Tổng quan luận án

Đề tài luận án tiến sĩ: "Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chuyên trách công tác thi đua, khen thưởng ở nước ta giai đoạn hiện nay" thuộc nhóm ngành Khoa học Chính trị, chuyên ngành Xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam, tiếp cận theo hướng nghiên cứu định tính của khoa học chính trị và tổ chức cán bộ.

Về tính cấp thiết, luận án xuất phát từ luận điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Cán bộ là cái gốc của mọi công việc" và "công việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém". Trong sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) đất nước và đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, cán bộ được khẳng định là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng. Cùng với đó, thi đua, khen thưởng (TĐKT) giữ vai trò động lực thúc đẩy các cá nhân, tập thể thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị. Chủ trương này được thể chế hóa qua Chỉ thị số 35-CT/TW ngày 03/6/1998 của Bộ Chính trị "Về đổi mới công tác thi đua, khen thưởng trong giai đoạn mới", Chỉ thị số 39-CT/TW ngày 21/5/2004 của Bộ Chính trị "Về tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, phát hiện, bồi dưỡng, tổng kết và nhân điển hình tiêu biểu", và Kết luận số 83-KL/TW ngày 30/8/2010 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa X).

Về khoảng trống thực tiễn, luận án chỉ rõ bên cạnh những bước chuyển biến, đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý (CBLĐQL) chuyên trách công tác TĐKT còn bộc lộ nhiều hạn chế:

  • Số lượng và cơ cấu đội ngũ cán bộ chưa phù hợp với yêu cầu thực tế.
  • Nhiều cán bộ thiếu hụt kiến thức quản lý nhà nước, pháp luật, kinh tế thị trường và các khoa học bổ trợ, dẫn đến lúng túng, sai sót trong chỉ đạo phong trào thi đua và thẩm định hồ sơ khen thưởng.
  • Tình trạng một số cơ quan, đơn vị tùy tiện đặt ra các hình thức tôn vinh không đúng Luật Thi đua, Khen thưởng; cá biệt xảy ra hiện tượng lợi dụng khen thưởng vì mục đích cục bộ của cá nhân và tập thể.
  • Hiện tượng hẫng hụt thế hệ cán bộ kế cận có năng lực quản lý chuyên sâu và giàu kinh nghiệm diễn ra khá phổ biến.
  • Tiêu chuẩn chức danh còn mang tính chung chung; công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển còn lúng túng; khâu quản lý, kiểm tra, giám sát còn yếu; chưa thiết lập được cơ chế liên thông cán bộ giữa Ban Thi đua - Khen thưởng Trung ương với các bộ, ban, ngành, địa phương.

Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về xây dựng đội ngũ CBLĐQL chuyên trách công tác TĐKT ở nước ta giai đoạn hiện nay, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp chủ yếu, có tính khả thi nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong những năm tiếp theo.

Để đạt được mục đích trên, luận án xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài.
  2. Luận giải rõ những vấn đề lý luận về xây dựng đội ngũ CBLĐQL chuyên trách công tác TĐKT ở nước ta giai đoạn hiện nay, bao gồm khái niệm, vai trò, đặc điểm của công tác TĐKT và đội ngũ CBLĐQL chuyên trách; xác định nội dung và phương thức xây dựng đội ngũ này.
  3. Khảo sát, đánh giá thực trạng đội ngũ CBLĐQL chuyên trách công tác TĐKT và thực trạng công tác xây dựng đội ngũ cán bộ này từ năm 2001 đến thời điểm nghiên cứu; chỉ ra nguyên nhân, bài học kinh nghiệm và các vấn đề đặt ra cần giải quyết.
  4. Đề xuất mục tiêu, phương hướng và những giải pháp chủ yếu nhằm xây dựng đội ngũ CBLĐQL chuyên trách công tác TĐKT đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong những năm tới.

Đối tượng nghiên cứu: Việc xây dựng đội ngũ CBLĐQL chuyên trách công tác TĐKT ở nước ta giai đoạn hiện nay.

