Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tầm quan trọng của Khu bảo tồn thiên nhiên KBTTN có tầm quan trọng nhiều mặt đối với đời sống con người, phát triển kinh tế xã hội, bảo vệ môi trường tự nhiên và quan trọng nhất là bảo tồn các giá trị đa dạng sinh học ở mỗi nước và trên thế giới. Tầm quan trọng của các KBTTN được thể hiện qua các chức năng sau: 1) Đóng vai trò chủ chốt trong bảo tồn đa dạng sinh học Tổ chức IUCN (1994) đã đưa ra định nghĩa về KBTTN như sau: “Khu bảo tồn thiên nhiên là các vùng đất và/hoặc vùng biển được giành riêng để bảo vệ đa dạng sinh học, các nguồn tài nguyên thiên nhiên và văn hoá đi kèm; được quản lý bằng các công cụ luật pháp hoặc các phương thức quản lý có hiệu quả khác”. Như vậy, IUCN đã khẳng định bảo tồn đa dạng sinh học là chức năng hàng đầu của các KBTTN.
Công ước Đa dạng sinh học (1992) cũng đã xác định các KBTTN là công cụ hữu hiệu để bảo tồn đa dạng sinh học. Công ước đã quy định các nước tham gia Công ước Đa dạng sinh học có trách nhiệm thành lập hệ thống các KBTTN, xây dựng các hướng dẫn lựa chọn, thành lập và quản lý các KBTTN và quản lý các tài nguyên sinh học bên trong các KBTTN để đảm bảo duy trì và sử dụng bền vững. 2) Cung cấp các dịch vụ sinh thái góp phần bảo vệ môi trường thiên nhiên Các KBTTN góp phần duy trì các chức năng dịch vụ môi trường của các hệ sinh thái tự nhiên như: 4 - Góp phần bảo vệ các chu trình thuỷ văn và các vùng đầu nguồn đảm bảo sự hoạt động bình thường của các công trình thủy điện, thủy lợi và cung cấp nước ở vùng hạ du. - Giảm bớt cường độ bão, lũ lụt, hạn hán, chống xói mòn đất, bảo vệ bờ biển khỏi bị sói lở,.
- Góp phần cải tạo đất và chuyển hóa các chất dinh dưỡng. - Góp phần điều hoà khí hậu địa phương và toàn cầu, đặc biệt làm giảm lượng khí thải CO2 vào khí quyển gây biến đổi khí hậu toàn cầu. Theo ước tính hệ thống các KBTTN thế giới hấp thụ khoảng 15% tổng lượng khí CO2 thải ra trên 6 đất liền (312 Giga tấn). Ở Canađa, 39 VQG hàng năm hấp thụ trên 4 tỷ tấn CO2 , tương đương 39 - 87 tỷ đô la tiền tín dụng CO2.
3) Đóng góp quan trọng vào phát triển kinh tế xã hội Tại Hội nghị thượng đỉnh về Công ước Đa dạng sinh học năm 1992, các chính phủ đã công nhận các KBTTN là các đơn vị kinh tế đóng vai trò quan trọng trong xóa đói giảm nghèo, duy trì hệ sinh thái và hỗ trợ môi trường sống của các cộng đồng trên thế giới. Nếu biết quản lý khai thác, các KBTTN cũng có thể là đơn vị tạo ra thu nhập, đóng góp quan trọng vào phát triển kinh tế. Ví dụ, tại Canađa, các hoạt động tại các KBTTN đã đem lại khoảng 6,5 tỷ đô la Canađa mỗi năm, tạo ra 1590.000 chỗ làm và đóng góp 2,5 triệu đô la Canađa tiền thuế cho Chính phủ. Tại Úc, 8 VQG đã thu được 2 tỷ đô la Úc mỗi năm và đóng 60 triệu đô la thuế cho Chính phủ (IUCN Việt Nam, 2009).
