Chương 1: Cơ sở lý thuyết về TCTC và điều kiện thực hiện TCTC đối với BVTH. Chương 2: Thực trạng về các điều kiện cho TCTC ở bệnh viện Mỹ Đức. Chương 3: Các giải pháp tăng cường các điều kiện thực hiện cơ chế TCTC tại bệnh viện Mỹ Đức. 10 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH VÀ ĐIỀU KIỆN THỰC HIỆN TỰ CHỦ TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI BỆNH VIỆN TUYẾN HUYỆN 1.Khái quát về y tế công lập và bệnh viện tuyến huyện 1.Hệ thống tổ chức y tế Mạng lưới hệ thống y tế công lập ở Việt Nam hiện nay được cấu trúc theo 4 cấp tương ứng với phân cấp hệ thống hành chính Nhà nước.
Sơ đồ tổ chức hệ thống y tế (Nguồn: JAHR 2007) 11 Tổ chức hệ thống y tế nước ta xây dựng theo nguyên tắc (JAHR, 2007): “1) Phục vụ nhân dân tốt và hiệu quả cao. 2) Xây dựng theo hướng dự phòng chủ động và tích cực 3) Các cơ sở y tế xây dựng phù hợp với tình hình kinh tế địa phương, với trình độ kỹ thuật và khả năng quản lý. 4) Đảm bảo không ngừng nâng cao chất lượng phục vụ” “Trong hệ thống tổ chức y tế, tuyến Trung ương và tuyến tỉnh thuộc khu vực y tế chuyên sâu, có nhiệm vụ sử dụng các kỹ thuật cao cấp trong điều trị, tập trung vào các hoạt động nghiên cứu khoa học và chỉ đạo chuyên môn cho tuyến dưới. Tuyến huyện và tuyến xã thuộc khu vực y tế phổ cập với nhiệm vụ chính là đảm bảo đáp ứng mọi nhu cầu chăm sóc sức khoẻ ban đầu, sử dụng các kỹ thuật thông thường, phổ biến nhưng có tác dụng tốt.
Ở một số địa phương, tuyến tỉnh vẫn đảm nhiệm cả nhiệm vụ của khu vực y tế ban đầu” (Nguyễn Duy Luật, 2006).Bệnh viện công lập và bệnh viện tuyến huyện Nhiều thành tựu y học ra đời làm đã thay đổi quan niệm bệnh viện trong thời đại mới. WHO: “Bệnh viện là một bộ phận của tổ chức mang tính chất y học và xã hội, có chức năng đảm bảo cho nhân dân được săn sóc toàn diện về y tế cả chữa bệnh và phòng bệnh. Công tác ngoại trú của bệnh viện toả tới tận gia đình đặt trong môi trường của nó. Bệnh viện còn là trung tâm giảng dạy y học và nghiên cứu sinh vật xã hội” (Nguyễn Duy Luật, 2006).
Quan điểm này của WHO cho thấy bệnh viện không độc lập mà đảm nhiệm một chức năng rộng lớn, gắn bó hài hoà giữa y tế và xã hội. Tổng cục thống kê Việt Nam (2014, tr.7) định nghĩa: “Bệnh viện là cơ sở y tế được tổ chức có các chuyên khoa, có phòng mổ, phòng xét nghiệm, có các phương tiện phục vụ cho việc chẩn đoán bệnh, có đội ngũ cán bộ y tế gồm các bác sĩ, y sĩ, y tá… Bệnh viện có chức năng chăm sóc sức khoẻ nhân dân, khám, chữa bệnh nội, ngoại trú; phòng bệnh, giáo dục sức khoẻ; nghiên cứu và đào tạo cán bộ”. 12 Nghị định 85/2012/NĐ-CP định nghĩa BVCL: “là tổ chức do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thành lập và quản lý theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, con dấu, tài khoản và tổ chức bộ máy kế toán theo quy định của pháp luật về kế toán để thực hiện nhiệm vụ cung cấp dịch vụ công hoặc phục vụ quản lý nhà nước trong các lĩnh vực chuyên môn y tế như: Y tế dự phòng; khám bệnh, chữa bệnh; điều dưỡng và phục hồi chức năng; giám định y khoa, pháp y, pháp y tâm thần; y dược cổ truyền; kiểm nghiệm dược, mỹ phẩm, trang thiết bị y tế; an toàn vệ sinh thực phẩm; dân số - kế hoạch hóa gia đình; sức khỏe sinh sản; truyền thông giáo dục sức khỏe”. Tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu, BVCL có thể phân loại dựa trên nhiều tiêu chí khác nhau.
