phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được chia thành 3 chương: Chƣơng 1: Lý thuyết tăng trưởng kinh tế của Solow và phương pháp đánh giá vai trò của các nguồn lực đối với tăng trưởng kinh tế. Chƣơng 2: Đánh giá vai trò của các nguồn lực đối với tăng trưởng kinh tế Việt Nam. Chƣơng 3: Quan điểm định hướng và giải pháp phát huy các nguồn lực cho tăng trưởng kinh tế đối với Việt Nam trong thời gian tới. 7 CHƢƠNG 1 LÝ THUYẾT TĂNG TRƢỞNG KINH TẾ CỦA SOLOW VÀ PHƢƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ VAI TRÒ CỦA CÁC NGUỒN LỰC ĐỐI VỚI TĂNG TRƢỞNG KINH TẾ 1.
Lý thuyết tăng trƣởng kinh tế của Solow và phƣơng pháp hạch toán tăng trƣởng 1. Lý thuyết tăng trưởng kinh tế của Solow Liệu gia tăng mức tiết kiệm quốc dân có thể làm cho mức tăng trưởng của đầu ra tăng thường xuyên hay không? Câu trả lời là “không”. Đó là kết quả bất ngờ nhất của một lý thuyết về tăng trưởng kinh tế do Robert M. Solow lần đầu tiên trình bày trong những năm 1950.
Công trình nghiên cứu này đã mang lại cho ông giải thưởng Nobel năm 1987. Những bộ phận chủ yếu tạo thành lý thuyết của Solow là Hàm sản xuất bình quân đầu người và Mối quan hệ giữa mức tiết kiệm và sự tăng trưởng của vốn. Mô hình tăng trưởng của Solow được lựa chọn làm cơ sở lý thuyết cho việc xác định, đánh giá vai trò của các nguồn lực đối với tăng trưởng kinh tế Việt Nam vì những lí do sau: - Mô hình tăng trưởng của Solow có ý nghĩa quan trọng đối với nền kinh tế Việt Nam đang trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa. Trong giai đoạn này, sự đóng góp của vốn vào tốc độ phát triển kinh tế hay sự tăng trưởng của nền kinh tế là rất đáng kể; - Trong Mô hình tăng trưởng của Solow, công nghệ được coi là biến ngoại sinh, vì vậy nó rất phù hợp với thực trạng của nền kinh tế Việt Nam từ trước đến nay chủ yếu nhập công nghệ từ nước ngoài; - Mô hình Solow cho ta phương pháp hạch toán tăng trưởng.
Phương pháp này cho phép xác định và tính toán được sự đóng góp của các yếu tố đầu vào đã 8 được sử dụng. Và như thế chúng ta có thể sử dụng phương pháp này để xác định, tính toán, đánh giá vai trò của các nguồn tăng trưởng trong nền kinh tế Việt Nam. Hàm sản xuất và những nguồn gốc của tăng trưởng kinh tế Lý thuyết tăng trưởng kinh tế có liên quan đến sự tăng trưởng của GDP thực tế. Những yếu tố kinh tế trực tiếp sản xuất ra GDP thực tế là những yếu tố đầu vào.
Hàm sản xuất: là mối quan hệ thường được trình bày theo kiểu đại số học, cho thấy có thể sản xuất bao nhiêu đầu ra bằng một số lượng nhất định các yếu tố đầu vào. Nói cách khác, hàm sản xuất thể hiện suất sinh lợi theo quy mô không đổi. Câu hỏi đặt ra là: có thể sản xuất ra bao nhiêu GDP thực tế (Y) trong một thời gian nhất định? Điều này tùy thuộc vào tổng lượng có sẵn để sử dụng của hai yếu tố đầu vào chủ yếu là vốn (K), lao động (L) và vào tác động của đầu ra theo yếu tố đầu vào bình quân có sẵn để sử dụng còn được gọi là A (yếu tố tăng trưởng tự định). Mối quan hệ giữa Y, A, K và L được biểu thị bằng Hàm sản xuất dạng tổng quát sau: Y = AF (K,L) (1) Trong đó, tổng sản phẩm quốc dân (Y) được sản xuất từ lao động (L) và vốn (K).