Các đóng góp kinh tế của KBTTN có thể kể như: - Cung cấp các lâm sản (chủ yếu là lâm sản ngoài gỗ) làm vật liệu xây dựng, sản xuất đồ gia dụng, cung cấp nguồn thực phẩm và dược phẩm,. - Tạo môi trường phát triển du lịch: Sự hấp dẫn về mặt thẩm mỹ và vẻ đẹp của các loài sinh vật hoang dã ngoài thiên nhiên mang lại những lợi ích kinh tế đáng kể cho đất nước và người dân địa phương thông qua phát triển hình thức du lịch thiên nhiên. 5 - Tạo sinh kế cho người nghèo: Các KBTTN đáp ứng phần lớn các nhu cầu cơ bản của người nghèo ở nông thôn như lương thực, chất đốt, thuốc chữa bệnh và nước sinh hoạt. Đối với nhiều vùng xa xôi hẻo lánh, các KBTTN giữ vai trò như "kho dự trữ thức ăn" khi thiếu đói.
Các KBTTN còn duy trì các chức năng sinh thái như ngăn chặn thiên tai mà người nghèo là đối tượng dễ bị ảnh hưởng nhất. Theo Báo cáo môi trường 2005 về Đa dạng sinh học của Bộ TN&MT (2005) có khoảng 25 triệu người Việt Nam sống dựa vào các hệ sinh thái rừng; khoảng 8 triệu người có nguồn thu nhập chính của hộ gia đình phụ thuộc vào khai thác thủy, hải sản và 12 triệu người khác có một phần thu nhập từ ngư nghiệp. - Duy trì các giá trị văn hóa - tinh thần: Hệ thống các KBTTN cũng góp phần bảo vệ các di tích lịch sử - văn hóa quan trọng của quốc gia, duy trì cuộc sống của các dân tộc thiểu số với các truyền thống văn hóa đặc sắc, bảo vệ các khu thắng cảnh thiên nhiên tạo điều kiện tổ chức các hoạt động tham quan thưởng thức vẻ đẹp thiên nhiên, giảm stress và tạo sự thoải mái tinh thần. - Cung cấp địa bàn cho rất nhiều các nghiên cứu khoa học về các chuyên đề sinh thái học, xã hội học và kinh tế học.
Khái quát về Vườn quốc gia Tam Đảo 1. Vị trí địa lý và diện tích của VQG Tam Đảo VQG Tam Đảo trải dài từ 21021′ đến 21042′ vĩ độ Bắc và 105023′ đến 105044′ kinh độ Đông, nằm trên địa phận 3 tỉnh: Vĩnh Phúc, Thái Nguyên, Tuyên Quang. Đây là một dãy núi lớn dài 80 km, chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, từ huyện Sơn Dương (Tuyên Quang) đến huyện Mê Linh (Vĩnh Phúc). Trung tâm VQG Tam Đảo cách thủ đô Hà Nội 75 km về phía Tây Bắc, cách thị xã Vĩnh Yên 13 km về phía Bắc.
Diện tích hiện nay của VQG Tam Đảo là 34. Ranh giới VQG Tam Đảo được xác định từ độ cao 100m (so với mực nước biển) trở lên và được chia làm 3 phân khu chính như sau: 6 - Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt: 17.295 ha nằm ở độ cao 400m trở lên (trừ khu nghỉ mát Tam Đảo). Đây là khu vực còn rừng tự nhiên và là nơi cư trú chủ yếu của các loài động vật hoang dã. - Phân khu phục hồi sinh thái: 15.398 ha, nằm bao quanh phân khu bảo vệ nghiêm ngặt.
Trước đây, rừng tự nhiên ở đây bị khai thác nhiều lần và nhiều diện tích đã bị mất rừng. Đến nay, rừng đã phát triển tốt, góp phần bảo vệ môi trường và phòng hộ đầu nguồn cho khu vực Tam Đảo. - Phân khu nghỉ mát, du lịch: 2.302 ha, nằm ở sườn Tây Bắc Tam Đảo (thuộc địa phận tỉnh Vĩnh Phúc), bao quanh thị trấn Tam Đảo và hệ thủy của 2 suối Thác Bạc và Đồng Bùa. Trong phân khu có cả rừng tự nhiên và rừng trồng để tạo cảnh quan đẹp và môi trường sinh thái cho khu du lịch.
