Tổng quan nghiên cứu

Chương trình đổi mới sách giáo khoa trung học phổ thông giai đoạn 2006 - 2008 được đầu tư hàng trăm tỷ đồng nhằm tạo bước chuyển biến căn bản cho nền giáo dục nước nhà. Tuy nhiên, sau hơn 4 năm đưa vào giảng dạy thực tế, mảng văn học trung đại Việt Nam giai đoạn từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIX vẫn là một trong những phần học gây nhiều trăn trở nhất. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm xuất phát từ thực trạng báo động trong nhà trường: học sinh học đối phó, nhanh quên kiến thức, trong khi giáo viên gặp lúng túng trước cấu trúc chương trình mới. Mục tiêu cụ thể của công trình là đánh giá toàn diện cấu trúc, nội dung và phương pháp tổ chức dạy học văn học trung đại trong sách giáo khoa Ngữ văn 10 và 11 mới so với sách giáo khoa chỉnh lý năm 2000.

Phạm vi nghiên cứu bao quát hệ thống văn bản văn học cổ điển trong 2 bộ sách giáo khoa chuẩn và nâng cao, kết hợp khảo sát thực địa tại tỉnh Thanh Hóa trong năm học 2009 - 2010. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài được khẳng định qua hệ thống dữ liệu định lượng thu thập từ 1000 học sinh và 200 giáo viên trực tiếp đứng lớp. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học để các nhà biên soạn sách điều chỉnh phân phối chương trình, giúp cân bằng giữa tính hàn lâm học thuật và khả năng tiếp nhận thực tế của học sinh phổ thông.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng hệ thống lý luận thi pháp học hiện đại kết hợp lý thuyết tiếp nhận văn học và quan điểm văn hóa học lịch sử. Mô hình phân kỳ lịch sử văn học 10 thế kỷ được tiếp cận dựa trên 2 giai đoạn lớn lấy mốc thời kỳ Lê Trung Hưng làm ranh giới chuyển dịch quan niệm nghệ thuật: giai đoạn văn học quy phạm đề cao chữ chí và giai đoạn văn học cổ điển đề cao chữ tình.

Khung lý thuyết thể loại dựa trên cách phân loại gồm 4 hệ thống thể loại lớn: thơ trữ tình, phú và các thể văn chức năng, truyện chữ Hán, diễn ca lịch sử cùng truyện thơ Nôm. Nghiên cứu tập trung phân tích 4 khái niệm then chốt: tính quy phạm của văn học cổ điển, tính nguyên hợp văn - sử - triết bất phân, tầm đón đợi của độc giả thời đại mới và giá trị tự thân của ngôn từ nghệ thuật. Việc kết hợp các nền tảng lý thuyết này giúp làm sáng tỏ mối quan hệ giữa đặc trưng thể loại và tư duy giáo dục hiện đại.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu đa tầng bao gồm toàn bộ văn bản tác phẩm, sách giáo viên, tài liệu bồi dưỡng giáo viên năm 2006 và phiếu điều tra xã hội học thực tế. Phương pháp phân tích so sánh văn học và phương pháp thi pháp học được lựa chọn nhằm đối chiếu sự dịch chuyển cấu trúc giữa bộ sách giáo khoa chỉnh lý năm 2000 và bộ sách cải cách năm 2006.

Quy mô mẫu khảo sát gồm 1200 đối tượng, trong đó có 1000 học sinh trung học phổ thông và 200 giáo viên Ngữ văn tại tỉnh Thanh Hóa. Mẫu được lựa chọn theo phương pháp phân tầng ngẫu nhiên giữa các trường thuộc khu vực thành thị, nông thôn và miền núi nhằm phản ánh chân thực khoảng cách về điều kiện tiếp cận tư liệu Hán Nôm. Lý do lựa chọn kết hợp phân tích văn bản và điều tra xã hội học là nhằm kiểm chứng tính khả thi của chương trình trên cả bình diện lý thuyết lẫn thực tiễn sư phạm. Quá trình thu thập, xử lý và phân tích dữ liệu được thực hiện liên tục trong khoảng thời gian 12 tháng của năm học 2009 - 2010.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, việc tái cấu trúc chương trình theo cụm thể loại đã phá vỡ trật tự tiến trình lịch sử văn học. Tác phẩm của cùng một tác giả bị phân tán ở các tuần học cách xa nhau; điển hình như Nguyễn Trãi được dạy thơ trữ tình ở tuần 13 nhưng đến tuần 19 mới học tác phẩm nghị luận, khiến giáo viên phải lặp lại kiến thức tác gia nhiều lần.

