Chương I: “ Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến”.1 Khách quốc tế Theo Định nghĩa của Liên hiệp các quốc gia – League of Nations năm 1937 thì: “Bất cứ ai đến thăm một đất nước khác với nơi cư trú thường xuyên của mình trong khoảng thời gian ít nhất là 24 giờ”. Theo Pháp lệnh du lịch Việt Nam, tại Điều 20, Chương IV: “Khách du lịch quốc tế là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch và công dân Việt Nam, người nước ngoài cư trú tại Việt Nam ra nước ngoài du lịch ”.2 Khách nội địa Theo tổ chức Du lịch thế giới: “ Khách du lịch nội địa là công dân một nước (không kể quốc tịch) hành trình đến một nơi trong đất nước đó, khác nơi cư trú thường xuyên của mình trong khoảng thời gian ít nhất là 24 giờ, hay 1 đêm với mọi mục đích trừ mục đích hoạt động để được trả thù lao tại nơi đến”. Theo Pháp lệnh du lịch Việt Nam, tại Điều 20, Chương IV: “Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam và người nước ngoài cư trú tại Việt Nam đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam”.3 Loại hình du lịch 1.1 Khái niệm Loại hình du lịch là tập hợp các sản phẩm du lịch của một vùng, một quốc gia có liên hệ mật thiết với nhau, hoặc vì chúng thỏa mãn cùng một động cơ du lịch, cùng diễn ra một loại điểm đến, được bán cho cùng một giới khách hàng, được hình thành trên cơ sở cùng sử dụng chung một loại hình dịch vụ riêng lẻ, hoặc được đến khách du lịch theo một định nghĩa như nhau.2 Các loại hình du lịch Một số loại hình du lịch thường được nhắc đến ở nước ta là: - Du lịch cảnh quan sinh thái: Du lịch cảnh quan sinh thái là hình thức du lịch thiên nhiên với mức độ giáo dục cao về sinh thái và môi trường có tác động tích cực đến việc bảo vệ môi trường và văn hóa, đảm bảo mang lại các lợi ích về tài chính cho cộng đồng tại địa phương và có đóng góp cho các nỗ lực bảo tồn. Ví dụ: du lịch tham quan vườn Quốc gia Côn Đảo tại tỉnh Bà Rịa–Vũng Tàu.
- Du lịch nghỉ dưỡng cuối tuần: Loại hình du lịch này xuất phát từ nhu cầu giải tỏa bớt căng thẳng sau những giờ phút lao động vất vả để phục hồi sức khỏe. Ví dụ: du lịch tắm biển tại Bà Rịa–Vũng Tàu. - Du lịch văn hóa: Là loại du lịch nhằm thỏa mãn nhu cầu cảm nhận văn hóa của khách du lịch. Du khách đến tham quan tìm hiểu nền văn hóa, lịch sử, phong tục tập quán của một vùng đất, một quốc gia mà nơi đó có nét văn hóa, tiến trình lịch sử là một điều hết sức mới lại đối với họ hoặc tham gia các cuộc thi hoa hậu, âm nhạc.
Ví dụ: Tham quan chùa chiền, các công trình kiến trúc, các di tích lịch sử, tham gia các lễ hội văn hóa, các cuộc thi hoa hậu, âm nhạc,. - Du lịch thể thao: Đó là chuyến du lịch gắn liền với mục đích tham gia một môn thể thao nào đó như lướt sóng, leo núi,. hoặc tham gia các lễ hội thể thao, một kỳ thế vận hội với tư cách là vận động viên, nhà tổ chức, huấn luyện viên, cổ động viên. - Du lịch chữa bệnh: Do nhu cầu giải tỏa bớt căng thẳng sau những giờ phút lao động vất vả do thể trạng sức khỏe, đòi hỏi một phương pháp chữa bệnh đặc biệt gắn liền với điều kiện địa giới, khí hậu, môi trường.
