Tổng quan nghiên cứu

Việt Nam sở hữu hơn 3.260 km đường bờ biển cùng khoảng 250 đô thị biển đảo, trong đó ngành du lịch biển đóng góp tới hơn 70% tổng thu ngân sách toàn ngành du lịch theo tinh thần Nghị quyết số 27/2007/NQ-CP của Chính phủ. Trong tiến trình đô thị hóa thế kỷ 21, các dải không gian ven biển giữ vai trò huyết mạch kết nối giữa hệ sinh thái tự nhiên và hạ tầng dịch vụ đô thị. Tuy nhiên, thực trạng khai thác tại nhiều đô thị duyên hải đang bộc lộ mâu thuẫn lớn giữa áp lực thương mại hóa và nhu cầu không gian công cộng của cộng đồng, dẫn đến sự đứt gãy không gian xã hội và làm suy giảm bản sắc địa phương.

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Đô thị học của tác giả Tạ Lê Hồng Nguyên, thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thuộc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh năm 2018, tập trung giải quyết vấn đề cốt lõi: Đánh giá vai trò và tổ chức không gian - xã hội của tuyến đường ven biển đối với sự phát triển du lịch địa phương. Phạm vi nghiên cứu khảo sát thực tế trên 2 tuyến đường đại diện tiêu biểu tại khu vực Nam Trung Bộ: đường Trần Phú tại thành phố Nha Trang và đường An Dương Vương tại thành phố Quy Nhơn, với chiều dài mỗi đoạn nghiên cứu từ 2 km đến 3 km, dữ liệu theo dõi từ thời điểm hình thành đến năm 2017.

Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc cung cấp hệ thống tiêu chí định lượng và định tính nhằm giải quyết bài toán quy hoạch giao thông kết hợp cảnh quan ven biển. Kết quả nghiên cứu là căn cứ khoa học giúp các nhà quản lý đô thị nâng cao hiệu suất sử dụng đất công cộng từ 15% đến 30%, tối ưu hóa năng lực đón khách du lịch và duy trì sinh kế bền vững cho cư dân bản địa.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng hệ thống luận cứ vững chắc dựa trên các nền tảng lý thuyết tiếp cận đa ngành:

Thứ nhất, Lý thuyết Nhu cầu của Abraham Maslow kết hợp Lý thuyết nhu cầu môi trường của Robert Andrey chỉ ra 3 bậc nhu cầu cốt lõi của người sử dụng không gian ven biển gồm: an toàn thị giác, nhận biết bản sắc nơi chốn và trải nghiệm mới mẻ.

Thứ hai, Lý thuyết Cấu trúc - Chức năng của Émile Durkheim và Talcott Parsons khẳng định tuyến đường ven biển không chỉ là trục giao thông đơn thuần mà là một cấu trúc chức năng phức hợp, điều phối mối quan hệ hữu cơ giữa kinh tế, du lịch và cộng đồng cư dân.

Thứ ba, Lý thuyết Sản xuất không gian của Henri Lefebvre giải thích quá trình kiến tạo không gian xã hội thông qua sự tương tác giữa không gian vật chất và thói quen sinh hoạt thường nhật.

Thứ tư, Lý thuyết Hình ảnh đô thị của Kevin Lynch định hình 5 yếu tố cấu thành không gian thị giác: tuyến dẫn, ranh giới, khu vực, nút giao và điểm nhấn kiến trúc.

Thứ năm, Lý thuyết Hình - Nền của Roger Trancik cùng Lý thuyết Liên hệ phân tích mối quan hệ cân bằng giữa các khối công trình xây dựng và khoảng trống mở ven biển, hạn chế bức tường bê tông hóa chắn tầm nhìn mặt nước.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng quy trình kết hợp phương pháp định lượng và định tính nhằm đảm bảo độ tin cậy khoa học cao:

Về dữ liệu sơ cấp định lượng: Tác giả tiến hành điều tra bảng hỏi với tổng quy mô mẫu 140 người, phân bổ đồng đều 70 phiếu tại đường An Dương Vương (thành phố Quy Nhơn) và 70 phiếu tại đường Trần Phú (thành phố Nha Trang). Mẫu được chọn theo phương pháp ngẫu nhiên thực địa, phản ánh đa dạng cơ cấu người dùng với tỷ lệ 67,1% nam và 32,9% nữ, độ tuổi trải dài từ 19 tuổi đến 75 tuổi, bao gồm cả khách du lịch lưu trú dưới 1 tháng và người dân bản địa định cư trên 6 tháng. Toàn bộ dữ liệu được mã hóa và phân tích thông qua phần mềm SPSS phiên bản 20.0 nhằm kiểm định tương quan giữa mức độ hài lòng cảnh quan và hành vi chi tiêu du lịch. Lý do lựa chọn SPSS 20.0 là để xử lý chính xác các bảng phân phối tần số, kiểm định chéo giữa các nhóm nhân khẩu học và so sánh định lượng giữa hai địa bàn.