Thứ hai, thời lượng phân bổ không tương xứng với độ khó của văn bản. Khảo sát thực tế cho thấy 99.5% giáo viên, tương ứng 199 trên 200 người, nhận định thời lượng 1 đến 2 tiết dành cho kiệt tác Phú sông Bạch Đằng là quá ít. Tương tự, 76.5% giáo viên, tương đương 153 trên 200 người, cho rằng 1 tiết học bài thơ Nhàn không đủ để truyền tải chiều sâu triết lý của tác giả.

Thứ ba, các văn bản chức năng mang tính giáo huấn cao chưa nhận được sự đồng thuận từ người học. Có 80% học sinh, tương ứng 800 trên 1000 em, và 67.5% giáo viên không hào hứng với 4 đoạn trích văn chép sử biên niên. Đồng thời, 82.7% học sinh cùng 73% giáo viên không thích Chuyện chức phán sự đền Tản Viên do nặng về giáo lý Nho gia, thiếu sức hút thẩm mỹ thuần túy.

Thứ tư, sự gia tăng quá mức các tác phẩm mang màu sắc tôn giáo triết lý vượt quá tầm đón đợi của lứa tuổi học sinh. Có tới 91.2% học sinh, tương đương 912 trên 1000 em, cùng 94.5% giáo viên đánh giá các bài thơ thiền thời Lý - Trần quá khó để lĩnh hội trong thời lượng 1 tiết đọc thêm.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của tình trạng trên nằm ở sự mâu thuẫn giữa mong muốn mở rộng dung lượng tri thức thể loại và năng lực tiếp nhận thực tế của học sinh. Sách giáo khoa lớp 10 chuẩn đưa thêm 12 văn bản mới, sách lớp 11 đưa thêm 6 văn bản mới nhưng học sinh lại thiếu hụt vốn từ vựng Hán Nôm và phông nền văn hóa trung đại. Hơn nữa, việc các kỳ thi tốt nghiệp và tuyển sinh đại học không đưa phần văn học trung đại vào trọng tâm kiểm tra đã triệt tiêu động lực học tập của học sinh.

Dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa thông qua bảng ma trận thể loại và biểu đồ cột so sánh mức độ hài lòng của người học. Nhóm tác phẩm giàu cảm xúc và đậm chất trữ tình dân tộc như Thuật hoài đạt tỷ lệ yêu thích 80%, bài thơ Cảnh ngày hè đạt 90% đánh giá tích cực. Ngược lại, nhóm văn bản hành chính chức năng như văn bia hay sử ký chỉ đạt tỷ lệ tiếp nhận dưới 30%. Kết quả này chứng minh rằng việc biên soạn sách giáo khoa cần ưu tiên tiêu chí thẩm mỹ và tâm lý lứa tuổi hơn là tính toàn diện thuần túy của lịch sử văn học.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, tái thiết kế cấu trúc chương trình theo mô hình tích hợp đồng tâm giữa thể loại và tiến trình lịch sử. Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng ban biên soạn sách cần sắp xếp bài học về tác gia lớn như Nguyễn Trãi, Nguyễn Du lên trước hệ thống tác phẩm của họ, giúp tiết kiệm ít nhất 20% thời lượng giảng giải bối cảnh cho giáo viên.

Thứ hai, cắt giảm 30% số lượng văn bản chức năng có tính hàn lâm cao. Chuyển bớt 4 đoạn trích văn chép sử và các bài thơ thiền trừu tượng sang phần đọc thêm hoặc chuyên đề tự chọn dành riêng cho lớp chuyên ban khoa học xã hội.

Thứ ba, tăng thời lượng giảng dạy chính khóa lên mức tối thiểu 2 đến 3 tiết cho các văn bản trọng điểm như Phú sông Bạch Đằng, Đại cáo bình Ngô và các đoạn trích Truyện Kiều, tạo điều kiện cho học sinh tiếp cận sâu các tầng nghĩa thi pháp.

Thứ tư, đổi mới phương thức kiểm tra đánh giá bằng cách đưa nội dung văn học trung đại vào đề thi định kỳ với tỷ trọng từ 10% đến 15% tổng điểm. Các nhà xuất bản cần hoàn thiện hệ thống tài liệu tra cứu từ điển Hán Nôm trực tuyến trong lộ trình 2 năm tới để hỗ trợ 100% giáo viên đứng lớp.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm chuyên gia phát triển chương trình và tác giả biên soạn sách giáo khoa: Vận dụng cơ sở dữ liệu định lượng từ 1200 phiếu khảo sát để tối ưu hóa việc phân bổ thể loại và cân đối dung lượng bài học trong các lần tái bản.

