Chương 1 TONG QUAN VE VAN ĐÈ NGHIÊN CỨU 1. Tống quan tài nguyên dat và tinh hình quản ly, sử dung tài nguyên dat 1. Tài nguyên dat Dat là một dang tài nguyên của con người. Dat có hai nghĩa: Dat dai là nơi ở, xây dựng cơ sở hạ tang của con người và thé nhưỡng là mặt bằng dé sản xuất nông, lâm nghiệp.
Dat theo thô nhưỡng là vat thé thiên nhiên có cau tạo độc lập lâu đời, hình thành do kết quả của nhiều yếu tố: Đá gốc, động thực vật, khí hậu, địa hình và thời gian. Giá trị tài nguyên đất được đo bằng số lượng (diện tích - ha, km?) và độ phì (độ màu mỡ thích hợp cho cây công nghiệp và lương thực). Đối với Việt Nam: Đất đai là tài nguyên đặc biệt của quốc gia, nguồn lực quan trong phát triển đất nước, được quản ly theo pháp luật. Và đất dai được chia thành 3 loại: Đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp và đất chưa sử dụng (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2014).
Tài nguyên đất là môi trường sống của con người và hầu hết sinh vật ở cạn, là nền móng cho các công trình xây dựng, cung cấp các nguyên liệu cần thiết cho cuộc sống của con người (Đinh Văn Hải và Vũ Sỹ Cường, 2014) 1. Quản lý, sử dụng tài nguyên đất Sử dụng đất đai là hoạt động liên quan đến việc quản lý và tác động của con người đến môi trường tự nhiên của đất nhằm một mục đích nào đó như: thiết lập khu định cư; trồng trọt, đồng cỏ; và thiết lập các khu bảo tồn thiên nhiên cũng như các loại rừng (FAO, 1999; FAO /UNEP, 1997). Thực tế việc sử dụng đất trên toàn thế giới thay đôi liên tục. Bộ phận phát triển Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp của Liên Hiệp Quốc giải thích rằng: Quản lý sử dụng tài nguyên đất là quá trình mà các nguồn lực của đất được đưa vào hiệu quả tốt.
Nó bao gồm tất cả các hoạt động liên quan đến việc quản lý đất đai, là một nguồn lực cả từ môi trường và từ góc độ kinh tế. Nó có thê bao gồm nông nghiệp, khai thác khoáng sản, bat động san va quan lý bat động sản, quy hoạch xây dựng các thị tran và vùng nông thôn. Trong bối cảnh châu Âu, định nghĩa của Mạng lưới châu Âu về quản lý sử dung đất cho các thành phố bền vững châu Âu (LUMASEC) có thé được sử dụng như một tài liệu tham khảo. Nó nhân mạnh sự hợp tác giữa các ngành về quan ly dat đai bền vững: Quản lý sử dụng đất là một quá trình quản lý sử dụng và phát triển đất đai, trong đó không gian, khu vực được phân theo định hướng và các khía cạnh tạm thời của chính sách đô thị được phối hợp.
Tài nguyên đất được sử dụng cho mục đích khác nhau, có thé tao ra xung đột và các cuộc đấu tranh trong quản lý sử dụng đất. Vì vậy, quản lý đất đai bao gồm các cuộc tranh luận về chỉ tiêu và tầm nhìn, hoạch định chính sách, lập kế hoạch theo ngành cả trong thời gian chiến lược và hoạt động, tích hợp không gian của các vấn đề liên ngành, ra quyết định, chính sách, thực hiện kế hoạch, quyết định, giám sát kết quả và đánh giá tác động (FAO / UNEP, 1999). Hệ thống quản lý tài nguyên đất trên thế giới và ở Việt Nam 1. Hệ thống quản lý tài nguyên đất trên thế giới Mỗi nước trên thế giới có cách quản lý tài nguyên đất đặc trưng của mỗi quốc gia, sau đây là 03 nước điền hình có cách quản lý tài nguyên đất khác nhau đã dem lại hiệu quả cao trong việc quản lý và sử dụng đất đai: Thứ nhất, ở Cộng hòa nhân dân (CHND) Trung Hoa, có hai hình thức sở hữu đất đai: Đất đai thuộc sở hữu Nhà nước do Quốc vụ viện trực tiếp thay mặt Nhà nước để quản lý và đất đai thuộc sở hữu tập thể nông dân.