Về dữ liệu sơ cấp định tính: Phương pháp quan sát trực tiếp kết hợp lập bản đồ hành vi người dùng tại các khung giờ cao điểm và phỏng vấn sâu chuyên gia đô thị, tiêu biểu là Tiến sĩ Dư Phước Tân - Viện Nghiên cứu Phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, cùng đại diện Sở Xây dựng và Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tại 2 tỉnh.

Về dữ liệu thứ cấp: Luận văn tổng hợp báo cáo quy hoạch, niên giám thống kê kinh tế giai đoạn 2011-2016 và các văn bản quy phạm pháp luật tại Bình Định và Khánh Hòa để xây dựng ma trận đối sánh khách quan.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Dữ liệu khảo sát thực nghiệm tại 2 tuyến đường ven biển chỉ ra những phát hiện tương phản sâu sắc:

Một là, sự phân hóa mạnh mẽ về mức độ khai thác dịch vụ và kinh tế du lịch: Tuyến đường Trần Phú (Nha Trang) có tỷ lệ đất thương mại - dịch vụ du lịch chiếm trên 65% mặt tiền đường, duy trì hoạt động nhộn nhịp 18/24 giờ mỗi ngày. Ngược lại, đường An Dương Vương (Quy Nhơn) có tỷ lệ đất dành cho dịch vụ du lịch chỉ chiếm dưới 25%, các hoạt động kinh tế chỉ bùng nổ tập trung trong khoảng 4 đến 5 giờ vào sáng sớm (từ 5h00 đến 7h00) và chiều tối (từ 17h00 đến 19h30).

Hai là, xung đột về hình thái kiến trúc mặt đứng và tầm nhìn đại dương: Tại đường Trần Phú, hơn 75% công trình xây dựng mới là khách sạn và khu nghỉ dưỡng cao tầng (trên 20 tầng), tạo thành bức tường cao ốc dày đặc che khuất tầm nhìn từ nội đô ra vịnh biển. Trong khi đó, đường An Dương Vương giữ được tỷ lệ không gian mở tự nhiên trên 60%, nhưng thiếu các công trình điểm nhấn biểu tượng mang tính nhận diện nơi chốn.

Ba là, khả năng kết nối giao thông và an toàn bộ hành: Kết quả khảo sát cho thấy 58,6% người tham gia tại đường Trần Phú phàn nàn về tình trạng ùn tắc giao thông và rủi ro khi sang đường do mật độ xe cơ giới quá cao; trong khi tại đường An Dương Vương, 72,9% đánh giá cao độ thông thoáng nhưng phản ánh hệ thống chiếu sáng ban đêm và tiện ích công cộng (nhà vệ sinh, thùng rác tiêu chuẩn) chỉ đạt dưới 40% mức độ đáp ứng nhu cầu.

Thảo luận kết quả

Khi phân tích ma trận dữ liệu tổng hợp, thực trạng trên có thể được hệ thống hóa rõ ràng thông qua bảng so sánh hiện trạng sử dụng đất và biểu đồ phân bổ dòng người theo thời gian trong ngày. Dữ liệu biểu đồ cột minh họa rõ sự đối lập về lưu lượng: đường Trần Phú đạt đỉnh liên tục từ trưa đến nửa đêm, trong khi đường An Dương Vương hình thành dạng biểu đồ hai đỉnh cách biệt vào đầu ngày và cuối chiều.

Nguyên nhân của sự khác biệt bắt nguồn từ mô hình quy hoạch không gian đệm. Thành phố Nha Trang quy hoạch dải công viên cây xanh ven biển rộng từ 50 m đến 100 m ngăn cách đường Trần Phú với bãi cát, nhưng việc thương mại hóa quá mức các ki-ốt và cơ sở kinh doanh sát mép nước đã làm suy giảm tính công cộng vốn có. Ngược lại, thành phố Quy Nhơn bảo tồn rất tốt quỹ đất công viên ven vịnh, song lại thiếu cơ chế thu hút các dịch vụ phụ trợ văn hóa - nghệ thuật, khiến không gian xã hội bị rơi vào trạng thái tĩnh lặng sau 21h00.