Để phù hợp với nghiên cứu, bên cạnh tiêu chí “mức tự đảm bảo kinh phí hoạt động”, luận văn còn sử dụng tiêu chí phân loại BVCL theo “phân cấp quản lý dựa trên hệ thống hành chính”. Lương Ngọc Khuê (2014) chia BVCL ở nước ta làm 3 tuyến: “Tuyến trung ương có các bệnh viện đa khoa, chuyên khoa thuộc Bộ Y tế có chức năng điều trị các tuyến cuối với các can thiệp chuyên khoa sâu với những kỹ thuật phức tạp và hiện đại. Tuyến tỉnh gồm các bệnh viện đa khoa, chuyên khoa thuộc tỉnh, thành phố trong đó có một số bệnh viện đóng vai trò như bệnh viện tuyến cuối của khu vực. Các bệnh viện chuyên khoa tuyến tỉnh hiện nay chủ yếu là bệnh viện lao, tâm thần, y học cổ truyền….
Tuyến huyện gồm các bệnh viện quận, huyện, thị xã là các bệnh viện đa khoa hoặc đa khoa khu vực liên huyện thuộc tuyến đầu trong hệ thống bệnh viện, đóng vai trò chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân trong khu vực. Ngoài ra còn có các bệnh viện trực thuộc các Bộ, Ngành khác phục vụ công tác khám, chữa bệnh cho cán bộ công chức, viên chức các ngành và đồng thời kết hợp phục vụ nhân dân. Các bệnh viện ngoài công lập (tư nhân, dân lập, vốn đầu tư nước ngoài…) chỉ phát triển mạnh ở những địa phương có điều kiện kinh tế, xã hội thuận lợi và người dân có khả năng chi trả”. Sơ đồ hệ thống bệnh viện công lập Việt Nam (Nguồn: Nguyễn Duy Luật, 2006) Thông tư 23/2005/TT-BYT chia bệnh viện công lập thành 5 hạng dựa theo chức năng nhiệm vụ, quy mô giường bệnh và khả năng chuyên môn kỹ thuật: từ hạng 4 đến hạng đặc biệt.
Như vậy, BVTH là: “cơ sở khám chữa bệnh thuộc Sở Y tế tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm khám bệnh, chữa bệnh cho nhân dân một huyện hoặc một số huyện, quận. Bệnh viện tuyến huyện có đội ngũ cán bộ chuyên môn, trang thiết bị và cơ sở hạ tầng phù hợp với tình hình kinh tế-xã hội của địa phương”(Quyết định số 1895/1997/QĐ-BYT). Các BVTH thường xếp hạng 4 đến hạng 2. 14 BVTH tuỳ vào hạng bệnh viện sẽ có số phòng ban chức năng và khoa chuyên môn khác nhau nhưng nhìn chung các BVTH sẽ có cơ cấu tổ chức như sau: Giám đốc Phó Giám đốc Các phòng Các khoa Các khoa Chức năng lâm sàng cận lâm sàng Hình 1.
Cơ cấu tổ chức của bệnh viện tuyến huyện (Nguồn: Quy chế bệnh viện) Theo phân cấp về chuyên môn (Quyết định số 1895/1997/QĐ-BYT): “Bệnh viện tuyến huyện thực hiện các chức năng, nhiệm vụ chính: - Cấp cứu, khám bệnh, chữa bệnh là nhiệm vụ quan trọng nhất của bệnh viện tuyến huyện. Mục tiêu của nhiệm vụ này là khám và chẩn đoán đúng bệnh, sớm, điều trị đúng, kịp thời, chăm sóc điều dưỡng phù hợp, tránh được các tai nạn điều trị, phục hồi chức năng nhanh, mau chóng trả bệnh nhân về với cuộc sống lao động, sản xuất và sinh hoạt bình thường càng sớm càng tốt. - Đào tạo cho mọi cán bộ của bệnh viện, không ngừng nâng cao kiến thức và khả năng về chuyên môn hoặc cử cán bộ đi học chuyên khoa sâu ngoài khả năng đào tạo của bệnh viện tuyến huyện. Ngoài ra bệnh viện còn có trách nhiệm đào tạo sinh viên và học viên y khoa, đào tạo cán bộ cho tuyến xã về chuyên môn nghiệp vụ.
