Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Ngành chăn nuôi lợn tại Việt Nam giữ vị trí then chốt trong sản xuất nông nghiệp, đóng góp nguồn thực phẩm chủ lực và nguyên liệu cho công nghiệp chế biến. Tuy nhiên, sự chuyển dịch từ phương thức chăn nuôi phân tán, nhỏ lẻ sang mô hình chăn nuôi tập trung công nghiệp đang phải đối mặt với nhiều rủi ro về dịch bệnh truyền nhiễm. Trong đó, bệnh suyễn lợn (Swine Enzootic Pneumonia - SEP) do vi khuẩn Mycoplasma hyopneumoniae gây ra là một trong những bệnh lý đường hô hấp nguy hiểm, có mức độ lưu hành rộng khắp các vùng miền. Mặc dù tỷ lệ chết trực tiếp do bệnh suyễn không cao, bệnh gây tổn thương đường hô hấp mãn tính, làm suy giảm nghiêm trọng khả năng hấp thu dinh dưỡng, tăng tiêu tốn thức ăn trên mỗi kilôgam tăng trọng, kéo dài thời gian xuất chuồng và gia tăng chi phí thú y.
Xã Minh Lập, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên nằm trong vùng trung du miền núi phía Bắc, có khí hậu nhiệt đới gió mùa với sự chênh lệch nhiệt độ lớn giữa các mùa, độ ẩm trung bình năm cao (82%) cùng mùa mưa tập trung. Điều kiện tiểu khí hậu chuồng nuôi biến động mạnh tạo cơ hội thuận lợi cho mầm bệnh phát sinh và bùng phát. Trại lợn của ông Đặng Đức Oai liên kết gia công với Công ty TNHH Charoen Pokphand (CP) Việt Nam bắt đầu vận hành từ tháng 1 năm 2014 theo quy trình chăn nuôi khép kín. Việc theo dõi dịch tễ học và đánh giá hiệu lực của các biện pháp điều trị thực tế tại cơ sở này là cơ sở thực tiễn để tác giả Nguyễn Văn Anh thực hiện khóa luận tốt nghiệp kỹ sư Thú y tại Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên, dưới sự hướng dẫn của TS. Bùi Thị Thơm.
Mục tiêu nghiên cứu được xác định cụ thể gồm 4 nội dung:
- Tìm hiểu quy trình chăn nuôi và công tác vệ sinh phòng bệnh tại trang trại.
- Điều tra tình hình mắc bệnh hen suyễn trên đàn lợn thịt hậu bị theo thời gian và theo lứa tuổi.
- Xác định sự biến đổi lâm sàng và bệnh tích của lợn mắc bệnh.
- Xây dựng và đánh giá hiệu quả của các phác đồ điều trị bệnh suyễn bằng thuốc kháng sinh tại cơ sở.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Đàn lợn thịt hậu bị lai 3 máu Duroc × F1 (Yorkshire × Landrace) nuôi tập trung; các loại dược phẩm thú y gồm kháng sinh Tylogenta, Dynamutilin 20%, thuốc hạ sốt giảm đau Anazine 20% (Dipyrone) và chế phẩm Vitamin C Antistress.
- Phạm vi không gian: Trại lợn CP của ông Đặng Đức Oai tại xã Minh Lập, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên.
- Phạm vi thời gian: Đề tài tiến hành theo dõi và thu thập số liệu liên tục từ ngày 09/06/2014 đến ngày 24/11/2014.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khung lý thuyết và tác nhân gây bệnh
Căn bệnh chính được xác định là Mycoplasma hyopneumoniae. Về mặt cơ chế bệnh sinh, vi khuẩn xâm nhập vào đường hô hấp trên, dính bám vào hệ thống lông nhung của biểu mô khí quản và phế quản, làm tổn thương và tê liệt chức năng vận động cơ học của lớp lông rung, từ đó ức chế phản xạ tống thải dịch nhầy và làm suy yếu hàng rào phòng ngự đầu tiên của cơ thể. Đồng thời, M. hyopneumoniae gây kiệt quệ và biến đổi chức năng của đại thực bào phế nang, dẫn tới tình trạng suy giảm miễn dịch cục bộ. Trạng thái tổn thương này mở đường cho các vi khuẩn cơ hội xâm nhiễm và phát triển thứ phát, bao gồm:
- Pasteurella multocida: Thường nhiễm ở giai đoạn cuối của dịch viêm phổi địa phương, làm trầm trọng hóa các tổn thương phổi thành các ổ hoại tử bã đậu và tụ huyết.