Ở đây có một giả thiết cụ thể là F(K,L) (thể hiện sản lượng được sản xuất từ L và K trong thời kỳ đầu) tăng lên A lần nhờ tiến bộ công nghệ. Hàm sản xuất cũng có thể được thể hiện dưới dạng: “hàm sản xuất Cobb – Douglas”(4) (4) Hàm sản xuất mang tên Cobb – giáo sư toán học ở Amherst, và Paul H. Douglas – giáo sư kinh tế học ở đại học Tổng Hợp Chicago (sau đó là Thượng Nghị Sĩ Mỹ), và được trình bày trong một cuốn sách do Paul H. Douglas viết, The Theory of Wages ( New York: Macmillan, 1934).
Dạng tổng quát như sau: Y = A KαL1-α (2) 9 Phương trình (2) nói lên rằng GDP thực tế bằng yếu tố tăng trưởng tự định (A) nhân với chỉ số vốn (K) và lao động (L). Các trọng lượng α và 1-α biểu thị mức co dãn (hay tỷ lệ phần trăm ứng đối) của GDP thực tế theo sự gia tăng của một trong hai yếu tố này. Tính co dãn được hiểu là tỷ lệ phần trăm thay đổi trong một biến số ứng với bao nhiêu phần trăm thay đổi trong một biến số khác. Trên thực tế, chúng ta thấy rằng sự tăng trưởng của mức sống không phải tùy thuộc vào tổng số GDP thực tế mà phụ thuộc vào GDP thực tế bình quân đầu người.
GDP thực tế bình quân đầu người được biểu thị là GDP thực tế (Y) chia cho tổng số lao động đầu vào (L), tức là Y/L. Vì vậy, hàm sản xuất (1) được viết như sau: Y/L =Af(K/L) (3) Mối quan hệ quan trọng này nói lên rằng quả thật có hai nguồn gốc tăng trưởng của mức sống (GDP thực tế bình quân đầu người (Y/L)). Đó là yếu tố tăng trưởng tự định (A), và tỷ số của vốn với lao động đầu vào (K/L). Đến đây, một vấn đề nảy sinh là phương trình (3) không lý giải được những khác biệt hiển nhiên giữa nước này với nước khác hay giữa thời gian này so với thời gian khác vì nó không cho biết tại sao hai nguồn gốc tăng trưởng ấy lại khác nhau giữa các nước so với nhau hay giữa các thời gian lịch sử khác nhau.
Chúng ta sẽ tìm hiểu những yếu tố quy định sự tăng trưởng của vốn bình quân đầu người (K/L) thông qua mối quan hệ cơ bản giữa tiết kiệm và đầu tư mà Solow đã đề cập đến trong mô hình tăng trưởng của ông. Mối quan hệ giữa tiết kiệm và sự tăng trưởng của vốn Trong phần này, chúng ta sẽ tìm hiểu xem sự tăng trưởng trong K/L có liên quan như thế nào với tổng mức tiết kiệm quốc dân. Mối quan hệ này là quan trọng vì nó biểu thị sự liên quan giữa chính sách tài chính của chính phủ và sự tăng trưởng trong thời gian dài của đầu ra bình quân đầu người. Khái niệm mức tiết 10 kiệm (S), yếu tố quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế, không phải là số tiết kiệm của các hộ gia đình mà là tổng mức tiết kiệm quốc dân, bao gồm số tiết kiệm của các hộ gia đình, của các công ty và của chính phủ (số thặng dư ngân sách chính phủ).