So sánh với các bài học quốc tế như bãi biển Waikiki (quần đảo Hawaii, Hoa Kỳ) hay đường ven biển Atlantica tại Copacabana (Brazil), một tuyến đường du lịch biển hoàn chỉnh bắt buộc phải đảm bảo sự cân bằng giữa 3 lớp không gian: mặt nước - dải đệm công cộng - trục giao thông thương mại. Việc thiếu vắng các công trình trạm dịch vụ phức hợp đa năng quy mô thấp tầng (hubway) đã khiến dải ven biển Quy Nhơn lãng phí khoảng 40% tiềm năng kinh tế ban đêm.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm tối ưu hóa tổ chức không gian - xã hội tuyến đường ven biển, nghiên cứu đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược:

Thứ nhất, tái cấu trúc không gian mặt đứng và mặt bằng quy hoạch: Ủy ban nhân dân các thành phố ven biển cần ban hành quy chế quản lý kiến trúc nghiêm ngặt, khống chế tầng cao công trình mặt tiền giáp biển theo nguyên tắc giật cấp thấp dần về phía mặt nước, đảm bảo tối thiểu 45% góc nhìn thông thoáng hướng núi - hướng biển; lộ trình hoàn thành phê duyệt điều chỉnh quy hoạch trong 12 đến 18 tháng.

Thứ hai, nâng cấp hạ tầng kết nối bộ hành và chiếu sáng nghệ thuật: Ban Quản lý Đô thị cần triển khai xây dựng hệ thống đảo dừng chân cho người đi bộ hoặc lối sang đường ưu tiên cách nhau mỗi 250 m đến 300 m, đồng thời thay thế 100% bóng đèn đường đơn điệu bằng hệ thống chiếu sáng mỹ thuật LED thông minh tiết kiệm 30% điện năng trong vòng 2 năm.

Thứ ba, thiết lập chuỗi trạm tiện ích thông minh chuẩn hóa: Sở Xây dựng phối hợp Sở Du lịch đầu tư xây dựng chuỗi ki-ốt dịch vụ công cộng 1 tầng bằng vật liệu thân thiện môi trường, tích hợp nhà vệ sinh công cộng đạt chuẩn, điểm tắm nước ngọt, tủ gửi đồ thông minh và trạm thông tin du lịch, mục tiêu bố trí bình quân 1 trạm trên mỗi 500 m bờ biển trong giai đoạn 2019-2022.

Thứ tư, kích hoạt không gian xã hội thông qua văn hóa bản địa: Trung tâm Xúc tiến Du lịch tổ chức định kỳ 2 tuần một lần các lễ hội đường phố, biểu diễn nghệ thuật bài chòi, thả đèn hoa đăng và triển lãm nghệ thuật từ rác thải đại dương tái chế, hướng tới mục tiêu tăng thời gian lưu trú của du khách thêm 1,5 ngày và nâng mức chi tiêu du lịch bình quân lên 25%.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn thạc sĩ này là tài liệu chuyên khảo mang giá trị ứng dụng cao cho 4 nhóm đối tượng chính:

Một là, các nhà hoạch định chính sách và cơ quan quản lý đô thị: Cán bộ thuộc Sở Xây dựng, Sở Quy hoạch - Kiến trúc, Sở Du lịch và Ủy ban nhân dân các tỉnh ven biển có thể ứng dụng trực tiếp khung phân tích 3 lớp không gian để xây dựng quy chế quản lý trật tự xây dựng, giải quyết hài hòa xung đột lợi ích giữa doanh nghiệp bất động sản và cộng đồng dân cư.

Hai là, các kiến trúc sư và chuyên gia tư vấn quy hoạch: Nhóm chuyên gia thiết kế hạ tầng giao thông và cảnh quan có thể khai thác mô hình mặt cắt ngang tiêu chuẩn, tỷ lệ phân bổ quỹ đất mở từ 50% đến 60% để thiết kế các dự án đại lộ ven biển hiện đại, thích ứng với biến đổi khí hậu.

Ba là, các nhà đầu tư và doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ du lịch: Giúp doanh nghiệp định vị chính xác phân khúc kinh doanh, đón đầu lưu lượng khách tại các khung giờ vàng từ 16h00 đến 22h00 và phát triển các mô hình tiện ích dịch vụ đạt hiệu quả sinh lời cao.

Bốn là, giảng viên, học viên cao học và sinh viên ngành Đô thị học, Kiến trúc, Xã hội học: Sử dụng luận văn làm tài liệu tham khảo mẫu mực về phương pháp kết hợp phân tích hình thái không gian với nghiên cứu xã hội học thực địa thông qua phần mềm SPSS 20.0.