- Staphylococcus aureus: Cầu khuẩn Gram dương tiết các độc tố dung huyết (hemolysin), men đông huyết tương và men tiêu tơ huyết, gây hình thành các ổ áp-xe trong nhu mô phổi.
- Klebsiella pneumoniae: Trực khuẩn Gram âm có vỏ bọc (capsule), gây viêm xuất tiết, xung huyết và làm phổi đông đặc, đặc biệt là ở thùy tim.
- Streptococcus suis, Bordetella bronchiseptica và Salmonella: Gây phản ứng viêm mủ, viêm dính màng phổi và các biến đổi mô bệnh học dạng nhục hóa lan tỏa.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu áp dụng các phương pháp điều tra dịch tễ học thú y học truyền thống kết hợp thử nghiệm lâm sàng:
- Phương pháp điều tra hồi cứu: Khai thác số liệu lưu trữ trong sổ sách chăn nuôi, lý lịch đàn và hồ sơ thú y của trang trại từ đầu năm 2014.
- Phương pháp dịch tễ học mô tả: Quan sát lâm sàng trực tiếp toàn đàn hàng ngày vào các khung giờ nhạy cảm (sáng sớm và chiều tối) để phát hiện các triệu chứng ho, nhịp thở khó, tư thế ngồi thở. Kết hợp phương pháp mổ khám tử thiết đối với các ca lợn chết để giám sát tổn thương đại thể tại đường hô hấp, phổi và hệ hạch lâm ba phế quản.
- Phương pháp bố trí thí nghiệm điều trị: Lựa chọn 100 lợn thịt hậu bị có biểu hiện lâm sàng điển hình của bệnh suyễn, phân bố ngẫu nhiên thành 2 lô thí nghiệm đồng đều về thể trạng và điều kiện chăm sóc (mỗi lô 50 con):
- Lô 1 (Phác đồ 1): Tiêm bắp Tylogenta (chứa Tylosin tartrate và Gentamycin Sulfate) liều 1 ml/10 kg thể trọng/lần/ngày; kết hợp hạ sốt Anazine 20% liều 1 ml/10 kg thể trọng/lần/ngày; bổ sung Vitamin C Antistress liều 1 g/50 kg thể trọng. Liệu trình theo dõi từ 3 đến 5 ngày.
- Lô 2 (Phác đồ 2): Tiêm bắp Dynamutilin 20% (chứa Tiamutilin Hydrogen Fumarate) liều 1 ml/20 kg thể trọng/lần/ngày; kết hợp hạ sốt Anazine 20% và Vitamin C Antistress cùng liều lượng. Liệu trình theo dõi 5 ngày.
- Phương pháp thống kê: Áp dụng các công thức tính tỷ lệ mắc bệnh, tỷ lệ chết, tỷ lệ khỏi bệnh, tỷ lệ tái phát và thời gian điều trị khỏi trung bình ($\bar{X} = \frac{\sum x_i n_i}{n}$). Số liệu thu thập được xử lý thống kê sinh vật học ứng dụng trong chăn nuôi trên phần mềm Microsoft Excel.
Nội dung chính theo từng chương
Phần 1: Công tác phục vụ sản xuất
Phần này phản ánh quá trình tác giả trực tiếp tham gia lao động kỹ thuật và quản trị thú y tại cơ sở thực tập:
- Điều tra cơ bản địa bàn xã Minh Lập: Xã có địa hình trung du miền núi phức tạp, đồi bát úp xen kẽ thung lũng dốc 0 - 40°, độ cao trung bình 49,8 - 236,8 m; có sông Cầu chạy dọc ranh giới phía Tây và phía Bắc. Khí hậu có 4 mùa rõ rệt, nhiệt độ bình quân 22 °C, lượng mưa trung bình 2.097 mm/năm (mùa mưa chiếm 91,6%, tập trung vào tháng 7 và tháng 8). Xã có 6.633 nhân khẩu, trong đó 70% sản xuất nông nghiệp; tổng đàn lợn toàn xã đạt 7.290 con (năm 2011).