Mục tiêu quản lý của VQG Tam Đảo Ngày 06/03/1996, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 136/TTg phê duyệt dự án khả thi xây dựng VQG Tam Đảo. Trong Quyết định này, các mục tiêu quản lý của VQG Tam Đảo được xác định như sau: - Bảo vệ nguyên vẹn các hệ sinh thái rừng trên núi Tam Đảo, nguồn gen các loài động thực vật rừng quý hiếm, đặc biệt các loài đặc hữu, các loài bị đe dọa và cảnh quan thiên nhiên. - Thực hiện công tác nghiên cứu, thực nghiệm khoa học và dịch vụ kỹ thuật, tạo môi trường tốt phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học, du lịch và nghỉ mát. - Tổ chức công tác tuyên truyền, giáo dục cho cộng đồng lòng yêu thiên nhiên và ý thức bảo vệ rừng và đa dạng sinh học.
- Thực hiện vai trò lưu trữ và điều tiết nguồn nước của khu vực đầu nguồn, chống ô nhiễm, góp phần cải thiện môi sinh cho vùng đồng bằng Trung du Bắc Bộ và Thủ đô Hà Nội. 7 - Phối hợp xây dựng chương trình du lịch sinh thái và thực hiện các hoạt động dịch vụ tham quan du lịch và nghỉ mát. - Góp phần ổn định và nâng cao đời sống nhân dân trong vùng đệm VQG. Các kiểu thảm thực vật VQG Tam Đảo có các kiểu rừng chính sau: Kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới; Kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới núi thấp; Kiểu rừng lùn trên đỉnh núi; Một số kiểu rừng khác.
a) Rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới Kiểu rừng này thường phân bố ở độ cao dưới 800m, nhưng do ảnh hưởng của độ dốc, hướng phơi mà loại rừng này có thể phân bố ở độ cao 900 - 1000m. Kiểu rừng này bao phủ phần lớn dãy núi Tam Đảo với những loài cây có giá trị kinh tế như chò chỉ (Shoera chinensis), giổi (Michelia sp.), re (Cinnamomum sp.)… b) Rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới núi thấp Rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới núi thấp ở Tam Đảo phân bố từ độ cao 800m trở lên nhưng đôi khi phân bố trên 900m. Thực vật bao gồm các loài họ re (Lauraceae), họ dẻ (Fagaceae), họ chè (Theaceae), họ mộc lan (Magnoliaceae), họ sau sau (Hamamelidaceae). Đây là vành đai của những loài cây thuộc khu hệ á nhiệt đới, còn được gọi là vành đai mây.
Không khí luôn ở tình trạng bão hoà hơi nước, nên tạo điều kiện thuận lợi cho rêu và địa y phát triển. Từ độ cao 1000m, trở lên xuất hiện một số loài cây thuộc ngành Hạt Trần như thông nàng (Dacrycarpus imbricatus), pơ mu (Fokienia hodginsii), thông tre (Podocarpus neriifolius). Ngoài ra, còn thấy các loài thông yên tử (Podocarpus pilgeri), và kim giao (Nageia fleuryi). 8 Dưới tán kiểu rừng này thường có vầu đắng.
Lên cao hơn nữa là sặt gai (Arundinaria giffithiana) mọc dày đặc dọc theo các dông núi. Ven theo các sườn núi thường có các loài cây bụi thuộc họ cà phê (Rubiaceae), họ đơn nem (Myrsinaceae), họ thầu dầu (Euphorbiaceae)… c) Rừng lùn trên đỉnh núi Rừng lùn trên đỉnh núi là một kiểu phụ đặc thù của rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới núi thấp được hình thành trên các đỉnh dông dốc hay các đỉnh núi cao đất xương xẩu, nhiều nắng gió, mây mù thường xuyên bao phủ. Cây cối ở đây thường thấp bé, phát triển chậm, thân và cành được địa y và rêu bao phủ. Đất dưới tầng rừng khá mỏng nhưng có tầng thảm mục khá dày (ở một số nơi như đỉnh Rùng Rình, tầng thảm mục có thể dày hơn 1m).
Thực vật chủ yếu là các loài cây thuộc họ đỗ quyên (Ericaceae), họ re (Lauraceae), họ dẻ (Fagaceae), họ hồi (Liciaceae), họ thích (Aceraceae)… Chủ yếu gặp ở dông và đỉnh núi cao trên 1000m, nơi có điều kiện khí hậu khắc nghiệt.