Vấn đề quản lý Nhà nước về đất đai của Trung Quốc tương đối phức tạp. Do Bộ Đất đai và Tài nguyên thành lập sau nên một số loại đất như đất canh tác do Bộ Nông nghiệp quản lý, đất trồng rừng lại do Bộ Lâm nghiệp quản lý, Bộ Xây dựng chịu trách nhiệm quản lý thị trường nhà đất, Bộ Tài chính chịu trách nhiệm về chính sách thu từ đất và chi cho đất. Đây là đặc điểm khác biệt so với ở Việt Nam, khi việc quản lý Nhà nước về đất dai được giao cho một cơ quan quản lý thống nhất; đó là Bộ Tài nguyên và Môi trường. (Trung tâm nghiên cứu chính sách pháp luật đất đai thuộc viện nghiên cứu địa chính, năm 2000) Mô hình hệ thống cơ quan quản lý Nhà nước về đất đai của Trung Quốc và Việt Nam có nhiều điểm tương đồng.
Hệ thống này được thành lập thống nhất từ trung ương xuống địa phương, cụ thê: - Ở Trung ương là Bộ Dat đai và Tài nguyên có một số chức năng cơ bản như: Soạn thảo văn bản pháp luật, pháp quy liên quan; tổ chức xây dựng và thực hiện quy hoạch đất đai quốc gia; giám sát, kiểm sát việc chấp hành pháp luật về đất đai. - Ở cấp tỉnh có Sở Đất đai và Tài nguyên. - Ở cấp huyện có Cục Đất đai và Tài nguyên. - Ở cấp xã, thị trấn có Phòng Đất đai và Tài nguyên.
- Ở thôn có cán bộ về quản lý đất đai. Bộ phận quản lý đất đai, tài nguyên ở chính quyền các cấp phụ trách công tác quản lý đất đai, tài nguyên trong địa hạt hành chính cấp đó. Thứ hai, Cộng hoà liên bang Đức tồn tại hai hình thức sở hữu đất dai: (i) Dat đai thuộc sở hữu tư nhân chiếm 95% diện tích đất đai, trong đó thành phần chính là đất nông nghiệp. Tuy nhiên, quyền sở hữu cũng có hạn chế quy định việc sử dụng đất phải tuân thủ quyền lợi của quốc gia; (1) Diện tích đất còn lại thuộc sở hữu Nhà nước chủ yếu là đất chuyên dùng, đất chưa sử dụng, đất nha thờ, đất của các công trình giáo dục.
Mô hình hệ thống cơ quan quản lý đất đai ở Đức rất khác với Việt Nam với hai hệ thông cơ quan chính là Toà án hành chính các cấp và Cơ quan quản lý đất đai. - Về Cơ quan quản lý đất đai thì không có sự thống nhất chung trên toàn đất nước mà ở mỗi bang lại có các cơ quan quản lý khác nhau, có nơi là Ủy ban nhân dân (vùng Baravia), có nơi là Hội đồng Nhân dân quận và thành phố (Nhiznhei Sacsonhi). - Về toà án hành chính các cấp thì ở Đức thành lập Toà án Nông nghiệp bao gồm Chánh án toàn án và hai luật sư về các vấn đề chung. Nhiệm kỳ của Chánh án Toàn án Nhân dân Tối cao về đất đai được ấn định trong thời gian 4 năm (Toà án Nhân dân Tối cao của Liên bang về đất đai được coi là cấp bậc thứ 2 ở Cộng hoà Liên bang Đức).
