợp công chức làm việc trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì tiền lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật); giữ một công vụ thường xuyên; làm việc trong công sở; được phân định theo cấp hành chính (cán bộ ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; cán bộ cấp xã; công chức ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; công chức cấp xã). Bên cạnh đó, giữa cán bộ và công chức được phân định rõ theo tiêu chí riêng, gắn với nguồn gốc hình thành.
Theo Điều 4 Luật Cán bộ, Công chức của Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ tư số 22/2008/QH12 ngày 13 tháng 11 năm 2008 có những quy định về cán bộ, công chức như sau: “Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, Thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.1] Theo quy định này thì tiêu chí xác định cán bộ gắn với cơ chế bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ. Những người đủ các tiêu chí chung của cán bộ, công chức mà được tuyển vào làm việc trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội thông qua bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm 8 Luan van giữ chức vụ chức danh theo nhiệm kỳ thì được xác định là cán bộ. Thực tế cho thấy, cán bộ luôn gắn liền với chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ; hoạt động của họ gắn với quyền lực chính trị được nhân dân hoặc các thành viên trao cho và chịu trách nhiệm chính trị trước Đảng, Nhà nước và nhân dân. “Công chức quy định công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, trong biên chế, hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”[12, tr.1] Theo quy định này thì tiêu chí để xác định công chức gắn với cơ chế tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh.
Những người đủ các tiêu chí chung của cán bộ, công chức mà được tuyển vào làm việc trong các cơ quan, đơn vị của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thông qua quy chế tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh thì được xác định là công chức. Công chức là những người được tuyển dụng lâu dài, hoạt động của họ gắn với quyền lực công hoặc quyền hạn hành chính nhất định được cơ quan có thẩm quyền trao cho và chịu trách nhiệm trước cơ quan, tổ chức có thẩm quyền về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao. Việc quy định công chức trong phạm vi như vậy xuất phát từ mối quan hệ liên thông giữa các cơ quan của Đảng, Nhà nước và tổ chức chính trị - xã hội trong hệ thống chính trị. Khái niệm cán bộ, công chức cấp xã Theo Điều 4 khoản 3 luật cán bộ, công chức năm 2008 quy định: Cán bộ xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân 9 Luan van dân, Uỷ ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội; [12, tr.4] Cán bộ cấp xã có các chức vụ sau đây: Bí thư, phó Bí thư Đảng Uỷ; Chủ tịch, phó Chủ tịch HĐND; Chủ tịch, phó chủ tịch UBND; Chủ tịch Uỷ Ban Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam; Bí thư Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh; Chủ tịch hội Liên Hiệp phụ nữ Việt Nam; Chủ tịch hội Nông dân Việt Nam ( áp dụng đối với xã, phường, thị trấn có hoạt động nông lâm, ngư nghiệp và có tổ chức Hội nông dân Việt Nam); Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam Công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Uỷ ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước.
Công chức cấp xã có các chức danh sau đây: Trưởng Công an; Chỉ huy trưởng quân sự; Văn phòng – thống kê; Địa chính – xây dựng và môi trường (đối với phường hoặc thị trấn) hoặc địa chính – nông nghiệp – xây dựng và môi trường (đối với xã); Tài chính – kế toán; Tư pháp – hộ tịch; Văn hóa – xã hội. Lãnh đạo quản lý cấp xã và chức danh lãnh đạo quản lý cấp xã Hệ thống chính quyền địa phương cấp xã bao gồm 3 loại chính quyền khác nhau. Mỗi đơn vị và loại cấp xã luôn có: - Đảng ủy xã, Đảng ủy Phường, Đảng ủy Thị trấn (gọi chung là Đảng ủy cấp xã). Theo Hiến pháp của Việt Nam, đây là chủ thể đóng vai trò lãnh đạo đối với chính quyền.
