Tổng quan nghiên cứu

Tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong giai đoạn đổi mới đã ghi nhận những bước tiến ấn tượng với tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân đạt 8,2% trong giai đoạn 1991 - 1995, 7,5% giai đoạn 2001 - 2005 và đạt 7,64% trong giai đoạn 2006 - 2008. Chuỗi tăng trưởng liên tục kéo dài 25 năm đã giúp đất nước từng bước thoát khỏi tình trạng kém phát triển. Tuy nhiên, mô hình tăng trưởng kinh tế của Việt Nam thời gian qua chủ yếu vận hành theo chiều rộng, phụ thuộc nặng nề vào việc gia tăng vốn đầu tư (tỷ lệ vốn đầu tư trên GDP luôn duy trì ở mức cao, vượt 40% trong giai đoạn 2006 - 2008) và khai thác nguồn nhân lực giá rẻ, trình độ thấp.

Thực trạng này làm nảy sinh vấn đề cấp bách về chất lượng và tính bền vững của tăng trưởng khi hiệu quả sử dụng vốn có chiều hướng suy giảm, hệ số ICOR tăng cao và năng suất lao động xã hội ở mức rất thấp. Năm 2008, năng suất lao động bình quân của Việt Nam chỉ đạt 638 USD, bằng 37% của Philippines, 16% của Thái Lan và vỏn vẹn 3,45% so với Singapore. Hơn nữa, tình trạng lãng phí nguồn lực diễn ra phổ biến với khoảng 30.000 đến 40.000 tỷ đồng vốn tiết kiệm xã hội (tương đương 5% đến 7% GDP) rơi vào trạng thái vốn chết mỗi năm.

Mục tiêu nghiên cứu trọng tâm của luận văn là nhận diện, đo lường và đánh giá vai trò thực tế của từng nguồn lực (vốn đầu tư, nguồn nhân lực, khoa học công nghệ và năng suất nhân tố tổng hợp - TFP) đối với tăng trưởng kinh tế Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu bao quát số liệu kinh tế vĩ mô toàn quốc trong giai đoạn 1991 - 2008, tập trung chuyên sâu vào giai đoạn 2001 - 2008. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của công trình thể hiện ở việc lượng hóa chính xác tỷ phần đóng góp của TFP (dao động từ 23,4% đến 34,9%), cung cấp luận cứ thực nghiệm vững chắc để các nhà hoạch định chính sách chuyển dịch mô hình tăng trưởng từ chiều rộng sang chiều sâu.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng lý thuyết tăng trưởng tân cổ điển của Robert M. Solow (công trình đạt giải Nobel Kinh tế năm 1987) kết hợp với mô hình hàm sản xuất tổng quát Cobb-Douglas dạng Y = A * K^alpha * L^(1-alpha). Trong mô hình này, Y đại diện cho tổng sản lượng thực tế (GDP), K là nguồn vốn sản xuất, L là quy mô lao động, alpha và (1-alpha) lần lượt là hệ số co dãn của đầu ra theo vốn và lao động, còn tham số A biểu thị cho tiến bộ công nghệ hay năng suất nhân tố tổng hợp (TFP).

Mô hình Solow chỉ ra rằng việc gia tăng tỷ lệ tiết kiệm và tích lũy vốn đơn thuần chỉ giúp nâng cao mức sản lượng trong ngắn hạn mà không thể duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế liên tục trong dài hạn do quy luật lợi tức cận biên giảm dần của tư bản. Động lực duy nhất bảo đảm tăng trưởng dài hạn bền vững chính là tiến bộ công nghệ và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực (phần dư Solow). Khung phân tích của luận văn làm rõ năm khái niệm cốt lõi:

  • Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và GDP bình quân đầu người: Thước đo quy mô và mức sống kinh tế.
  • Năng suất lao động xã hội (NSLĐ): Hiệu quả sản xuất tính bằng giá trị tăng thêm chia cho số lượng lao động làm việc.
  • Hệ số hiệu quả sử dụng vốn đầu tư (ICOR): Tỷ lệ vốn đầu tư cần thiết so với GDP để tạo ra một đơn vị tăng trưởng GDP.
  • Năng suất nhân tố tổng hợp (TFP): Phần tăng trưởng đầu ra không bắt nguồn từ sự gia tăng của số lượng vốn và lao động thuần túy, phản ánh tác động tổng hợp của đổi mới công nghệ, nâng cao trình độ quản lý và chất lượng nhân lực.
  • Tăng trưởng kinh tế theo chiều rộng và chiều sâu: Phân biệt giữa tăng trưởng dựa vào mở rộng quy mô đầu vào vật chất với tăng trưởng dựa vào nâng cao hiệu suất và công nghệ (các nền kinh tế phát triển nhanh trên thế giới thường duy trì tốc độ tăng TFP tối thiểu 2%/năm).