Phạm vi nghiên cứu:

  • Về nội dung và không gian: Khảo sát thực trạng đội ngũ cán bộ và công tác xây dựng đội ngũ CBLĐQL chuyên trách công tác TĐKT tại các Vụ, Ban, Phòng TĐKT thuộc các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, các ban, ngành, đoàn thể ở Trung ương; các tổng công ty, tập đoàn kinh tế Nhà nước và cấp ủy các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
  • Về thời gian: Khảo sát thực tiễn từ năm 2001 đến thời điểm thực hiện luận án; hệ thống phương hướng và giải pháp đề xuất có giá trị áp dụng đến năm 2020.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án phân loại và điểm luận các công trình nghiên cứu theo các nhóm chuyên biệt:

  1. Nhóm các đề tài khoa học trong nước:
  • Đề tài khoa học cấp Nhà nước KX.09 (2002-2004) do Bộ Nội vụ chủ trì: "Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức đáp ứng đòi hỏi của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân", nhấn mạnh tiêu chuẩn và giải pháp đào tạo, bồi dưỡng CBLĐQL theo chức danh thay vì đào tạo chung.
  • Đề tài cấp Nhà nước KX.06 (2001-2005) do Vũ Văn Hiền làm chủ nhiệm: "Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý nhằm đáp ứng yêu cầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước", làm sâu sắc lý luận, thực trạng và khẳng định nguyên nhân khuyết điểm của cán bộ bắt nguồn từ công tác cán bộ.
  • Đề tài cấp Nhà nước KX.07 (2001-2005) do Thang Văn Phúc làm chủ nhiệm: "Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức", phân tích tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ, thể chế quản lý và kinh nghiệm quốc tế.
  • Đề tài cấp bộ năm 2011 do Trần Minh Tuấn làm chủ nhiệm: "Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý theo chức danh tại Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh", cung cấp luận cứ về đổi mới chương trình bồi dưỡng theo nhu cầu và từng chức danh cụ thể.
  • Đề tài khoa học độc lập cấp Nhà nước (2010-2013, Mã số 02/2010) do Trần Thị Hà làm chủ nhiệm: "Cơ sở lý luận và thực tiễn đổi mới công tác thi đua, khen thưởng trong giai đoạn hiện nay", phân tích khái niệm, bản chất, mối quan hệ thi đua - khen thưởng, kinh nghiệm Liên Xô, Nga, Pháp, Trung Quốc và đề xuất thành lập Viện Nghiên cứu bồi dưỡng, đào tạo cán bộ TĐKT.
  1. Nhóm sách chuyên khảo:
  • Sách của Trần Xuân Sầm (chủ biên, 1998): "Xác định cơ cấu và tiêu chuẩn cán bộ lãnh đạo chủ chốt trong hệ thống chính trị đổi mới", đưa ra tiêu chuẩn chung về chính trị, đạo đức, trình độ, năng lực và tính kỷ luật.
  • Sách của Nguyễn Phú Trọng và Trần Xuân Sầm (đồng chủ biên, 2001): "Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước", đúc kết kinh nghiệm luân chuyển quan lại trong lịch sử phong kiến Việt Nam (từ thời Lý, Trần, Lê đến Nguyễn) theo nguyên tắc dọc - ngang, luân chuyển tránh người địa phương cai trị tại quê hương và áp dụng thời hạn khảo khóa định kỳ (nhà Trần 15 năm xét duyệt 2 lần, nhà Lê 4 năm, nhà Nguyễn 6 năm).
  • Sách của Trần Đình Hoan (chủ biên, 2008): "Đánh giá, quy hoạch, luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước".
  • Sách của Trương Thị Thông và Lê Kim Việt (đồng chủ biên, 2008): "Bệnh quan liêu trong công tác cán bộ ở nước ta hiện nay - Thực trạng, nguyên nhân và giải pháp".