- Cơ cấu tổ chức và cơ sở vật chất của trại: Trại có 7 nhân sự gồm 1 chủ trại (ông Đặng Đức Oai), 2 kỹ sư kỹ thuật và 4 công nhân chăn nuôi trực tiếp; thu nhập bình quân đạt khoảng 3.000.000 đồng/người/tháng. Trại bố trí 2 dãy chuồng khép kín, mỗi dãy gồm 12 ô (8 ô lớn nuôi lợn khỏe, 2 ô nhỏ cách ly và 2 ô nhỏ điều trị lợn ốm). Hệ thống thông gió gồm 6 quạt hút gắn ở cuối mỗi dãy, giàn làm mát tuần hoàn, vòi uống và máng ăn tự động, cùng 4 bóng hồng ngoại sưởi ấm công suất 175 W/bóng cho mỗi ô úm lợn con.
- Kết quả thực hiện công tác kỹ thuật: Trong thời gian thực tập, tác giả đã tham gia tiêm phòng đầy đủ các loại vắc-xin cho 1.100 con lợn (đạt 100% chỉ tiêu an toàn); chẩn đoán và điều trị bệnh suyễn cho 747 con với 728 con khỏi bệnh (tỷ lệ khỏi 97,45%); duy trì quy trình phun tiêu độc sát trùng định kỳ và vệ sinh chuồng trại.
Phần 2: Chuyên đề nghiên cứu - Đánh giá tỷ lệ mắc bệnh suyễn đàn lợn thịt và biện pháp phòng trị
Tình hình chăn nuôi và dịch bệnh chung tại trại
Quy mô chăn nuôi duy trì ổn định ở mức 1.100 con/lứa do giới hạn diện tích chuồng nuôi. Cơ cấu đàn lợn theo các đợt ghi nhận:
- Đợt 1 (tháng 1 đến tháng 6 năm 2014): 485 lợn cái và 615 lợn đực.
- Đợt 2 (tháng 6 đến tháng 11 năm 2014): 510 lợn cái và 590 lợn đực.
Công tác tiêm phòng vắc-xin được thực hiện nghiêm ngặt theo lịch trình: tuần 4 tiêm vắc-xin PRRS (tai xanh) và vắc-xin Mycoplasma; tuần 5 tiêm vắc-xin Dịch tả lần 1; tuần 7 tiêm vắc-xin Lở mồm long móng (LMLM) lần 1; tuần 9 tiêm nhắc lại Dịch tả lần 2; tuần 11 tiêm nhắc lại LMLM lần 2 (tất cả đều sử dụng liều 2 ml/con bằng đường tiêm bắp). Hóa chất sát trùng sử dụng là Novacine với tỷ lệ pha loãng 1/3200 cho người, 1/400 cho phương tiện vận chuyển và 1/1600 khi phun trực tiếp trong chuồng có vật nuôi.
Tình hình phát sinh các bệnh truyền nhiễm và nội khoa thông thường trên tổng đàn 1.100 con lợn hậu bị được ghi nhận như sau:
| Tên bệnh |
Số con theo dõi (con) |
Số con mắc bệnh (con) |
Tỷ lệ mắc (%) |
| Tiêu chảy phân trắng |
1.100 |
203 |
18,45 |
| Hen suyễn |
1.100 |
98 |
8,90 |
| Ghẻ, viêm da |
1.100 |
28 |
2,50 |
| Các bệnh khác |
1.100 |
32 |
2,90 |
Tỷ lệ mắc bệnh suyễn theo thời gian và lứa tuổi
Quá trình điều tra bệnh suyễn kéo dài 5 tháng cuối năm 2014 cho thấy tỷ lệ nhiễm có xu hướng biến động gắn liền với điều kiện thời tiết:
| Tháng theo dõi |
Tổng số lợn theo dõi (con) |
Số con mắc bệnh (con) |
Tỷ lệ mắc (%) |
| Tháng 6 |
1.100 |
98 |
8,90 |
| Tháng 7 |
1.098 |
113 |
10,29 |
| Tháng 8 |
1.095 |
128 |
11,68 |
| Tháng 9 |
1.090 |
143 |
13,11 |
| Tháng 10 |
1.084 |
164 |
15,12 |
| Tháng 11 |
1.082 |
101 |
9,33 |
Tỷ lệ mắc bệnh tăng dần từ mùa hè sang mùa thu và đạt đỉnh vào tháng 10 (15,12%) khi thời tiết bước vào giai đoạn chuyển mùa thu - đông, nhiệt độ hạ thấp vào ban đêm kèm theo sương muối. Sự chênh lệch tỷ lệ mắc giữa tháng cao nhất và tháng thấp nhất là 6,22%.