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu thứ cấp của luận văn được thu thập có hệ thống từ Niên giám Thống kê của Tổng cục Thống kê Việt Nam (GSO), các báo cáo kinh tế của Ngân hàng Thế giới (WB), Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP), Tổ chức Năng suất Châu Á (APO), Tổ chức Nông Lương Liên Hợp Quốc (FAO) và Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF).

Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm chuỗi dữ liệu chuỗi thời gian vĩ mô hàng năm trong 18 năm liên tục (từ năm 1991 đến năm 2008), đồng thời phân tổ chi tiết theo 3 khu vực sở hữu (khu vực kinh tế nhà nước, khu vực kinh tế ngoài nhà nước, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài - FDI) và 3 nhóm ngành kinh tế chính (nông - lâm nghiệp, công nghiệp - xây dựng, các ngành dịch vụ khác). Phương pháp chọn mẫu toàn bộ dữ liệu vĩ mô chính thống bảo đảm tính đại diện, tính khách quan và tính nhất quán cao nhất của các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp.

Luận văn kết hợp phương pháp luận duy vật biện chứng, phương pháp logic gắn liền với lịch sử, phân tích định tính và phương pháp định lượng hạch toán tăng trưởng (Growth Accounting). Lý do lựa chọn phương pháp hạch toán tăng trưởng của Solow là vì phương pháp này cho phép phân tách và lượng hóa rành mạch phần đóng góp phần trăm của từng nhân tố vốn, lao động và phần dư công nghệ (TFP) vào tốc độ tăng GDP, giúp tránh việc quy kết chủ quan các nguyên nhân thúc đẩy nền kinh tế.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tăng trưởng kinh tế Việt Nam thời kỳ 1991 - 2008 phụ thuộc chủ yếu vào việc gia tăng quy mô vốn đầu tư nhưng hiệu quả sử dụng vốn chưa cao. Tỷ lệ vốn đầu tư toàn xã hội so với GDP tăng liên tục từ 17,20% năm 1991 lên trên 40% trong giai đoạn 2006 - 2008. Khu vực kinh tế nhà nước vẫn nắm giữ tỷ trọng vốn chi phối (chiếm tới 56,1% tổng vốn đầu tư năm 2008) nhưng hiệu quả sinh lời còn hạn chế, trong khi nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư chưa được khơi thông hiệu quả khi có tới 30.000 đến 40.000 tỷ đồng (khoảng 5% đến 7% GDP) bị đóng băng mỗi năm.

Thứ hai, năng suất lao động xã hội duy trì tốc độ tăng trưởng khá nhưng mức năng suất tuyệt đối còn rất thấp và có sự chênh lệch sâu sắc giữa các thành phần kinh tế. Tốc độ tăng năng suất lao động bình quân toàn nền kinh tế đạt 4,81% giai đoạn 2001 - 2005 và tăng lên 5,27% giai đoạn 2006 - 2008 (riêng năm 2008 đạt 5,53%). Tuy vậy, năm 2008, mức năng suất lao động tuyệt đối tính theo giá so sánh 1994 mới đạt 8,55 triệu đồng/người. Phân tích theo khu vực sở hữu năm 2008 cho thấy:

  • Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) dẫn đầu với mức năng suất lao động đạt 196,97 triệu đồng/người theo giá thực tế.
  • Khu vực kinh tế nhà nước đứng thứ hai, đạt 78,01 triệu đồng/người.
  • Khu vực kinh tế ngoài nhà nước đạt thấp nhất với 10,10 triệu đồng/người. Mức năng suất của khu vực FDI gấp tới 19,50 lần và khu vực nhà nước gấp 7,72 lần so với khu vực ngoài nhà nước. Đáng chú ý, khu vực ngoài nhà nước thu hút tới 88% tổng lực lượng lao động của cả nước, chính là nguyên nhân trực tiếp kéo giảm mức năng suất lao động bình quân toàn xã hội.