  • Sách của Thân Minh Quế (2012): "Công tác quy hoạch cán bộ thuộc diện Ban Thường vụ tỉnh ủy quản lý ở các tỉnh miền núi phía Bắc giai đoạn hiện nay".
  1. Nhóm luận án, luận văn và bài báo khoa học:
  • Luận án của Phạm Công Khâm (2000) về cán bộ chủ chốt cấp xã vùng Đồng bằng sông Cửu Long; luận án về cán bộ chủ chốt cấp tỉnh ở Đồng bằng sông Hồng (đúc kết 5 kinh nghiệm, 6 giải pháp); luận án về bí thư huyện ủy, chủ tịch UBND huyện ở Đồng bằng sông Cửu Long (1996-2003); luận văn về luân chuyển CBLĐQL diện Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội quản lý; luận án của Trịnh Thanh Tâm (2012) về cán bộ nữ hệ thống chính trị cấp xã.
  • Các bài viết học thuật: Võ Văn Kiệt (2005) về quản lý cán bộ sâu sát, chống bệnh quan liêu; Trần Đình Hoan (2002) về luân chuyển cán bộ; Nguyễn Trọng Điều (2005) về phân biệt luân chuyển và điều động; Nguyễn Thế Thắng (2011, 2012) về tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ nghĩa Mác - Lênin đối với TĐKT; phát biểu của Nguyễn Thị Doan (2013); diễn văn của Trần Thị Hà (2013); bài viết của Trần Thị Thu Hà (2014) về thực tiễn Bộ Khoa học và Công nghệ.
  1. Nhóm công trình quốc tế và kinh nghiệm nước ngoài:
  • Nghiên cứu của Chu Hảo (2002) dẫn ý kiến của Philip Yeo (Singapore) về 5 phẩm chất cán bộ thời kỳ kinh tế tri thức; các công trình của Nguyễn Duy Hùng, Lê Văn Yên (2009); Trịnh Cư, Nguyễn Duy Hùng, Lê Văn Yên (2009); bản dịch của Đỗ Tiến Sâm (2006) về quy định luân chuyển cán bộ của Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc (7 chương, 31 điều); sách của Mã Linh - Lý Minh (2004) về đường lối "bốn hóa" cán bộ của Đặng Tiểu Bình; các tham luận của Triệu Gia Kỳ, Tôn Hiểu Quần, Chu Phúc Khởi, Giả Cao Kiến (2004) tại hội thảo lý luận giữa hai Đảng; công trình của Nich Khăm (2013) và On Kẹo Phôm Ma Kon (2012) về kinh nghiệm của Lào.
  • Kinh nghiệm thực tiễn nước ngoài: các nước tư bản (đào tạo theo vị trí việc làm, quy định bắt buộc đi thực tế hàng năm, bộ máy khen thưởng trực thuộc nguyên thủ như Văn phòng Tổng thống ở Nga, Phủ Tổng thống ở Pháp, Ban Thư ký thuộc Phủ Toàn quyền ở Úc); Nhật Bản (tuyển dụng suốt đời, đánh giá qua tín nhiệm đồng cấp); Trung Quốc (thẩm tra đánh giá, thi tuyển cạnh tranh chức danh CBLĐQL áp dụng toàn quốc từ 2001, quản lý cán bộ dự bị); Lào (loại bỏ tư tưởng sản xuất nhỏ, cục bộ dòng tộc, dựa vào phong trào quần chúng).
Nhóm tài liệu Công trình tiêu biểu Giá trị tham khảo đối với luận án
Đề tài khoa học KX.06 (Vũ Văn Hiền), KX.07 (Thang Văn Phúc), Đề tài 02/2010 (Trần Thị Hà) Khung lý luận về tiêu chuẩn cán bộ, thể chế quản lý và thực trạng công tác TĐKT
Sách chuyên khảo Nguyễn Phú Trọng - Trần Xuân Sầm (2001), Trần Đình Hoan (2008) Luận cứ khoa học về quy hoạch, tiêu chuẩn, kinh nghiệm luân chuyển quan lại trong lịch sử
Luận án, bài báo Phạm Công Khâm (2000), Trịnh Thanh Tâm (2012), Võ Văn Kiệt (2005) Phương pháp khảo sát cán bộ theo cấp ủy, chống quan liêu trong quản lý
Kinh nghiệm quốc tế Tư bản (Pháp, Nga, Úc), Nhật Bản, Trung Quốc, Lào Cơ chế thi tuyển cạnh tranh, đào tạo vị trí việc làm, đi thực tế bắt buộc