Xét theo giai đoạn sinh trưởng của lợn thịt hậu bị, tỷ lệ mắc bệnh có sự phân hóa theo độ tuổi:
| Giai đoạn tuổi |
Số lợn theo dõi (con) |
Số lợn mắc bệnh (con) |
Tỷ lệ mắc (%) |
| 21 ngày – 2 tháng tuổi |
1.098 |
113 |
10,29 |
| 2 – 3 tháng tuổi |
1.095 |
128 |
11,68 |
| 3 – 4 tháng tuổi |
1.090 |
143 |
13,11 |
| 4 – 5 tháng tuổi |
1.084 |
164 |
15,12 |
| 5 – 6 tháng tuổi |
1.082 |
101 |
9,33 |
Tỷ lệ mắc bệnh tăng dần từ giai đoạn cai sữa đến giai đoạn 4 - 5 tháng tuổi (15,12%), sau đó giảm xuống ở nhóm 5 - 6 tháng tuổi (9,33%).
Triệu chứng lâm sàng và bệnh tích đại thể
Qua quan sát trực tiếp, lợn mắc bệnh suyễn có biểu hiện sốt nhẹ ngắt quãng (40,4 - 41 °C), ăn kém, hắt hơi, chảy nước mũi loãng sau đặc dần thành chất nhầy. Triệu chứng ho xuất hiện nhiều vào ban đêm và sáng sớm hoặc khi bị vận động, lợn ho khan từng tiếng rồi kéo dài thành cơn rũ rượi, lưng cong lại, đầu cúi sát đất. Hô hấp chuyển từ thở thể ngực sang thể bụng, nhịp thở gấp gáp, thở dốc, hai chân trước dạng ra ngồi thở như chó. Lợn kiệt sức nằm lỳ tại chỗ, da nhợt nhạt.
Kết quả mổ khám lợn chết ghi nhận bệnh tích tập trung chủ yếu ở đường hô hấp:
- Phổi bị viêm lan tỏa đối xứng hai bên, có màu hồng sẫm, nâu xám hoặc đỏ mận chín.
- Xuất hiện hiện tượng nhục hóa và gan hóa: các vùng tổn thương đặc quánh, mất tính đàn hồi; khi cắt mảnh phổi thả vào nước thấy chìm.
- Khí quản và phế quản chứa nhiều dịch bọt trắng; màng phổi có hiện tượng viêm dính vào thành ngực; xoang ngực tích dịch.
- Hạch lâm ba phổi sưng to gấp 2 - 5 lần bình thường, tụ máu ứ nước màu tro.
Kết quả thử nghiệm các phác đồ điều trị
Tiến hành thử nghiệm trên 100 lợn bệnh chia thành 2 nhóm điều trị:
| Chỉ tiêu theo dõi |
Phác đồ 1 (Tylogenta) |
Phác đồ 2 (Dynamutilin 20%) |
| Số lợn điều trị (con) |
50 |
50 |
| Số lợn khỏi bệnh ngày 1 (con / %) |
0 (0,00%) |
0 (0,00%) |
| Số lợn khỏi bệnh ngày 2 (con / %) |
17 (34,00%) |
14 (28,00%) |
| Số lợn khỏi bệnh ngày 3 (con / %) |
20 (40,00%) |
16 (32,00%) |
| Số lợn khỏi bệnh ngày 4 (con / %) |
12 (24,00%) |
13 (26,00%) |
| Số lợn khỏi bệnh ngày 5 (con / %) |
0 (0,00%) |
5 (10,00%) |
| Tổng số lợn khỏi bệnh (con / %) |
49 (98,00%) |
48 (96,00%) |
| Số lợn không khỏi và chết (con / %) |
1 (2,00%) |
2 (4,00%) |
| Thời gian điều trị khỏi trung bình (ngày) |
2,89 |
3,18 |
| Số con tái phát bệnh (con / %) |
2 (4,08%) |
3 (6,25%) |
Phác đồ 1 cho thời gian cắt triệu chứng nhanh hơn, lợn khỏi tập trung ở ngày thứ 2 và thứ 3 (chiếm tổng cộng 74%). Phác đồ 2 cho tỷ lệ khỏi tản mạn hơn và kéo dài sang ngày thứ 5. Tỷ lệ tái phát sau điều trị ở Phác đồ 1 (4,08%) thấp hơn so với Phác đồ 2 (6,25%).
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã cung cấp hệ thống số liệu dịch tễ và lâm sàng thực tế về bệnh suyễn lợn tại một cơ sở chăn nuôi gia công quy mô lớn:
- Tỷ lệ lưu hành bệnh suyễn trên đàn lợn hậu bị tại trại ông Oai đạt mức 8,9% đến 15,12% tùy theo thời điểm; lứa tuổi 4 - 5 tháng tuổi có tỷ lệ mắc cao nhất (15,12%).