Thứ ba, sự gia tăng năng suất lao động của nền kinh tế chủ yếu bắt nguồn từ chuyển dịch cơ cấu lao động liên ngành thay vì cải thiện năng suất nội tại từng ngành. Trong giai đoạn 2004 - 2008, sự dịch chuyển cơ cấu lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ đóng góp bình quân 62,80% vào tốc độ tăng năng suất lao động chung toàn quốc, trong khi mức tăng năng suất thuần túy nội bộ các ngành chỉ đóng góp 37,20%. Tỷ trọng lao động nông - lâm nghiệp giảm từ 60,34% năm 2004 xuống còn 53,34% năm 2008, trong khi tỷ trọng lao động công nghiệp và dịch vụ tăng từ 39,66% lên 46,66%.

Thứ tư, đóng góp của khoa học công nghệ và năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng GDP còn ở mức khiêm tốn. Giai đoạn 2004 - 2008, đóng góp của TFP vào tăng trưởng kinh tế dao động trong khoảng từ 23,4% đến 34,9%, phần còn lại trên 65% vẫn phụ thuộc vào yếu tố vốn và lao động. Đầu tư tài chính cho khoa học và công nghệ từ ngân sách nhà nước năm 2008 đạt 4.270 tỷ đồng (chiếm 2% tổng chi ngân sách), nhưng chi phí nghiên cứu và phát triển (R&D) của khu vực doanh nghiệp tư nhân chỉ chiếm 19% tổng chi R&D toàn quốc. Doanh nghiệp Việt Nam chỉ đầu tư trung bình khoảng 0,03% doanh thu cho R&D, thấp hơn rất nhiều so với mức 3% tại các quốc gia công nghiệp phát triển, khiến tỷ trọng hàng hóa xuất khẩu công nghệ cao chỉ đạt vỏn vẹn 8,2%.

Thảo luận kết quả

Các phát hiện thực nghiệm chỉ rõ rằng mô hình tăng trưởng của Việt Nam trong suốt gần hai thập kỷ vẫn mang đậm tính chất tăng trưởng theo chiều rộng. Nguyên nhân căn bản xuất phát từ vị thế của một quốc gia đang phát triển bước đầu công nghiệp hóa, việc tập trung huy động vốn đầu tư và khai thác lợi thế dân số vàng với hơn 54 triệu người trong độ tuổi lao động năm 2008 là bước đi tất yếu. Tuy nhiên, sự chậm trễ trong đổi mới công nghệ và thể chế kinh tế thị trường đã làm giảm hiệu suất sử dụng nguồn lực.

Khi so sánh với kinh nghiệm phát triển quốc tế, mô hình của Việt Nam có sự tương đồng với Hàn Quốc giai đoạn 1960 - 1994 khi tăng trưởng kinh tế bình quân 8,3%/năm có sự đóng góp của tư bản lên tới 4,3%, lao động 2,5% và hiệu suất TFP chỉ đạt 1,5%. Ngược lại, trong thời kỳ tăng trưởng thần kỳ của Nhật Bản giai đoạn 1950 - 1973, GDP tăng trưởng 9,2%/năm nhưng tư bản chỉ đóng góp 3,4% trong khi hiệu suất TFP đóng góp vượt bậc lên tới 3,6%. Điều này chứng minh Việt Nam cần sớm chuyển đổi chiến lược để tránh bẫy thu nhập trung bình.

Dữ liệu nghiên cứu trong luận văn có thể được tổng hợp và biểu diễn trực quan qua hệ thống bảng ma trận và đồ thị vĩ mô: biểu đồ đường biểu diễn sự bứt phá của tốc độ tăng năng suất lao động xã hội từ mức 4,25% năm 2004 lên 5,58% năm 2008; bảng so sánh chênh lệch năng suất lao động giữa 3 thành phần kinh tế; bảng phân tích tỷ phần đóng góp của chuyển dịch cơ cấu ngành vào năng suất chung (chiếm trên 60%); và bảng ma trận xếp hạng năng lực cạnh tranh quốc gia của Diễn đàn Kinh tế Thế giới năm 2008 (Việt Nam xếp hạng 77/104 về năng lực cạnh tranh tổng thể và xếp hạng 92/104 về trình độ công nghệ).