Khoảng trống nghiên cứu được luận án lựa chọn giải quyết: Các công trình trên tiếp cận công tác cán bộ nói chung hoặc cán bộ lãnh đạo theo cấp hành chính (tỉnh, huyện, xã), cán bộ nữ, hoặc nghiên cứu chung về chính sách TĐKT. Cho đến thời điểm tác giả thực hiện đề tài, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện về xây dựng đội ngũ CBLĐQL chuyên trách công tác TĐKT ở nước ta giai đoạn hiện nay.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận của luận án:

  • Chủ nghĩa Mác - Lênin: Luận điểm của V.I. Lênin về vai trò của Nhà nước xã hội chủ nghĩa trong việc tổ chức thi đua, tạo điều kiện thu hút đông đảo quần chúng nhân dân lao động phát huy năng lực và sáng tạo.
  • Tư tưởng Hồ Chí Minh: Quan điểm về cán bộ trong các tác phẩm "Đường cách mệnh", "Sửa đổi lối làm việc" (xác định lãnh đạo đúng gồm quyết định đúng, tổ chức thi hành đúng và kiểm soát đúng); tư tưởng thi đua ái quốc ("Thi đua là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua", coi thi đua là công việc thường nhật); nguyên tắc khen thưởng công bằng, nghiêm minh nhằm giáo dục và nêu gương.
  • Quan điểm, đường lối của Đảng: Các nghị quyết về chiến lược cán bộ thời kỳ CNH, HĐH đất nước; các chỉ thị chuyên đề về TĐKT (Chỉ thị 35-CT/TW, Chỉ thị 39-CT/TW, Kết luận 83-KL/TW).

Khái niệm và khung phân tích:

  • Thuật ngữ "cán bộ" được tiếp cận theo nghĩa hẹp của Sách tra cứu các mục từ về tổ chức: người được bầu hoặc bổ nhiệm giữ chức vụ trong các tổ chức thuộc hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở.
  • "Lãnh đạo" là định hướng, dẫn dắt, tổ chức phong trào; "Quản lý" là quá trình thu thập, xử lý thông tin, ra quyết định và chuyển tải thành văn bản tới đối tượng quản lý.
  • "Thi đua" theo Điều 3 Luật Thi đua, Khen thưởng năm 2003 là hoạt động có tổ chức với sự tham gia tự nguyện của cá nhân, tập thể nhằm đạt thành tích tốt nhất trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
  • "Khen thưởng" là việc ghi nhận, biểu dương, tôn vinh công trạng và khuyến khích bằng vật chất.
  • Mối quan hệ giữa thi đua và khen thưởng là mối quan hệ biện chứng thống nhất: thi đua tạo cơ sở cho khen thưởng, khen thưởng kịp thời và chính xác là động lực thúc đẩy thi đua.

Phương pháp nghiên cứu: Luận án sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin kết hợp các phương pháp nghiên cứu định tính và thực tiễn:

  • Phương pháp logic và lịch sử: Phân tích tiến trình phát triển của các quan điểm về cán bộ và chính sách TĐKT qua các thời kỳ.
  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Hệ thống hóa hệ thống văn bản, quan điểm lý luận và đánh giá thực trạng đội ngũ.
  • Phương pháp thống kê, điều tra, khảo sát, tổng kết thực tiễn: Thu thập số liệu tổ chức bộ máy, cơ cấu cán bộ tại các cơ quan chuyên trách TĐKT.
  • Phương pháp chuyên gia: Tham vấn ý kiến các nhà khoa học, nhà quản lý công tác cán bộ và chuyên gia ngành TĐKT.