- Khẳng định tỷ lệ chết do bệnh suyễn đơn thuần hoặc kế phát ở mức thấp (2 - 4% trong nhóm thí nghiệm điều trị; 3% tính chung trên 100 con thí nghiệm), phù hợp với các nhận định quốc tế rằng thiệt hại kinh tế chủ yếu bắt nguồn từ tình trạng còi cọc và chi phí thức ăn/thuốc kéo dài chứ không phải từ tỷ lệ chết tức thời.
- Xác định hiệu lực điều trị vượt trội của phác đồ sử dụng Tylogenta (kết hợp Tylosin tartrate và Gentamycin Sulfate) với tỷ lệ khỏi 98%, thời gian điều trị trung bình 2,89 ngày và tỷ lệ tái phát chỉ 4,08%.
- Tác giả đề xuất quy trình phòng trừ tổng hợp thích ứng cho trại kín: duy trì vành đai cách ly tối thiểu 10 m giữa các khu vực (khu lợn khỏe, khu nghi ngờ, khu lợn ốm); tiêu độc chuồng trại bằng dung dịch xút (NaOH) 2% ở nhiệt độ 60 °C hoặc nước vôi 15%, quét vôi định kỳ nền chuồng và rải vôi bột khử trùng sân chơi với định mức 0,2 kg/m²; kết hợp chế độ sưởi ấm, thông gió tránh ẩm độ cao trong mùa chuyển rét.
So với các tài liệu trước đây chủ yếu dừng lại ở mô tả vi khuẩn học hoặc thử nghiệm kháng sinh đơn thuần trong phòng thí nghiệm, công trình này đóng góp thực tiễn chẩn đoán và điều trị trực tiếp trên đàn lợn lai 3 máu ngoại nhập tại điều kiện chuồng trại vùng trung du phía Bắc.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận ghi nhận một số tồn tại do tác giả tự xác định:
- Do điều kiện hạn chế về thời gian thực tập và kinh phí nghiên cứu, đề tài mới chỉ được triển khai thực hiện tại phạm vi một trang trại chăn nuôi đơn lẻ (trại ông Oai) với quy mô theo dõi 1.100 con/lứa trong vòng 5 tháng cuối năm 2014.
- Tác giả lần đầu thực hiện nghiên cứu khoa học thực nghiệm nên chưa kiểm soát triệt để toàn bộ các biến số ngoại cảnh tác động đến quá trình thí nghiệm (như sai sót chăm sóc của công nhân, biến động bất thường của tiểu khí hậu chuồng nuôi giữa các ngày mưa rét).
- Các kết luận dịch tễ và điều trị đưa ra mới mang tính chất bước đầu và sơ bộ.
Hướng nghiên cứu tiếp theo được tác giả đề xuất là cần mở rộng việc khảo sát trên phạm vi nhiều trang trại với quy mô đàn lớn hơn, đồng thời theo dõi xuyên suốt toàn bộ chu kỳ 12 tháng trong năm để đánh giá chính xác tính chất mùa vụ và hiện tượng kháng kháng sinh lâu dài của mầm bệnh.
Giá trị tham khảo
Bản khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho:
- Sinh viên chuyên ngành Thú y, Chăn nuôi - Thú y: Tham khảo cách bố trí các phác đồ điều trị so sánh trên lâm sàng, phương pháp tính toán các chỉ tiêu dịch tễ học thú y và kỹ thuật ghi chép bệnh án tại trại.
- Kỹ sư chăn nuôi và kỹ thuật viên tại các trang trại nuôi lợn công nghiệp: Vận dụng phác đồ kết hợp giữa kháng sinh tác động đường hô hấp (Tylosin + Gentamycin hoặc Tiamutilin) với thuốc hạ sốt giảm đau (Dipyrone) và chất điện giải chống sốc (Vitamin C, Acid Citric) nhằm nâng cao tỷ lệ hồi phục và rút ngắn chu kỳ điều trị lợn bệnh.
- Các nhà quản lý trang trại liên kết gia công: Tham khảo mô hình quy hoạch chuồng trại kín, thông gió cưỡng bức và hệ thống an toàn sinh học phân khu ngăn ngừa lây nhiễm chéo Mycoplasma.