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm phát huy tối đa các nguồn lực và chuyển dịch mô hình tăng trưởng kinh tế Việt Nam sang chiều sâu giai đoạn sau năm 2009, luận văn đề xuất bốn nhóm giải pháp chiến lược:

  • Cơ cấu lại nguồn vốn đầu tư và khơi thông thị trường tài chính: Cắt giảm dần tỷ trọng đầu tư công của khu vực nhà nước từ mức 56,1% xuống dưới 40% tổng vốn xã hội, tập trung vốn cho hạ tầng kinh tế kỹ thuật trọng điểm. Ban hành các cơ chế tài chính minh bạch, đa dạng hóa công cụ thị trường vốn để giải phóng và chuyển hóa 30.000 đến 40.000 tỷ đồng nguồn vốn tiết kiệm nhàn rỗi trong dân cư thành vốn đầu tư sản xuất kinh doanh trực tiếp. Thời gian triển khai ngay từ giai đoạn 2010 - 2015, chủ thể thực hiện là Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Ngân hàng Nhà nước.
  • Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực gắn với chuyển dịch cơ cấu lao động: Đẩy mạnh đào tạo nghề theo chuẩn quốc tế, nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo từ 25% lên trên 45% vào năm 2015. Xây dựng các chính sách an sinh và việc làm linh hoạt nhằm tiếp tục dịch chuyển từ 10% đến 15% lực lượng lao động nông nghiệp sang khu vực công nghiệp và dịch vụ có giá trị gia tăng cao. Chủ thể chịu trách nhiệm chính là Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo.
  • Thúc đẩy đổi mới công nghệ và nâng cao tỷ trọng đóng góp của TFP: Phấn đấu nâng mức đóng góp của TFP vào tăng trưởng GDP đạt trên 40% trong giai đoạn 2011 - 2020. Thiết lập cơ chế ưu đãi thuế để khuyến khích các doanh nghiệp khu vực tư nhân tăng tỷ lệ trích lập quỹ R&D từ mức 0,03% lên ít nhất 1% đến 2% doanh thu; nâng tỷ trọng xuất khẩu sản phẩm công nghệ cao từ 8,2% lên trên 25%. Chủ thể chủ trì là Bộ Khoa học và Công nghệ cùng cộng đồng doanh nghiệp trong nước.
  • Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia: Cải cách toàn diện môi trường kinh doanh, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và tài sản để nâng bậc chỉ số cạnh tranh quốc gia (WEF) từ vị trí thứ 77 lên nhóm 50 quốc gia dẫn đầu trong vòng 5 năm tiếp theo. Chủ thể điều phối là Chính phủ và các cơ quan ban ngành liên quan.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn cao, đặc biệt phù hợp với 4 nhóm đối tượng sau:

  • Cơ quan quản lý nhà nước và các nhà hoạch định chính sách kinh tế vĩ mô: Cán bộ công tác tại Ban Kinh tế Trung ương, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước. Luận văn cung cấp hệ thống luận cứ định lượng về chỉ số ICOR, năng suất lao động và TFP phục vụ xây dựng Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm và các kế hoạch 5 năm.
  • Giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên sau đại học: Các chuyên gia kinh tế, giảng viên và học viên cao học, nghiên cứu sinh chuyên ngành Kinh tế chính trị, Kinh tế phát triển, Kinh tế học ứng dụng. Luận văn là tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp hạch toán tăng trưởng Solow và ứng dụng hàm Cobb-Douglas trong phân tích dữ liệu chuỗi thời gian tại Việt Nam.
  • Lãnh đạo doanh nghiệp và các hiệp hội ngành nghề: Giám đốc điều hành, nhà quản lý chiến lược tại các tổng công ty, doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp FDI. Kết quả phân tích giúp doanh nghiệp nhận diện rõ xu hướng chuyển dịch cơ cấu ngành, định hình chiến lược đầu tư đổi mới công nghệ và tối ưu hóa năng suất lao động.
  • Các tổ chức tài chính và nhà đầu tư quốc tế: Chuyên viên phân tích tại Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và các quỹ đầu tư nước ngoài cần nghiên cứu chất lượng tăng trưởng, độ mở kinh tế và các rủi ro cấu trúc vĩ mô của Việt Nam trong dài hạn.

Câu hỏi thường gặp

Năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) phản ánh điều gì và tại sao lại quyết định chất lượng tăng trưởng kinh tế? TFP là phần dư sản lượng gia tăng không giải thích được bằng việc mở rộng quy mô vốn và số lượng lao động thuần túy. TFP phản ánh trực tiếp hiệu quả của tiến bộ khoa học công nghệ, kỹ năng quản lý và trình độ tay nghề người lao động. Giai đoạn 2004 - 2008, TFP đóng góp từ 23,4% đến 34,9% vào GDP Việt Nam; việc nâng cao tỷ phần này là điều kiện tiên quyết để tăng trưởng bền vững theo chiều sâu.