loại hình du lịch nghỉ ngơi chữa bệnh và cả điều trị được thiết lập nhằm phục vụ cho các đối tượng có nhu cầu. Ví dụ: loại hình du lịch tắm suối khoáng nóng tại tỉnh Bà Rịa–Vũng Tàu, tắm bùn ở Nha Trang. 123doc 7 - Du lịch MICE: MICE là loại hình du lịch kết hợp hội nghị, hội thảo, triển lãm, tổ chức sự kiện, du lịch khen thưởng của các công ty cho nhân viên, đối tác. MICE - viết tắt của Meeting (hội họp), Incentive (khen thưởng), Convention (hội nghị, hội thảo) và Exhibition (triển lãm).
Tên đầy đủ tiếng Anh là Meeting Incentive Conference Event. Bởi vậy các đoàn khách MICE thường rất đông (vài trăm khách) và đặc biệt mức chi tiêu cao hơn khách đi tour bình thường (do Ban tổ chức các hội nghị quốc tế bao giờ cũng đặt phòng cho khách ở khách sạn 4 - 5 sao, dịch vụ cao, tour sau hội nghị phải thiết kế chuyên biệt theo yêu cầu…). MICE hiện là loại hình du lịch mang lại nguồn thu rất lớn cho ngành du lịch ở các nước. Đối với Việt Nam loại hình du lịch này đã được các công ty trong ngành du lịch khai thác từ nhiều năm nay, bước đầu đã có kết quả khả quan.
Khai thác thị trường MICE là một trong những mục tiêu của chiến lược phát triển ngành du lịch Việt Nam.2 Các tác động về kinh tế - xã hội của hoạt động du lịch Để phân tích một cách đầy đủ về tác động kinh tế - xã hội của hoạt động du lịch, cần thấy rõ những nét đặc trưng của hoạt động du lịch. Đó là: - Nhu cầu tiêu dùng du lịch là nhu cầu đặc biệt. - Nhu cầu hiểu biết kho tàng văn hóa, lịch sử, nhu cầu vãn cảnh thiên nhiên, bơi và tắm biển, hồ, sông. - Tiêu dùng dịch vụ du lịch thỏa mãn các nhu cầu về hàng hóa (thức ăn, hàng hóa mua sắm, hàng lưu niệm v.) và đặc biệt chủ yếu là các nhu cầu về dịch vụ (lưu trú, vận chuyển hành khách, thông tin v.
- Việc tiêu dùng du lịch chỉ thỏa mãn nhu cầu thứ yếu, những nhu cầu không thiết yếu của con người (với ngoại lệ ở thể loại du lịch chữa bệnh, khi đó du lịch có ý nghĩa sống còn đối với người bệnh). Tuy nhiên thức ăn, chỗ ngủ, quần áo. cũng là nhu cầu thiết yếu đối với con người song chúng không đóng vai trò quyết định cho một chuyến du lịch. - Việc tiêu dùng các dịch vụ du lịch và hàng hóa (chủ yếu là thức ăn) xảy ra trong cùng một thời gian và tại cùng một thời điểm với việc sản xuất ra chúng.
123doc 8 Trong du lịch, nhà kinh doanh không phải vận chuyển dịch vụ và hàng hóa đến cho khách hàng mà ngược lại, tự khách du lịch phải đi đến nơi có hàng hóa. - Tiêu dùng du lịch xảy ra thông thường theo thời vụ. Với những đặc điểm trên, các mối quan hệ trong tiêu dùng du lịch được phân làm 2 loại: - Các mối quan hệ vật chất nảy sinh khi khách đến nơi du lịch và mua dịch vụ, hàng hóa ở đó bằng tiền tệ. - Các mối quan hệ phi vật chất nảy sinh khi khách tiếp xúc với con người, văn hóa, phong tục tập quán của dân địa phương.