Câu hỏi thường gặp
1. Thành phần và liều dùng của hai phác đồ điều trị thử nghiệm trong khóa luận là gì?
Phác đồ 1 sử dụng kháng sinh Tylogenta (chứa Tylosin tartrate và Gentamycin Sulfate) tiêm bắp liều 1 ml/10 kg thể trọng/lần/ngày; kết hợp Anazine 20% (Dipyrone) tiêm bắp liều 1 ml/10 kg thể trọng/lần/ngày và Vitamin C Antistress liều 1 g/50 kg thể trọng (hoặc 1 g/2 - 4 lít nước uống). Phác đồ 2 sử dụng kháng sinh Dynamutilin 20% (chứa Tiamutilin Hydrogen Fumarate) tiêm bắp liều 1 ml/20 kg thể trọng/lần/ngày; kết hợp hạ sốt Anazine 20% và Vitamin C Antistress cùng liều lượng như phác đồ 1.
2. Tỷ lệ mắc bệnh suyễn tại trại diễn biến như thế nào theo các tháng theo dõi và thời điểm nào cao nhất?
Tỷ lệ mắc bệnh trong 5 tháng cuối năm 2014 lần lượt là: tháng 6 đạt 8,90%; tháng 7 đạt 10,29%; tháng 8 đạt 11,68%; tháng 9 đạt 13,11%; tháng 10 đạt 15,12%; tháng 11 đạt 9,33%. Tỷ lệ mắc cao nhất rơi vào tháng 10 (15,12%) do sự thay đổi thời tiết khi chuyển mùa thu sang đông, biên độ nhiệt ngày đêm lớn, ban đêm lạnh và sương ẩm nhiều.
3. Giai đoạn tuổi nào của lợn thịt hậu bị có nguy cơ mắc bệnh suyễn cao nhất?
Tỷ lệ mắc bệnh theo lứa tuổi ghi nhận: 21 ngày đến 2 tháng tuổi là 10,29%; 2 - 3 tháng tuổi là 11,68%; 3 - 4 tháng tuổi là 13,11%; 4 - 5 tháng tuổi là 15,12%; 5 - 6 tháng tuổi là 9,33%. Như vậy, giai đoạn lợn từ 4 đến 5 tháng tuổi có tỷ lệ mắc cao nhất (15,12%).
4. Hiệu quả điều trị giữa thuốc Tylogenta và Dynamutilin 20% chênh lệch ra sao?
Cả hai phác đồ đều cho hiệu quả cao, nhưng Tylogenta chiếm ưu thế: đạt tỷ lệ khỏi 98,00% (49/50 con), thời gian điều trị trung bình 2,89 ngày và tỷ lệ tái phát 4,08%. Dynamutilin 20% đạt tỷ lệ khỏi 96,00% (48/50 con), thời gian điều trị trung bình 3,18 ngày và tỷ lệ tái phát 6,25%.
5. Biện pháp tiêu độc sát trùng chuồng trại định kỳ được cơ sở thực hiện bằng những hóa chất nào?
Trang trại sử dụng hóa chất Novacine để phun sát trùng (tỷ lệ 1/3200 cho người, 1/400 cho phương tiện ra vào và 1/1600 cho chuồng có lợn), phun trong chuồng 1 lần/2 ngày và ngoài chuồng 1 lần/ngày. Đường đi và hành lang vận chuyển cám được quét vôi 1 lần/tuần; hố sát trùng tại lối ra vào được thay thuốc định kỳ 3 ngày/lần. Ngoài ra, quy trình phòng dịch nghiêm ngặt áp dụng dung dịch xút (NaOH) 2% ở 60 °C hoặc nước vôi 15% cùng vôi bột rải sân chơi với định mức 0,2 kg/m².
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Nguyễn Văn Anh đã hoàn thành việc khảo sát đặc điểm dịch tễ và tình hình mắc bệnh suyễn do Mycoplasma hyopneumoniae trên đàn lợn thịt hậu bị nuôi công nghiệp tại trại liên kết CP thuộc huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên. Kết quả nghiên cứu xác định rõ quy luật biến động của bệnh theo tháng và lứa tuổi, ghi nhận đầy đủ các biến đổi lâm sàng cùng bệnh tích đại thể đặc trưng ở phổi. Đồng thời, nghiên cứu đã chứng minh hiệu lực điều trị vượt trội của phác đồ kết hợp kháng sinh Tylogenta với thuốc trợ sức hạ sốt, cung cấp căn cứ thực tiễn quan trọng cho công tác kiểm soát dịch bệnh và nâng cao hiệu quả chăn nuôi lợn tại địa phương.