Nguồn tư liệu, dữ liệu: Văn kiện, nghị quyết của Đảng; hệ thống luật và nghị định của Nhà nước về TĐKT; số liệu, báo cáo tổng kết thực tiễn của Ban Thi đua - Khen thưởng Trung ương, các bộ, ngành và địa phương từ năm 2001 trở đi.

Nội dung chính theo từng chương

Kết cấu tổng thể của luận án gồm phần mở đầu, tổng quan tình hình nghiên cứu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục và 3 chương nội dung chính với 6 tiết. Các chương có dữ liệu trong văn bản được phân tích cụ thể:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Nội dung chương 1 tập trung hệ thống hóa 4 nhóm công trình khoa học trong và ngoài nước liên quan trực tiếp đến công tác cán bộ và TĐKT:

  • Điểm luận các đề tài khoa học cấp Nhà nước (KX.09, KX.06, KX.07, Đề tài 02/2010), đề tài cấp bộ, sách chuyên khảo và các luận án tiến sĩ về xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp.
  • Đúc kết kinh nghiệm lịch sử luân chuyển quan lại của Việt Nam qua các triều đại Lý, Trần, Lê, Nguyễn. Các triều đại đã vận dụng các nguyên tắc: điều động luân chuyển theo chiều dọc (Trung ương - địa phương) và chiều ngang (giữa các vùng hoặc các bộ phận trong triều đình); thực hiện nguyên tắc không bố trí quan lại cai trị tại chính quê hương; quy định thời hạn luân chuyển (nhà Lê 4 năm, nhà Nguyễn 6 năm); thực hiện khảo khóa định kỳ làm căn cứ thăng chức, giáng chức.
  • Tổng hợp bài học kinh nghiệm quốc tế: các nước tư bản (đào tạo công chức theo vị trí việc làm, quy định bắt buộc đi thực tế hàng năm đối với công chức ngành khen thưởng, mô hình cơ quan khen thưởng trực thuộc nguyên thủ); Nhật Bản (chế độ sử dụng nhân sự lâu dài, coi trọng tinh thần tập thể, đánh giá dựa trên sự tín nhiệm của đồng cấp); Trung Quốc (xây dựng quy phạm cán bộ, chế độ thẩm tra đánh giá, thi tuyển cạnh tranh CBLĐQL thay thế bổ nhiệm truyền thống, quy hoạch cán bộ dự bị); Lào (đấu tranh ngăn chặn tư tưởng sản xuất nhỏ, cục bộ dòng tộc, thi tuyển cán bộ có tính đến cơ cấu dân tộc).
  • Khẳng định khoảng trống khoa học: Chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện, độc lập về đội ngũ CBLĐQL chuyên trách công tác TĐKT trong thời kỳ đổi mới.

Chương 2: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chuyên trách công tác thi đua, khen thưởng ở nước ta giai đoạn hiện nay

Chương 2 làm rõ hệ thống lý luận nền tảng và phân tích các đặc trưng cơ bản:

  • Bản chất và mối quan hệ giữa thi đua với cạnh tranh: Luận án chỉ ra điểm tương đồng là đều thúc đẩy nỗ lực hoạt động; sự khác biệt cốt lõi nằm ở động cơ và mục đích. Thi đua xuất phát từ tinh thần vì sự nghiệp chung, đóng góp cho đất nước; cạnh tranh thường nặng về động cơ cá nhân hoặc nhóm lợi ích, cạnh tranh tự do dễ dẫn đến triệt tiêu lẫn nhau.
  • Bốn hình thức thi đua chính: thi đua thường xuyên hằng năm; thi đua theo đợt dài ngày hoặc ngắn ngày; thi đua đột xuất ("thi đua nước rút" nhằm hoàn thành chỉ tiêu cấp bách); thi đua đột kích (tập trung giải quyết khâu trọng yếu trong thời gian ngắn).
  • Bản chất và hình thức khen thưởng: Trích dẫn Đại Việt sử ký toàn thư về việc triều Lê khen thưởng người có công đi sứ, tiến cử người tài, làm thủy lợi, giữ đúng phép công; dẫn chứng Quốc lệnh ngày 26/01/1946 do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký gồm 10 điều khen thưởng cụ thể (thưởng gia đình có 3 con tòng quân, người lập quân công, người can đảm, người làm việc trong sạch ngay thẳng, người bỏ tiền làm cầu cống đê đường, người cứu nạn). Điều 3 Luật Thi đua, Khen thưởng năm 2003 xác định đối tượng khen thưởng bao gồm công dân từ 11 tuổi trở lên và cả người nước ngoài có công lao.
  • Phân tích 4 đặc điểm của công tác TĐKT ở nước ta hiện nay:
    1. Hoạt động mang tính quần chúng sâu rộng, liên quan đến đông đảo nhân dân, diễn ra trên phạm vi rộng lớn và liên tục.
    2. Là hoạt động của các tổ chức trong hệ thống chính trị đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của cấp ủy đảng và sự điều hành của chính quyền.
    3. Hoạt động tác động trực tiếp vào ý thức, tư tưởng, tình cảm và niềm tin của các tầng lớp nhân dân.
    4. Chịu tác động đan xen của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (vừa hợp tác vừa cạnh tranh, xuất hiện mặt trái "chạy bằng khen", thương mại hóa danh hiệu) và tàn dư tâm lý người sản xuất nhỏ, thói quen bao cấp cào bằng và phương thức thời chiến.
  • Xác lập khái niệm đội ngũ CBLĐQL chuyên trách công tác TĐKT dựa trên phân tích thẩm quyền, chức trách tham mưu, thẩm định và chỉ đạo trong hệ thống chính trị.
Hình thức thi đua Đặc điểm tổ chức Phạm vi và mục đích áp dụng
Thi đua thường xuyên Phát động từ đầu năm, bình xét vào cuối năm Áp dụng toàn diện trong các cơ quan, đơn vị, trường học
Thi đua theo đợt Diễn ra dài ngày hoặc ngắn ngày Lập thành tích chào mừng các sự kiện lịch sử, chính trị
Thi đua đột xuất Thường gọi là thi đua "nước rút" Tập trung cao độ hoàn thành các chỉ tiêu, nhiệm vụ cấp bách
Thi đua đột kích Diễn ra trong thời gian ngắn Tập trung giải quyết một khâu khó khăn, nhiệm vụ trọng tâm

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt khoa học lý luận:

  • Xác lập định nghĩa hoàn chỉnh: Xây dựng đội ngũ CBLĐQL chuyên trách công tác TĐKT là toàn bộ hoạt động của các cấp ủy đảng từ Trung ương đến cơ sở, ở ban, bộ, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân ở trung ương, ở các tổng công ty, tập đoàn kinh tế nhà nước, cán bộ, đảng viên và các tổ chức có liên quan về thực hiện các khâu của công tác cán bộ nhằm tạo nên đội ngũ CBLĐQL chuyên trách công tác TĐKT có phẩm chất chính trị, phẩm chất đạo đức tốt, có năng lực lãnh đạo, quản lý và tham mưu đề xuất, là những chuyên gia trong lĩnh vực TĐKT.
  • Đúc kết 3 bài học kinh nghiệm từ thực tiễn giai đoạn 2001 đến nay:
    1. Cấp ủy địa phương, đơn vị cần nhận thức đúng đắn về vai trò, tác dụng, yêu cầu của công tác TĐKT và tầm quan trọng của việc xây dựng đội ngũ CBLĐQL chuyên trách; trên cơ sở đó đề ra các chủ trương, giải pháp đúng đắn với quyết tâm chính trị cao.
    2. Cấp ủy tranh thủ sự quan tâm, chỉ đạo của cấp trên và kết hợp chặt chẽ với Ban Thi đua - Khen thưởng Trung ương trong tất cả các khâu của công tác cán bộ, đặc biệt là đào tạo, bồi dưỡng theo chức danh nhằm nâng cao tính chuyên nghiệp.
    3. Coi trọng công tác tạo nguồn và thực hiện tốt quy hoạch cán bộ; mạnh dạn đưa cán bộ trẻ có trình độ, năng lực, triển vọng vào nguồn quy hoạch các chức danh lãnh đạo, quản lý chuyên trách.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn và giải pháp:

  • Luận án xác định 2 giải pháp trọng tâm:
    1. Tăng cường công tác tạo nguồn và quy hoạch CBLĐQL chuyên trách công tác TĐKT.
    2. Đẩy mạnh việc đào tạo, bồi dưỡng và luân chuyển CBLĐQL chuyên trách công tác TĐKT theo chiều dọc giữa các địa phương, bộ, ban, ngành với Ban Thi đua - Khen thưởng Trung ương.
  • Khẳng định giá trị thực tiễn: Cung cấp luận cứ phục vụ công tác xây dựng cán bộ chuyên trách tại các ngành, địa phương và làm tài liệu tham khảo cho Trung tâm Bồi dưỡng cán bộ thuộc Ban Thi đua - Khen thưởng Trung ương.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế:

  • Phạm vi khảo sát thực tiễn chỉ giới hạn ở cấp Trung ương (Vụ, Ban, Phòng TĐKT thuộc các bộ, ban, ngành, cơ quan Chính phủ, đoàn thể, tập đoàn kinh tế Nhà nước) và cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; chưa mở rộng khảo sát chuyên sâu ở cấp quận, huyện, thị xã và cơ sở xã, phường.
  • Dữ liệu thực tiễn phản ánh giai đoạn từ năm 2001 đến thời điểm hoàn thành bản thảo (khoảng 2013-2014); các giải pháp và phương hướng đề xuất có khung thời gian dự báo đến năm 2020.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Mở rộng phạm vi nghiên cứu đến đội ngũ cán bộ làm công tác TĐKT ở cấp huyện, cấp xã và khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước.
  • Đánh giá tác động của việc sửa đổi, bổ sung Luật Thi đua, Khen thưởng giai đoạn sau năm 2020 đối với tiêu chuẩn chức danh và vị trí việc làm của cán bộ chuyên trách.

Giá trị tham khảo

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học: Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo cho các ngành Khoa học Chính trị, Xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam, Quản lý công và Xây dựng chính quyền nhà nước; cung cấp bức tranh tổng quan tài liệu và hệ thống trích dẫn lịch sử, văn kiện Đảng.
  • Đối với cơ sở đào tạo, bồi dưỡng: Phục vụ trực tiếp cho việc xây dựng giáo trình, tài liệu giảng dạy nghiệp vụ tại Trung tâm Bồi dưỡng cán bộ thuộc Ban Thi đua - Khen thưởng Trung ương và hệ thống các trường chính trị.
  • Đối với các nhà hoạch định chính sách và cơ quan tham mưu: Cung cấp căn cứ cho Ban Thi đua - Khen thưởng Trung ương, Vụ Tổ chức cán bộ các bộ, ngành và Sở Nội vụ các địa phương trong việc xây dựng quy hoạch, chuẩn hóa tiêu chuẩn chức danh và thực hiện cơ chế luân chuyển cán bộ theo chiều dọc.

Câu hỏi thường gặp

  1. Luận án định nghĩa thế nào về xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chuyên trách công tác thi đua, khen thưởng? Luận án xác định đây là toàn bộ hoạt động của các cấp ủy đảng từ Trung ương đến cơ sở, ở ban, bộ, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân ở trung ương, các tổng công ty, tập đoàn kinh tế nhà nước, cán bộ, đảng viên và các tổ chức có liên quan trong việc thực hiện các khâu của công tác cán bộ nhằm tạo nên đội ngũ có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt, có năng lực lãnh đạo, quản lý, tham mưu đề xuất và là những chuyên gia trong lĩnh vực TĐKT.