Tác động về mặt kinh tế của hoạt động du lịch 1.1 Tác động về mặt kinh tế của hoạt động du lịch nội địa Du lịch nội địa tạo ra sự di chuyển, trao đổi giữa các vùng miền để tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ và hàng hóa du lịch của ngành du lịch và toàn xã hội. Nói cách khác, hoạt động du lịch nội địa có tác động tích cực đến sự phát triển của nhiều ngành kinh tế khác như sản xuất vật liệu xây dựng, công nghiệp thực phẩm, nông nghiệp, công nghiệp gỗ, dệt, thủy sản, thủ công mỹ nghệ… nhằm tạo ra cơ sở vật chất và hàng hóa đáp ứng nhu cầu sinh hoạt và tiêu dùng của khách du lịch. Đây cũng là một cách để quảng bá những sản phẩm, những thế mạnh của địa phương. Ngoài ra du lịch phát triển còn tác động đến sự phát triển của y tế, văn hoá, thương mại, ngân hàng, giao thông vận tải… góp phần tăng thu nhập quốc dân.
Thông qua việc tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ của khách du lịch, du lịch nội địa góp phần làm khởi sắc kinh tế ở nơi du lịch, tạo ra sự thay đổi mạnh mẽ bộ mặt kinh tế xã hội ở địa phương đó. Đấy cũng là điều kiện tốt để kích thích nguồn vốn nhàn rỗi trong nhân dân chảy vào quá trình chu chuyển kinh tế. Đến lúc này, sự mở rộng đầu tư, tiêu dùng du lịch một lần nữa sẽ tác động tích cực đến phát triển kinh tế và tạo nên một hiệu ứng dây chuyền một cách liên tục. Tham gia tích cực vào quá trình tạo nên thu nhập quốc dân (sản xuất đồ lưu niệm, chế biến thực phẩm, xây dựng các cơ sở vật chất kỹ thuật v.) làm tăng thêm tổng sản phẩm quốc nội.
Tham gia tích cực vào quá trình phân phối lại thu nhập quốc dân giữa các vùng. Nói cách khác là du lịch tác động tích cực vào việc làm cân đối cấu trúc thu 123doc 9 nhập và chi tiêu của nhân dân theo các vùng: thường thì các vùng phát triển mạnh du lịch là các vùng kém sản xuất ra của cải vật chất dẫn đến thu nhập của những người dân vùng đó từ sản xuất là rất thấp. Du lịch nội địa giúp cho việc sử dụng cơ sở vật chất kỹ thuật của du lịch quốc tế được hợp lý hơn. Vào trước và sau mùa vụ du lịch, khi khách quốc tế vắng có thể sử dụng cơ sở vật chất kỹ thuật ấy vào phục vụ khách du lịch nội địa.
Theo cách đó vừa có tác động thúc đẩy sự phát triển của du lịch nội địa, vừa tận dụng được cơ sở vật chất kỹ thuật.2 Tác động về mặt kinh tế của hoạt động du lịch quốc tế Tác động tích cực vào việc làm tăng thu nhập quốc dân thông qua thu ngoại tệ, đóng góp vai trò to lớn trong việc cân bằng cán cân thanh toán quốc tế. Cùng với hàng không dân dụng, kiều hối, cung ứng tàu biển, bưu điện quốc tế, chuyển giao công nghệ và các dịch vụ thu ngoại tệ khác, du lịch quốc tế hàng năm đem lại cho các quốc gia nhiều ngoại tệ. Đây là tác động trực tiếp nhất của du lịch đối với nền kinh tế. Đã có nhiều nước trong khu vực và trên thế giới thu hàng tỷ USD mỗi năm thông qua việc phát triển du lịch.
Du lịch quốc tế là hoạt động xuất khẩu có hiệu quả cao. Tính hiệu quả trong hoạt động du lịch quốc tế thể hiện trước nhất ở chỗ: đây là ngành xuất khẩu tại chỗ những hàng hóa công nghiệp, hàng tiêu dùng, thủ công mỹ nghệ, đồ cổ phục chế nông lâm sản,. theo giá bán lẻ cao hơn (nếu như bán qua xuất khẩu thông thường sẽ theo giá bán buôn).