Khi chính phủ có ngân sách thâm hụt thì thâm hụt ấy là một thành tố âm của tổng mức tiết kiệm quốc dân, được bù đắp bằng một phần số tiết kiệm dương của các hộ gia đình và các công ty trong cả nước. Giả định rằng trong nền kinh tế đóng thì tổng mức tiết kiệm quốc dân (S) bằng tổng mức đầu tư trong nước (I). S = I (4) Để xác định mối quan hệ giữa sự tăng trưởng trong số vốn với số đầu tư và do đó với tổng mức tiết kiệm quốc dân (S), ta chia tổng đầu tư trong nước (I) thành hai phần: Phần đầu tư ròng (In) - đây là phần tạo ra sự tăng trưởng trong vốn, và phần đầu tư thay thế (D) - phần này được dùng để thay thế số vốn cũ đã hư hỏng hay đã trở nên lỗi thời. I = In +D (5) Đầu tư ròng chỉ là sự thay đổi trong kho vốn từ thời gian này sang thời gian sau.
Nếu ký hiệu sự thay đổi trong kho vốn là: K, ta có: In = K (6) Phần đầu tư thay thế được giả định là một phân số cố định (mức hao mòn “d” của kho vốn K). Ta có: D = ∂K (7) Thay (6), (7) và (5) vào (4), ta được phương trình mô tả mối quan hệ giữa mức tiết kiệm quốc dân (S) và mức tăng trưởng trong kho vốn ( K), đó là: S = K + ∂K (8) Đưa mức thay đổi của vốn ( K/K) vào phương trình (8) ta sẽ được phương trình sau: K .K S= + ∂K = ( +∂) K (9) K K 11 Phương trình (9) cho thấy mức tiết kiệm quốc dân bằng tổng mức đầu tư, tổng mức đầu tư này đến lượt nó bằng mức tăng trưởng của vốn cộng với mức hao mòn nhân K với kho vốn. Rõ ràng là mức tiết kiệm quốc dân và mức tăng của vốn ( ) có mối K liên hệ mật thiết với nhau. Điểm trung tâm trong công trình phân tích của Solow là tư tưởng về một trạng thái đều đều.
Một trạng thái đều đều là một tình hình trong đó đầu ra và vốn đầu vào tăng theo những mức giống nhau, hàm ý một tỷ số không thay đổi của đầu ra với vốn đầu vào. Trong trường hợp đơn giản nhất, khi không có sự tăng trưởng trong A (yếu tố tăng trưởng tự định), trạng thái đều đều xuất hiện khi mức tăng trưởng của Y và K đều bằng mức tăng trong L, hàm ý rằng các tỷ số Y/L và K/L là không thay đổi. Ký hiệu các mức tăng trưởng bằng các chữ cái nhỏ, ta có: y = Y/L: S k = K/L l: mức tăng trưởng của lao động đầu vào Do đó điều kiện để có một trạng thái đều đều, trong đó số vốn bình quân đầu người (K/L) không thay đổi, có thể được viết một cách đơn giản là: k = l (10) Phương trình (9) được viết lại như sau: S = (l+ ∂) K (11) Phương trình (11) nói lên rằng một trạng thái đều đều đòi hỏi tổng mức tiết kiệm (S) phải bằng mức “đầu tư ở trạng thái đều đều”, mức này là lượng đầu tư làm cho kho vốn tăng theo mức tăng của số dân trong khi chấp nhận sự hao mòn của vốn (∂K). 12 Chúng ta định nghĩa lại tổng mức tiết kiệm quốc dân (S) là tỷ số tiết kiệm quốc dân với đầu ra (s = S/Y) nhân với đầu ra rồi chia cả hai vế của phương trình (11) cho K, ta được phương trình sau: Y s = l + ∂ (12) K Phương trình (12) cho thấy số tiết kiệm tính theo đơn vị vốn phải bằng tổng của mức tăng dân số và mức mất giá, mức này đến lượt nó là lượng đầu tư ở trạng thái đều đều tính theo đơn vị vốn.