  2. Luận án phân biệt sự khác nhau giữa thi đua và cạnh tranh dựa trên những tiêu chí nào? Luận án chỉ rõ thi đua và cạnh tranh tương đồng ở tác dụng kích thích cá nhân, tập thể nỗ lực đạt kết quả tốt hơn. Điểm khác biệt căn bản nằm ở động cơ và mục đích: thi đua xuất phát từ tinh thần cống hiến vì mục tiêu chung xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; ngược lại, cạnh tranh thường xuất phát từ động cơ vì cá nhân hoặc nhóm người nhằm chiếm ưu thế vượt trội, trong đó cạnh tranh không lành mạnh có thể gây hậu quả xấu cho xã hội.

  3. Những bài học lịch sử nào về điều động, luân chuyển quan lại được tác giả rút ra từ các triều đại phong kiến Việt Nam? Tác giả đúc kết 5 bài học chính: điều động luân chuyển kết hợp cả chiều dọc (Trung ương - địa phương) và chiều ngang (giữa các địa phương hoặc các cơ quan triều đình); thực hiện nguyên tắc không dùng người địa phương cai trị tại chính địa phương đó; quy định thời hạn luân chuyển cụ thể (nhà Lê 4 năm, nhà Nguyễn 6 năm); đánh giá thường xuyên qua khảo khóa định kỳ làm căn cứ thăng hoặc giáng chức; việc thăng - giáng và phục hồi chức vụ được tiến hành thường xuyên.

  4. Bốn đặc điểm của công tác thi đua, khen thưởng ở nước ta hiện nay được luận án xác định là gì? Bốn đặc điểm gồm: hoạt động liên quan đến đông đảo nhân dân, diễn ra trên phạm vi rộng lớn và liên tục dài hạn; là hoạt động của hệ thống chính trị đặt dưới sự lãnh đạo của cấp ủy đảng; tác động trực tiếp vào ý thức, tư tưởng, tình cảm và niềm tin của quần chúng; chịu tác động đan xen của cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cùng tàn dư tâm lý người sản xuất nhỏ, thói quen bao cấp cào bằng và phương thức thời chiến.

  5. Những khuyết điểm thực tiễn chủ yếu của đội ngũ cán bộ chuyên trách công tác TĐKT được luận án chỉ ra là gì? Các khuyết điểm gồm: cơ cấu và số lượng chưa phù hợp; thiếu hụt kiến thức quản lý nhà nước, pháp luật và kinh tế thị trường dẫn đến sai sót trong thẩm định hồ sơ khen thưởng; tình trạng tùy tiện ban hành hình thức tôn vinh trái quy định pháp luật; hiện tượng hẫng hụt cán bộ kế cận có chuyên môn sâu; tiêu chuẩn chức danh còn chung chung; công tác quy hoạch, luân chuyển còn lúng túng; khâu quản lý, kiểm tra, giám sát cán bộ còn yếu.

Kết luận

Luận án là công trình nghiên cứu hệ thống về lý luận và thực tiễn xây dựng đội ngũ CBLĐQL chuyên trách công tác TĐKT ở nước ta giai đoạn từ năm 2001 đến thời điểm nghiên cứu. Trên nền tảng phương pháp luận Mác - Lênin và cách tiếp cận định tính của chuyên ngành Xây dựng Đảng, luận án đã làm rõ khung khái niệm, phân tích các đặc trưng bản chất của công tác TĐKT và đánh giá toàn diện các nhóm tài liệu trong nước, quốc tế. Các bài học kinh nghiệm và nhóm giải pháp trọng tâm về tạo nguồn, quy hoạch, đào tạo theo chức danh và luân chuyển cán bộ theo chiều dọc có giá trị ứng dụng cụ thể cho công tác tổ chức cán bộ ngành TĐKT đến năm 2020.