Câu hỏi thường gặp

Tuyến đường ven biển đóng vai trò thế nào trong việc định hình thương hiệu du lịch đô thị?

Tuyến đường ven biển đóng vai trò là mặt tiền cảnh quan và trục động lực kinh tế hàng đầu của đô thị biển. Minh chứng thực tế tại Nha Trang cho thấy đường Trần Phú đóng góp hơn 60% hình ảnh nhận diện thương hiệu du lịch và tập trung trên 70% cơ sở lưu trú cao cấp của toàn thành phố.

Tại sao quy hoạch đường ven biển cần đặc biệt chú trọng không gian xã hội thay vì chỉ tập trung kỹ thuật giao thông?

Bởi vì không gian vật chất chỉ phát huy tối đa giá trị khi dung chứa các hoạt động sống phong phú của con người. Nếu chỉ mở rộng làn xe cơ giới mà bỏ quên không gian giao tiếp cộng đồng, đường ven biển sẽ trở thành dải cách ly nguy hiểm, làm giảm hơn 40% mức độ tương tác an toàn của du khách với bãi cát.

Nguyên nhân chính khiến đường An Dương Vương tại Quy Nhơn chưa phát huy hết tiềm năng kinh tế đêm là gì?

Nguyên nhân chủ yếu do cơ cấu sử dụng đất thiếu vắng các dịch vụ thương mại phụ trợ và công trình điểm nhấn văn hóa. Khảo sát thực tế chỉ ra hoạt động trên tuyến đường bị suy giảm mạnh sau 20h00, khiến doanh thu dịch vụ du lịch ban đêm tại đây thấp hơn khoảng 50% so với đường Trần Phú tại Nha Trang.

Giải pháp nào giải quyết triệt để tình trạng bức tường cao ốc che chắn tầm nhìn đại dương?

Quy hoạch đô thị cần áp dụng nghiêm ngặt nguyên tắc kiểm soát tầng cao giật cấp theo phông nền địa hình núi phía sau. Đồng thời, khoảng cách tối thiểu giữa các khối nhà cao tầng phải duy trì từ 25 m đến 30 m để tạo luồng thông gió tự nhiên và hành lang thị giác thông suốt từ nội đô hướng ra biển.

Mô hình trạm dịch vụ tiện ích dạng hubway mang lại lợi ích gì cho bãi biển công cộng?

Mô hình hubway với chiều cao khống chế 1 tầng giúp tích hợp đồng bộ nhà vệ sinh công cộng, quầy giải khát nhẹ và trạm cứu hộ mà không cản trở tầm nhìn mặt nước. Điển hình tại bãi biển Sầm Sơn hay Barcelona, mô hình này giúp nâng chỉ số hài lòng của du khách về dịch vụ bãi biển lên trên 85%.

Kết luận

• Đề tài đã chuẩn hóa khung lý thuyết tổ chức không gian - xã hội ứng dụng chuyên biệt cho tuyến đường ven biển tại các đô thị du lịch nhiệt đới Việt Nam.
• Công trình cung cấp bộ dữ liệu thực chứng so sánh toàn diện giữa mô hình kinh tế du lịch sôi động tại Nha Trang và mô hình cảnh quan tĩnh tại Quy Nhơn dựa trên 140 mẫu khảo sát thực địa.
• Luận văn làm sáng tỏ quy luật tương tác đa chiều giữa hình thái kiến trúc mặt đứng - mặt bằng và mức độ thỏa mãn nhu cầu trải nghiệm của du khách.
• Đề xuất giải pháp phân tầng 3 lớp không gian bền vững cùng mô hình trạm tiện ích hubway hiện đại giúp tăng thêm 25% nguồn thu kinh tế du lịch địa phương.
• Hệ thống hóa các kiến nghị chính sách phục vụ công tác chỉnh trang đô thị biển thích ứng với biến đổi khí hậu trong giai đoạn 2020-2030.

Về định hướng nghiên cứu tiếp theo, các đề tài tương lai cần mở rộng quy mô khảo sát tác động của nước biển dâng và triều cường lên hệ thống hạ tầng kỹ thuật ven biển giai đoạn 2025-2035. Hãy kết nối và tham khảo ngay toàn văn luận văn thạc sĩ Đô thị học để ứng dụng hiệu quả những giải pháp quy hoạch không gian biển vào thực tiễn phát triển đô thị bền vững.