Trong quá trình làm việc của mình, những luật sư về nông nghiệp điều hành công việc bằng các chính sách, pháp luật hiện hành, Luật dân sự, và các điều khoản trong Hiến pháp dân sự của Cộng hoà Liên bang Đức. (Trung tâm nghiên cứu chính sách pháp luật đất đai thuộc viện nghiên cứu địa chính, năm 2000) Thứ ba, các chính sách quản lý đất đai ở Cộng hoà Pháp được xây dựng trên một số nguyên tắc chỉ đạo quy hoạch không gian, bao gồm cả chỉ đạo quản lý, sử dụng đất và hình thành công cụ quản lý đất đai. Nguyên tắc đầu tiên là phân biệt không gian công cộng và không gian tư nhân. Như vậy, có thê thấy ở Pháp việc sở hữu dat dai cũng tồn tại hai hình thức chủ yếu là sở hữu Nhà nước và sở hữu tư nhân.
Hệ thống cơ quan quản lý đất đai ở Pháp được thiết kế theo mô hình quản lý theo hệ thống liên ngành. Có rất nhiều các cơ quan ở nhiều lĩnh vực khác nhau đồng thời tham gia quản lý. - Tổng cục thuế quản lý về thuế đất đai và địa chính. Địa chính là công việc thuộc hành chính quốc gia có vai trò vô cùng quan trọng.
Nó định giá các tài sản trên đất, kiểm kê biến động thuế đất, xác định cơ sở đánh thuế. Về nhiệm vụ pháp lý va đất đai của địa chính chủ yếu nhất là nhiệm vụ thông tin dựa trên nghiệp vụ chuyên môn về công tác đo đạc và xây dựng các loại bản đồ lớn, nhỏ. Hiện nay, Pháp đã dần hình thành một hệ thống lưu trữ địa chính có tính chính xác cao và dé tiếp cận, khai thác thông tin, cơ sở dữ liệu. - Cơ quan quốc gia thực hiện nhiệm vụ xây dựng, quản lý quy hoạch; lập quy hoạch phát triển đất đai.
- Viện địa lý quốc gia thực hiện việc đo đạc, lập bản đồ. - Sở Đất đai quản lý việc đăng ký đất đai công khai. - Sở quản lý tài sản thé chấp quản lý về việc thế chấp đất vay vốn. - Trung tâm thông tin đất đai và thuế có chức năng quan lý, cung cấp thông tin về đất đai, địa chính và thuế (Trung tâm nghiên cứu chính sách pháp luật đất đai thuộc viện nghiên cứu địa chính, năm 2000) 1.
Hệ thống quản lý tài nguyên đất tại Việt Nam Ở nước ta, theo Luật đất đai năm 2013 thì đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất đứng ra quản lý, đứng đầu là Chính phủ; dưới Chính phủ, đất đai do Bộ Tài nguyên và Môi trường và UBND các tỉnh, thành phố quản lý. Trong cơ cầu tô chức của Bộ Tài nguyên và Môi trường, đưới Bộ có Tổng cục Quản lý đất đai, đến nay Tổng cục Quản lý đất đai có 13 đơn vị trực thuộc, trong đó có 9 đơn vị quản lý Nhà nước, 4 đơn vị sự nghiệp (Phạm Lan Hương, 2020). Tại cấp tỉnh: Một số địa phương thành lập Chi cục Quản lý đất đai trực thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường dé thống nhất quản ly nhà nước về đất đai vào một cơ quan chuyên trách. Đến nay, tổ chức của Ngành ở cấp tỉnh có cơ cấu hoàn chỉnh nhất gồm 63 Sở Tài nguyên và Môi trường với đầy đủ các phòng, ban chức năng về quản lý đất đai và các đơn vị sự nghiệp.
Ngoài ra còn có: Trung tâm Phát triển quỹ đất, Văn phòng Đăng ký đất đai (hiện tại trong cả nước có 63 Văn phòng cấp tỉnh và 55 tổ chức Phát triển quỹ đất cấp tỉnh); Quỹ phát triển đất. Tại cấp huyện: Cơ quan quản lý đất đai là Phòng Tài nguyên và Môi trường.