Tại sao năng suất lao động của Việt Nam năm 2008 chỉ đạt 638 USD dù tốc độ tăng năng suất đạt 5,53%? Mức năng suất tuyệt đối của Việt Nam thấp do xuất phát điểm kinh tế thấp và cơ cấu lao động bất hợp lý. Khu vực kinh tế ngoài nhà nước thu hút tới 88% tổng lao động xã hội nhưng năng suất lao động chỉ đạt 10,10 triệu đồng/người, kém khu vực FDI tới 19,50 lần. Thêm vào đó, hơn 53,34% lao động vẫn tập trung trong ngành nông nghiệp có giá trị gia tăng rất thấp.

Mô hình tăng trưởng Solow giải thích như thế nào về giới hạn của việc tích lũy vốn đầu tư? Lý thuyết của Robert Solow chứng minh rằng do quy luật lợi tức cận biên giảm dần, việc liên tục bơm thêm vốn đầu tư chỉ giúp tăng sản lượng trong ngắn hạn. Trong dài hạn, toàn bộ lượng vốn tích lũy mới sẽ bị tiêu hao để bù đắp khấu hao và trang bị cho lao động mới gia nhập thị trường, đưa nền kinh tế về trạng thái dừng trừ khi có tiến bộ công nghệ (TFP).

Chuyển dịch cơ cấu lao động đã đóng góp như thế nào vào mức tăng năng suất lao động giai đoạn 2004 - 2008? Chuyển dịch cơ cấu lao động là động lực đóng góp lớn nhất vào năng suất toàn xã hội giai đoạn 2004 - 2008, chiếm tỷ trọng bình quân 62,80% trong tổng mức tăng năng suất lao động chung. Tỷ trọng lao động ngành nông nghiệp giảm từ 60,34% năm 2004 xuống 53,34% năm 2008, chuyển sang các ngành công nghiệp và dịch vụ có năng suất cao hơn gấp nhiều lần.

Nền kinh tế Việt Nam cần cơ chế gì để giải phóng 30.000 đến 40.000 tỷ đồng vốn chết mỗi năm? Để khơi thông nguồn vốn nhàn rỗi tương đương 5% đến 7% GDP này, Nhà nước cần phát triển thị trường chứng khoán minh bạch, hoàn thiện hệ thống ngân hàng thương mại, bảo vệ quyền sở hữu tư nhân và tạo môi trường đầu tư kinh doanh an toàn nhằm khuyến khích người dân chuyển tiền tiết kiệm thành vốn đầu tư trực tiếp vào doanh nghiệp.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa và vận dụng thành công lý thuyết tăng trưởng Solow cùng hàm sản xuất Cobb-Douglas để đánh giá toàn diện các nguồn lực kinh tế Việt Nam giai đoạn 1991 - 2008.
  • Nghiên cứu chỉ rõ tăng trưởng GDP giai đoạn 1991 - 2008 chủ yếu dựa vào vốn đầu tư (chiếm trên 40% GDP giai đoạn 2006 - 2008) và thâm dụng lao động giá rẻ, trong khi TFP đóng góp còn hạn chế ở mức 23,4% đến 34,9%.
  • Năng suất lao động xã hội năm 2008 mới đạt 638 USD do lực lượng lao động tập trung tới 88% ở khu vực ngoài nhà nước với mức năng suất thấp (10,10 triệu đồng/người) và 53,34% lao động làm việc trong ngành nông nghiệp.
  • Quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động giữa các ngành đóng vai trò quyết định khi đóng góp tới 62,80% vào mức tăng năng suất lao động chung toàn nền kinh tế thời kỳ 2004 - 2008.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ về cơ cấu vốn đầu tư, phát triển nhân lực và đầu tư khoa học công nghệ nhằm mục tiêu nâng mức đóng góp của TFP vào GDP lên trên 40% trong giai đoạn 2011 - 2020.

Trong các bước tiếp theo, các cơ quan quản lý vĩ mô cần khẩn trương cụ thể hóa các khuyến nghị này vào kế hoạch phát triển kinh tế 2011 - 2015 và các chương trình nâng cao năng suất quốc gia đến năm 2020. Độc giả quan tâm, các nhà nghiên cứu và lãnh đạo doanh nghiệp hãy khai thác sâu các phân tích thực nghiệm của luận văn để định hình giải pháp nâng cao chất lượng tăng trưởng cho ngành và tổ chức của mình.