- Nghiên cứu khoa học về y học. 15 - Chỉ đạo tuyến dưới (phòng khám đa khoa, y tế xã/phường/thị trấn/thôn bản) về chuyên môn, kỹ thuật - Phối hợp với các cơ sở y tế dự phòng thường xuyên thực hiện nhiệm vụ phòng bệnh, phòng dịch và tuyên truyền, giáo dục sức khoẻ cho cộng đồng - Tham gia các chương trình hợp tác quốc tế với các tổ chức và cá nhân ở ngoài nước theo quy định của Nhà nước. - Hợp tác kinh tế y tế.” BVTH được coi là tuyến bệnh viện gần gũi nhất với nhân dân, cung cấp các DVYT có chất lượng với chi phí phù hợp ngay tại địa phương. Dưới góc độ chuyên môn y tế, hoàn thiện và phát triển BVTH sẽ giúp giảm gánh nặng cho bệnh viện tuyến tỉnh và Trung ương.Tài chính trong bệnh viện tuyến huyện 1.
Khái niệm tài chính bệnh viện Khái niệm tài chính: “là các quan hệ kinh tế trong phân phối tổng sản phẩm xã hội dưới hình thức giá trị, thông qua đó tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ, nhằm đáp ứng yêu cầu tích luỹ và tiêu dùng của các chủ thể trong nền kinh tế. Các quan hệ tài chính hoạt động trên các lĩnh vực khác nhau nhưng có mối liên hệ tác động lẫn nhau theo những quy luật nhất định tạo nên hệ thống tài chính của một quốc gia” (Lý thuyết Tài chính tiền tệ 2002, tr. Dựa trên khái niệm này WHO: “tài chính là một chức năng của hệ thống y tế, thực hiện việc huy động, tập hợp và phân bổ nguồn kinh phí cho nhu cầu chăm sóc sức khoẻ của cá nhân và cộng đồng”. Lương Ngọc Khuê (2014): “Hệ thống tài chính y tế là một bộ phận của hệ thống tài chính quốc gia hoạt động trong lĩnh vực y tế”.
Trần Thế Cương (2016): “tài chính BVCLđược hiểu là hệ thống quan hệ kinh tế giữa bệnh viện công lập với Nhà nước và các chủ thể kinh tế khác trong quá trình tạo lập, phân phối, sử dụng các quỹ tiền tệ, đảm bảo sự phát triển không ngừng của bệnh viện công lập nhằm thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ Nhà nước giao trong thời gian nhất định”. 16 Thông qua quan điểm về tài chính trong bệnh viện của một số tác giả, có thể khẳng định tài chính trong y tế là các quan hệ kinh tế giữa cơ sở y tế với các chủ thể kinh tế khác trong nền kinh tế thị trường. Chỉ khi nguồn tài chính đủ và bền vững thì hệ thống y tế mới đạt được các mục tiêu y tế. JAHR (2008): “Nguồn tài chính cho y tế của Việt Nam hiện nay đến từ 4 kênh chính thức là: 1) Ngân sách Nhà nước cấp hằng năm được phân bổ thông qua ngân sách Trung ương và ngân sách địa phương.
2) Bảo hiểm y tế trong đó: BHYT thương mại là hình thức BHYT có mục tiêu kinh doanh vì lợi nhuận, tham gia tự nguyện, mức đóng góp theo xác suất rủi ro bệnh tật, quyền lợi theo mức đóng. BHYT xã hội là hình thức BHYT bắt buộc, mức đóng góp theo khả năng tài chính, quyền lợi không phụ thuộc vào mức đóng mà căn cứ vào tình trạng sức khoẻ. 3) Viện phí: bao gồm tiền chi trả trực tiếp của người sử dụng dịch vụ y tế cho người cung ứng dịch vụ, tiền cùng chi trả với BHYT và các khoản chi trả khác. 4) Viện trợ nước ngoài cho y tế”.