Đội ngũ giáo viên Ngữ văn trung học phổ thông: Sử dụng các phân tích thi pháp chuyên sâu để xây dựng giáo án đọc hiểu phù hợp với chuẩn kiến thức và tâm lý tiếp nhận của học sinh trong 45 phút lên lớp.

Sinh viên và học viên cao học chuyên ngành Sư phạm Ngữ văn: Tham khảo khung lý thuyết thể loại cùng 3 phương pháp tiếp cận liên ngành để triển khai các đề tài nghiên cứu về phương pháp dạy học tác phẩm cổ điển.

Cán bộ quản lý giáo dục tại các Sở và Phòng Giáo dục: Khai thác kết quả phản hồi của 200 giáo viên để xây dựng các chuyên đề bồi dưỡng chuyên môn và phân phối chương trình linh hoạt tại địa phương.

Câu hỏi thường gặp

Rào cản lớn nhất của học sinh trung học phổ thông khi tiếp nhận văn học trung đại là gì? Rào cản lớn nhất là sự khác biệt về ngôn ngữ Hán Nôm và khoảng cách văn hóa kéo dài nhiều thế kỷ. Số liệu khảo sát thực tế cho thấy 91.2% học sinh gặp khó khăn khi tiếp cận các bài thơ mang tư tưởng triết học Phật giáo thời Lý - Trần do thiếu công cụ chú giải chuyên sâu.

Vì sao việc sắp xếp theo cụm thể loại lại gây khó khăn cho tiến trình dạy học? Cách sắp xếp này làm chia cắt sự nghiệp của một tác gia thành nhiều phần nhỏ nằm rải rác ở các học kỳ. Điển hình như trường hợp của Nguyễn Trãi, giáo viên phải mất nhiều thời gian nhắc lại tiểu sử tác giả ở cả tuần 13 và tuần 19, gây lãng phí thời gian lên lớp.

Tại sao các đoạn trích văn chép sử không thu hút được sự quan tâm của học sinh? Bản chất của văn chép sử biên niên là ghi chép sự kiện lịch sử nên tính thẩm mỹ ngôn từ còn hạn chế. Có 80% học sinh cảm thấy nặng nề vì nội dung trùng lặp với môn Lịch sử, làm lu mờ cảm xúc thẩm mỹ vốn có của môn Ngữ văn.

Giải pháp nào giúp nâng cao hiệu quả giảng dạy các kiệt tác văn học cổ điển? Cần dũng cảm tinh giản các văn bản phụ để tập trung thời lượng cho các tác phẩm đỉnh cao. Khi 99.5% giáo viên nhận định thời lượng cho Phú sông Bạch Đằng là quá ít, việc tăng lên 2 đến 3 tiết sẽ giúp học sinh khám phá trọn vẹn vẻ đẹp ngôn từ.

Đánh giá tổng quát của đội ngũ giáo viên về sách giáo khoa mới như thế nào? Đại đa số 200 giáo viên ghi nhận tinh thần đổi mới thể loại nhưng khẳng định dung lượng còn quá tải. Có 76.5% giáo viên kiến nghị cần cơ cấu lại thời lượng giảng dạy để phù hợp với năng lực thực tế của học sinh đại trà.

Kết luận

• Luận văn hệ thống hóa toàn diện những chuyển biến về cấu trúc và nội dung của mảng văn học trung đại qua hơn 4 năm áp dụng sách giáo khoa mới.

• Công trình cung cấp bộ dữ liệu thực chứng tin cậy từ 1000 học sinh và 200 giáo viên, phản ánh khách quan thực trạng dạy học văn học cổ điển.

• Nghiên cứu chỉ rõ điểm nghẽn lớn nhất là sự xung đột giữa cấu trúc thể loại và tính liền mạch của tiến trình lịch sử văn học dân tộc.

• Luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược nhằm tinh gọn 30% nội dung hàn lâm và tập trung thời lượng cho các tác phẩm tiêu biểu.

• Định hình lộ trình 2 năm tới để nâng cao chất lượng biên soạn tài liệu bồi dưỡng phương pháp tiếp nhận thi pháp cho giáo viên phổ thông.

Các nhà quản lý giáo dục và quý thầy cô giáo hãy tham khảo những kiến nghị thiết thực từ luận văn để đổi mới phương pháp giảng dạy, khơi dậy tình yêu di sản văn học dân tộc trong thế hệ trẻ hôm nay.