- Hội đồng nhân dân cấp xã: là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương cấp xã. Hội đồng nhân dân là cơ quan nghị quyết, đưa ra các quyết nghị nhằm triển khai thực hiện Hiến pháp và pháp luật phù hợp với điều kiện địa phương. - UBND cấp xã có hai tư cách: cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân và là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương. UBND cấp xã ở địa phương là một chủ thể hoạt động theo nguyên tắc thẩm quyền chung.
Trong trường hợp này, từng thành viên của UBND cấp xã khi hoạt động theo nguyên tắc tập thể và ra quyết nghị mang tính tập thể thì có quyền ngang 10 Luan van nhau trong quyết nghị các vấn đề mà tập thể UBND phải ra quyết định. Đồng thời, UBND là tổ chức thẩm quyền chung gắn với cơ chế thủ trưởng và quyết định của tổ chức là quyết định của người đứng đầu hay nhân danh người đứng đầu. Hơn nữa, mỗi một thành viên UBND thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn được giao, gắn liền với các chức danh lãnh đạo quản lý trong chính quyền địa phương cấp xã. Theo Luật tổ chức chính quyền địa phương 2015, cơ cấu tổ chức của UBND cấp xã bao gồm: Chủ tịch, phó Chủ tịch, Ủy viên phụ trách quân sự, Ủy viên phụ trách công an.
Đối với UBND xã loại I, UBND phường loại I, UBND Thị trấn loại I có không quá hai Phó Chủ tịch; UBND xã loại II, loại III; UBND phường loại II, loại III; UBND thị trấn loại II, loại III có một Phó Chủ tịch. Ngoài ra, khi nghiên cứu về chính quyền địa phương cấp xã ở Việt Nam, ngoài việc xem xét vị trí chức danh cụ thể, thì còn phải xem xét tới việc quy hoạch tạo nguồn cán bộ và việc luân chuyển các chức danh lãnh đạo quản lý do yêu cầu của công việc hoặc của cơ quan nhà nước cấp trên trong công tác cán bộ. Vì vậy, đào tạo bồi dưỡng chức danh Chủ tịch UBND phải đặt trong mối quan hệ cho vị trí hiện tại của người giữ chức danh trên và đào tạo cho người được quy hoạch bổ nhiệm vào vị trí chức danh Chủ tịch nêu trên. Nhiệm vụ quyền hạn của lãnh đạo, quản lý cấp xã Nhiệm vụ và quyền hạn của Chủ tịch UBND nói chung và UBND cấp xã nói riêng đã có những sự thay đổi từ Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và UBND (2003) đến Luật Tổ chức chính quyền địa phương (2015).
Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và UBND quy định: Chủ tịch UBND là người lãnh đạo và điều hành công việc của UBND, chịu trách nhiệm cá nhân về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình; cùng với tập thể UBND chịu trách nhiệm về hoạt động của UBND trước Hội đồng nhân dân cùng cấp và trước cơ quan nhà nước cấp trên. Đồng thời nhiệm vụ và quyền hạn của Chủ tịch UBND được quy định bao gồm: 1. Lãnh đạo công tác của UBND, các thành viên của UBND, các cơ quan chuyên môn thuộc UBND: 11 Luan van a) Ðôn đốc, kiểm tra công tác của các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp mình và UBND cấp dưới trong việc thực hiện Hiến pháp, luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, nghị quyết của Hội đồng nhân dân và quyết định, chỉ thị của UBND cùng cấp; b) Quyết định các vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của UBND cấp mình, trừ các vấn đề quy định tại Ðiều 124 của Luật này; c) Áp dụng các biện pháp nhằm cải tiến lề lối làm việc; quản lý và điều hành bộ máy hành chính hoạt động có hiệu quả; ngăn ngừa và đấu tranh chống các biểu hiện quan liêu, vô trách nhiệm, hách dịch, cửa quyền, tham nhũng, lãng phí và các biểu hiện tiêu cực khác của cán bộ, công chức và trong bộ máy chính quyền địa phương; d) Tổ chức việc tiếp dân, xét và giải quyết kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của nhân dân theo quy định của pháp luật.